Tóm tắt: Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng. Hội nghị Trung ương 7, khóa X ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, xác định Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới nhằm phát triển toàn diện nông thôn Việt Nam. Qua đó, diện mạo nông thôn Việt Nam có nhiều khởi sắc, trong đó công tác xây dựng nông thôn mới ở các vùng đặc biệt khó khăn trong những năm 2016-2020, đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo đà cho việc tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở những địa bàn này trong giai đoạn tiếp theo.
Từ khóa: Xây dựng nông thôn mới; vùng đặc biệt khó khăn
1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, các kỳ đại hội, HNTƯ của Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân. Đặc biệt, Đại hội X (4-2006), Đảng chủ trương: “Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh”1. Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, ngày 5-8-2008, HNTƯ7 khóa X ra Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”2. Trong mục tiêu tổng quát, Nghị quyết số 26-NQ/TW nêu: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn”3. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 28-10-2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về “Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”. Ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”, gồm 19 tiêu chí cụ thể cho xã nông thôn mới (NTM). Bộ tiêu chí chính là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về xây dựng NTM. Ngày 4-6-2010, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015, Đại hội XII (2016) của Đảng xác định: “Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 khoảng 40-50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù từng vùng”4; “có chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và hải đảo”5.
Để chương trình xây dựng NTM thiết thực và phù hợp hơn trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản. Đáng chú ý là: Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16-8-2016 “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”; Quyết định số 1980/QĐ-TTg, ngày 17-10-2016 “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020” (gồm 19 tiêu chí, các tiêu chí có nhiều thay đổi chi tiết, cụ thể hơn); Quyết định số 1760/QĐ-TTg, ngày 10-11-2017 “Điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16-8-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”; Quyết định số 691/QĐ-TTg, ngày 5-6-2018 “Ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020”.
Về địa bàn đặc biệt khó khăn: Theo Quyết định số 900/QĐ-TTg, ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ, địa bàn đặc biệt khó khăn (ĐBKK) khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo là những địa bàn rộng, trải dài có tính chiến lược về vị trí địa lý chính trị, an ninh quốc phòng. Đây chủ yếu là những địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi, ven biển và hải đảo, địa hình bị chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, tỷ lệ đất nông nghiệp thấp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt; địa giới hành chính xa với các trung tâm văn hóa, chính trị, đi lại khó khăn, ít có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ phúc lợi xã hội. Mật độ dân cư thưa thớt, trình độ dân trí không đồng đều, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu, nền tảng sản xuất manh mún, chất lượng tăng trưởng chưa thật sự bền vững; chuyển dịch cơ cấu còn chậm; sản xuất nông nghiệp chưa vững chắc... Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội vùng ĐBKK là chủ trương lớn, luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước trong định hướng, chỉ đạo, bố trí nguồn lực.
Ngày 21-10-2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1385/QĐ-TTg “Phê duyệt Đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018-2020”. Đề án được thực hiện trên địa bàn các thôn, xóm, bản, buôn, ấp thuộc các xã ĐBKK, đạt dưới 10 tiêu chí NTM (tính đến ngày 31-12-2017) khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, trong đó bao gồm các xã thuộc phạm vi của các Đề án xây dựng NTM vùng đặc thù đã được Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền phê duyệt. Phạm vi của Đề án: Thực hiện hỗ trợ cho khoảng 3.513 thôn, bản, ấp của 363 xã khó khăn đạt dưới 10 tiêu chí khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo của 36 tỉnh6.
Những chủ trương, chính sách trên của Đảng và Nhà nước đã cho thấy Chương trình MTQG xây dựng NTM là một nội dung quan trọng để hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.
2. Một số kết quả bước đầu
Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 ở vùng ĐBKK đã đạt được một số kết quả.
Tính đến hết tháng 11-2020, có 8/64 huyện nghèo thoát khỏi tình trạng ĐBKK và 14/30 huyện nghèo được hưởng cơ chế theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP “Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo” (27-12-2008) thoát khỏi tình trạng khó khăn; 15/108 xã (13,9%) thuộc 4 Đề án xây dựng NTM đặc thù (Điện Biên, Lào Cai, Bắc Kạn, Nghệ An) đã đạt chuẩn NTM; 130/1.111 xã thuộc 85 huyện nghèo (Chương trình 30a) được công nhận đạt chuẩn NTM; 337/3.513 thôn, bản ĐBKK thuộc Đề án 1385 được công nhận đạt chuẩn NTM (đạt 9,6%)7.
Công tác quy hoạch bố trí, sắp xếp ổn định dân di cư tự do có nhiều chuyển biến rõ nét. Trong giai đoạn 2015-2020, tình trạng dân di cư tự do các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên chỉ còn 3.307 hộ, giảm 10 lần so với trước năm 2015. Các địa phương đã hoàn thành 17 dự án bố trí dân di cư tự do, 48 dự án đang thực hiện và 11 dự án mới, với tổng số hộ dân di cư tự do đã được bố trí, sắp xếp ổn định vào các điểm dân cư 6.566 hộ8.
Hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn vùng ĐBKK, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được quan tâm đầu tư, góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt và sản xuất của người dân. Nhà nước chú trọng đầu tư cấp điện cho các hộ dân chưa có điện tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và biên giới, các xã đảo, huyện đảo nhằm góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội. Tập đoàn điện lực EVN hoàn thành việc tiếp nhận quản lý và bán điện tại 11/12 huyện đảo9 đảm bảo cấp điện ổn định, liên tục 24/24h. Các địa phương vùng ĐBKK có 6.221 xã (89,9%) đạt tiêu chí về Điện10.
Các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng 75-80% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây trồng hằng năm. Nhiều mô hình chuyển đổi sang tưới nước chủ động, tưới tiết kiệm, góp phần thúc đẩy chuyển đổi từ các diện tích hoang hóa, trồng rừng hiệu quả thấp sang khai thác hiệu quả vùng đất dốc hình thành nên các vùng cây trồng lâu năm quy mô lớn có giá trị kinh tế cao. Đến tháng 11-2020, ở vùng ĐBKK, 89,7% số xã đạt tiêu chí số 3 về thủy lợi so với cả nước đạt 93,3%.
Về văn hóa-xã hội, đến tháng 11-2020, các địa phương vùng ĐBKK có 62,1% đạt tiêu chí về trường học, 89,1% số xã đạt tiêu chí về giáo dục, 86,7% tiêu chí về y tế, 60,9% số xã đạt tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa và 82,1% đạt tiêu chí về văn hóa11.
Nhiều địa phương vùng ĐBKK triển khai hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, khai thác những lợi thế, tiềm năng để thực hiện thành công một số mô hình chuyển đổi sản xuất gắn với liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao như Sơn La, Hòa Bình, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, An Giang, Hơn 155.000 hộ nhận khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích giao khoán trên 2 triệu ha và 18.000 hộ được hỗ trợ trồng rừng. Hình thành được vùng trồng dược liệu tập trung và phát triển diện tích trồng dược liệu xen ghép, vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ; Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)12 bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần thúc đẩy phát triển những sản phẩm đặc sản các địa phương. Đến tháng 11-2020, những vùng ĐBKK thuộc các tỉnh có 1.061 sản phẩm, trong đó 21,4% sản phẩm đạt 4 sao, 76% sản phẩm đạt 3 sao. Nhiều địa phương đã khai thác hiệu quả các sản phẩm đặc sản, truyền thống gắn với lợi thế để phát triển hiệu quả các sản phẩm OCOP gắn với mô hình tổ chức sản xuất phù hợp13.
Các huyện nghèo đã thực hiện khoảng 2.560 dự án, tập trung hỗ trợ giống, vật tư, kỹ thuật cho các cây con chủ lực có lợi thế của địa phương, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có năng suất và giá trị cao hơn. Nhờ đó, kinh tế và diện mạo các vùng ĐBKK có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 tại các huyện nghèo giảm 5,65%/năm; tỷ lệ hộ nghèo các xã ĐBKK vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm bình quân khoảng 4%/năm14.
Chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của của người dân vùng ĐBKK ngày càng được nâng cao. Để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ hiệu quả; phát triển các loại hình văn hóa, văn nghệ dân tộc truyền thống như hát Then của dân tộc Tày, Nùng, Thái, văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường, Ba Na, Ê Đê, múa khèn của dân tộc Mông. Nhiều địa phương đã biết tận dụng và phát huy lợi thế để phát triển kinh tế du lịch, nhất là mô hình du lịch cộng đồng.
Hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên được củng cố, kiện toàn. Vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị-xã hội trong xây dựng NTM được phát huy, nâng cao; khả năng tiếp cận pháp luật được tăng cường. Công tác bồi dưỡng, tập huấn về xây dựng NTM cũng như đào tạo về quản lý hành chính, quản lý kinh tế-xã hội chuyên sâu được chú trọng góp phần nâng cao năng lực cán bộ, công chức xã một cách rõ rệt so với giai đoạn trước. An ninh trật tự cơ bản được giữ vững. Nhiều địa phương đã xây dựng và nhân rộng các mô hình tổ chức quần chúng làm công tác bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở theo hướng “4 tự” (tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải)15.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện mục tiêu xây dựng NTM ở vùng ĐBKK còn có những hạn chế: Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch của các địa phương vùng ĐBKK khoảng 40,8% (cả nước 51%); 36% số xã chưa đạt tiêu chí giao thông; 1.422 thôn, bản chưa có điện thắp sáng; 37,9% số xã chưa đạt tiêu chí trường học, 39,1% số xã chưa đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, 40,1% số xã chưa đạt tiêu chí môi trường16. Chương trình OCOP chưa được phổ biến tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa; du lịch cộng đồng chưa thực sự bền vững; vấn đề vệ sinh và bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập về rác thải, nước thải sinh hoạt, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp so với các vùng khác; thu nhập người dân vùng di cư tự do còn thấp, tỷ lệ nghèo còn cao; các tệ nạn xã hội, việc truyền đạo trái phép vẫn diễn biến phức tạp, nhất là ở các địa bàn giáp biên giới.
Với những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giai đoạn 2016-2020, diện mạo các vùng ĐBKK đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, đến nay, vùng ĐBKK vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế và có khoảng cách khá xa so với các vùng miền khác của cả nước.
3. Một số nhận xét
Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến xây dựng NTM vùng ĐBKK, thể hiện quyết tâm trong tạo bước chuyển căn bản và toàn diện để chăm lo nâng cao đời sống nhân dân ở những địa bàn ĐBKK; khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương.
Trong giai đoạn 2016-2020, các bộ, ngành Trung ương đã chủ động tham mưu trình Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 3 nghị quyết, 9 nghị định, 43 quyết định, chỉ thị, đồng thời ban hành theo thẩm quyền 55 văn bản cấp Trung ương17; trong đó có nhiều cơ chế, chính sách tập trung ưu tiên hỗ trợ các địa phương vùng ĐBKK xây dựng NTM, cụ thể như: Ưu tiên hệ số phân bổ vốn ngân sách Trung ương cho các xã ĐBKK và xã dưới 5 tiêu chí cao hơn 4-5 lần so với các xã không thuộc đối tượng ưu tiên18; đơn giản hóa cơ chế, thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng như cơ chế quản lý đầu tư xây dựng thực hiện chương trình xây dựng NTM đã được rút gọn, đơn giản hóa. Cơ chế đầu tư đặc thù đối với các công trình, dự án thuộc các chương trình MTQG19 đã khuyến khích, vận động được người dân tham gia tích cực hơn vào xây dựng NTM trên địa bàn. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 3 đề án xây dựng NTM vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới nhằm phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng giai đoạn 2016-2020 (đối với 3 tỉnh: Điện Biên, Lào Cai, Nghệ An); 1 đề án xây dựng NTM tại các xã vùng an toàn khu cách mạng (CT229), các xã còn tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự, an toàn xã hội và các xã khó khăn của tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2018-2020 (Quyết định số 465/QĐ-TTg, ngày 2-5-2018). Ngày 21-10-2018, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1385/QĐ-TTg “Phê duyệt Đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018-2020”, trong đó, bổ sung khoảng 1.400 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển từ tổng vốn dự phòng trung hạn giai đoạn 2016-2020 của Chương trình để hỗ trợ bổ sung cho 3.513 thôn, bản, ấp thuộc 36 tỉnh triển khai thực hiện Đề án; đồng thời, ban hành một số chương trình, đề án chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng, triển khai một số nội dung trọng tâm đi vào chiều sâu, hướng tới bền vững như: Quyết định số 712/QĐ-TTg, ngày 26-5-2017 “Phê duyệt Đề án thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa, giai đoạn 2017-2020”; Quyết định số 490/QĐ-TTg, ngày 7-5-2018, “Phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020”; triển khai thực hiện Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2011-2020.
Sự chủ động điều hành của các địa phương
Đến tháng 11-2020, 35 tỉnh đã ban hành tiêu chí NTM cấp thôn, bản. Đồng thời, từ kinh nghiệm triển khai, một số địa phương đã vận dụng sáng tạo và ban hành các cơ chế đặc thù hỗ trợ các địa phương triển khai xây dựng NTM. UBND tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch số 1166/QĐ-UBND, ngày 16-5-2019, về thực hiện xây dựng NTM gắn với giảm nghèo bền vững tại các ấp thuộc các xã khó khăn, xã biên giới tỉnh An Giang, giai đoạn 2018-2020; Quyết định số 1237/QĐ-UBND, ngày 23-5-2019, ban hành Bộ tiêu chí “Ấp nông thôn mới” trên địa bàn các xã khó khăn, xã biên giới tỉnh An Giang, giai đoạn 2018-2020 (gồm 19 tiêu chí, 42 chỉ tiêu). UBND tỉnh Lào Cai có Quyết định số 1076/QĐ-UBND, ngày 14-4-2016, ban hành Bộ tiêu chí về “Thôn nông thôn mới” và “Thôn kiểu mẫu”; Quyết định số 1510/QĐ-UBND, ngày 4-5-2017, về phê duyệt Đề án “Thí điểm phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, gắn với xây dựng nông thôn mới các xã biên giới Việt-Trung trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2016-2020”. Tỉnh Hà Giang có cơ chế hỗ trợ Quỹ phát triển cộng đồng của tỉnh Hà Giang; HĐND tỉnh Hà Giang ban hành Nghị quyết số 87/NQ-HĐND, ngày 14-7-2017, về việc thông qua Đề án quy tụ các hộ sống rải rác ở các sườn núi cao, vùng thiên tai, ĐBKK, biên giới về sống tập trung tại các thôn bản, gắn với xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2018-2020...
Các tỉnh có cơ chế hỗ trợ xây dựng thôn, bản ĐBKK đạt chuẩn NTM (Hà Giang, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An); cơ chế hỗ trợ xi măng để phát triển hạ tầng nông thôn (Tuyên Quang, Bắc Giang, Bình Phước, Đắk Nông,). Tỉnh Sơn La có Nghị quyết số 17/2016/NQ-HĐND, ngày 14-12-2016, về chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã trồng cây ăn quả, cây dược liệu dưới tán cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2017-2020; Nghị quyết số 28/2017/NQ-HĐND, ngày 15-3-2017, quy định mức hỗ trợ cải tạo vườn tạp và trồng cây ăn quả trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 57/2017/NQ-HĐND, ngày 21-7-2017, về chính sách hỗ trợ phát triển cây trồng, vật nuôi, thủy sản và chế biến, tiêu thụ nông sản thực phẩm sạch trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2021; Nghị quyết số 76/2018/NQ-HĐND, ngày 4-4-2018, về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản, thực phẩm an toàn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018-2021
Kết quả xây dựng nông thôn mới của các địa phương vùng đặc biệt khó khăn còn kém so với các vùng khác của cả nước.
Đến tháng 7-2020, còn nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh khó khăn thuộc vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và các xã, huyện miền núi, bãi ngang của các tỉnh miền Trung đạt kết quả thấp trong xây dựng NTM. Còn 9 tỉnh có tỷ lệ đạt chuẩn NTM dưới 30%, khoảng 864 xã dưới 10 tiêu chí, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; 40 huyện thuộc 18 tỉnh còn “trắng xã nông thôn mới”, 100% số xã, huyện này đều thuộc vùng ĐBKK (Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Điện Biên, Kon Tum, Bến Tre). Tại vùng trung du miền núi phía Bắc, chỉ riêng 3 tỉnh trung du là Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ đã chiếm 42,5% số xã đạt chuẩn NTM của cả 14 tỉnh trong vùng; tại vùng Tây Nguyên, trong khi tỉnh Lâm Đồng có tới 86,2% số xã đạt chuẩn thì 4 tỉnh còn lại đều chỉ có dưới 40% số xã đạt chuẩn; tại khu vực miền Trung, trường hợp tỉnh Quảng Nam, 6 huyện miền núi cao (Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn) chiếm 33,3% về số huyện, 32% về số xã, nhưng chỉ chiếm 5% về tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM trong cả tỉnh. So với con số chung của cả nước là 5.312 xã đạt chuẩn NTM (chiếm 59,8% số xã); bình quân đạt 16,26 tiêu chí/xã; có 144 đơn vị cấp huyện thuộc 46 tỉnh/thành phố được công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; có 9 tỉnh, thành đã có 100% số xã đạt chuẩn NTM.
Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM ở Tây Nguyên là 44,2%; miền núi phía bắc là 33,2% có khoảng cách khá xa so với Đồng bằng Bắc Bộ (92,1%), Đông Nam Bộ (77,6%), Bắc Trung Bộ (61,2%). Số tiêu chí bình quân/xã ở Tây Nguyên đạt 14,1; miền núi phía Bắc chỉ đạt 12,7 trong khi tỷ lệ đó ở Đồng bằng sông Hồng là 18,6; Đông Nam Bộ là 17,5; Bắc Trung Bộ là 16,120.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các địa phương vùng ĐBKK đạt kết quả thấp trong xây dựng NTM như: vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, địa bàn ĐBKK chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, khó tiếp cận với các cơ hội phát triển, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều yếu kém, vệ sinh môi trường sống chưa đảm bảo, còn tồn tại nhiều tập quán chưa phù hợp với NTM. Nhưng nguyên nhân chủ yếu và cốt lõi nhất là do phần lớn các xã ĐBKK có địa bàn rất rộng, địa hình phức tạp và chia cắt, khoảng cách kết nối giữa xã với trung tâm huyện và giữa các thôn, bản với trung tâm xã rất xa, dân cư phân tán, hệ thống giao thông chưa đảm bảo. Vì vậy, ngoài việc tiếp tục thực hiện các giải pháp thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần thực hiện một số giải pháp về cơ chế, chính sách vĩ mô và định hướng hoạt động sinh kế cho người dân để nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng NTM vùng ĐBKK.
Những kết quả xây dựng NTM mà vùng ĐBKK đạt được trong giai đoạn 2016-2020, dù còn nhiều hạn chế, nhưng là cơ sở để vùng ĐBKK tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 theo tinh thần Đại hội XIII: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”21.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 4/2021
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2018, T. 65, tr. 193
2, 3. Sđd, T. 67, tr. 827, 827
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 283, 95
6. Xem Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1385/QĐ-TTg, ngày 21-10-2018 “Phê duyệt Đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018-2020”
7, 8, 11, 13, 14, 15, 16, 17. Xem Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Báo cáo đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016-2020, định hướng giai đoạn 2021-2025”, H, 12-2020, tr. 4, 8, 5-6, 7, 7, 9, 10, 1
9. Gồm Vân Đồn, Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Hải, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Trường Sa (Khánh Hóa), Côn Đảo (Bà Rịa Vũng Tàu), Phú Quốc, Kiên Hải (Kiên Giang)
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Báo cáo đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016-2020, định hướng giai đoạn 2021-2025”, H, 12-2020, tr. 5
12. Chương trình này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2018 tại Quyết định số 490/QĐ-TTg, ngày 7-5-2018
18. Xem Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg, ngày 22-4-2017, “Ban hành quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”
19. Xem Chính phủ: Nghị định số 161/2016/NĐ-CP, ngày 2-12-2016 “Cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020”
20. Xem Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Chính sách và chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn: “Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới vùng đặc biệt khó khăn và kiến nghị đề xuất cho giai đoạn 2021-2025”, H, 12-2020
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 124.