Tóm tắt: Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng có vai trò quan trọng trong tổng kết thực tiễn lãnh đạo, bảo tồn tư liệu và giáo dục truyền thống cách mạng. Bài viết phân tích sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội và những kết quả đạt được trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng giai đoạn 2018-2025; đồng thời làm rõ những hạn chế và yêu cầu đặt ra trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Bài viết nhấn mạnh yêu cầu xác định đúng quan hệ kế thừa lịch sử giữa các tổ chức đảng, bảo toàn hệ thống sử liệu, kiện toàn cơ chế tổ chức nghiên cứu và xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông nhằm thực hiện tốt công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng trong điều kiện mới.

Từ khóa: Lịch sử Đảng; Đảng bộ thành phố Hà Nội; nghiên cứu, biên soạn; sử liệu; chính quyền địa phương hai cấp

1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng là một bộ phận của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, nhằm tái hiện quá trình lãnh đạo cách mạng, làm rõ thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm lịch sử. Đối với lịch sử đảng bộ địa phương, yêu cầu này gắn với việc xác định vai trò của tổ chức đảng trong từng thời kỳ, mối quan hệ giữa chủ trương và tổ chức thực hiện, cũng như sự tham gia của nhân dân vào các phong trào cách mạng. Chất lượng công trình cũng cần được xem xét trên cả phương diện độ tin cậy của sử liệu, chiều sâu phân tích và giá trị phục vụ tổng kết thực tiễn, giáo dục truyền thống.
Trong giai đoạn từ tháng 1-2018 đến tháng 6-2025, hoạt động biên soạn, xuất bản các công trình lịch sử đảng bộ địa phương, tổ chức hội thảo khoa học và đưa lịch sử đảng bộ địa phương vào giáo dục truyền thống được triển khai ở 3 cấp từ thành phố đến cấp xã và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương còn có một số hạn chế. Trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, những khó khăn này gắn với yêu cầu xử lý quan hệ giữa địa giới hành chính mới và không gian lịch sử của các tổ chức đảng trước ngày 1-7-2025. Việc kết thúc hoạt động của cấp huyện; các xã, phường mới ra đời đặt ra nhu cầu bảo tồn sử liệu, xác định đúng chủ thể lãnh đạo qua từng thời kỳ và tổ chức lại cơ chế hướng dẫn, biên soạn, thẩm định công trình nghiên cứu lịch sử đảng bộ địa phương; lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể. Đây là những vấn đề cần được xem xét trong mối liên hệ giữa tính liên tục của lịch sử và sự thay đổi của cơ cấu tổ chức, địa giới hành chính hiện nay.
Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng giai đoạn 2018-2025; những kết quả đạt được và hạn chế; những yêu cầu về sử liệu, phương pháp và cơ chế tổ chức nghiên cứu trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Qua đó, góp phần xác định các điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng công trình lịch sử Đảng bộ địa phương, bảo đảm tính đảng, tính khoa học và phát huy giá trị của kết quả nghiên cứu trong điều kiện mới.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết tiếp cận công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng ở Hà Nội từ góc độ lịch sử Đảng, gắn chủ trương của cấp ủy với quá trình tổ chức thực hiện và kết quả được phản ánh trong tài liệu. Nguồn tư liệu sử dụng là các văn bản chỉ đạo, báo cáo của Thành ủy, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội giai đoạn 2018-2025.
Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được sử dụng để trình bày quá trình ban hành chủ trương, triển khai hoạt động nghiên cứu, biên soạn và giáo dục lịch sử theo trình tự thời gian. Phương pháp lôgíc giúp khái quát mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của cấp ủy, điều kiện tổ chức thực hiện và chất lượng công trình, đồng thời xác định những vấn đề có tính xuyên suốt như quản lý sử liệu, bảo đảm nhân lực và thẩm định bản thảo. Sự kết hợp hai phương pháp hướng tới làm rõ quá trình vận động của công tác lịch sử Đảng trong những điều kiện tổ chức cụ thể.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội
Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-1-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tiếp tục tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam”, ngày 3-10-2018, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Kế hoạch số 104-KH/TU chỉ đạo các cấp ủy đảng, các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng. Kế hoạch nêu rõ: “Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội, lịch sử của sở, ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội, quận, huyện, thị xã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác lịch sử Đảng, góp phần tổng kết thực tiễn công tác tư tưởng, lý luận và xây dụng Đảng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra” (Thành ủy Hà Nội, 3-10-2018). Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội yêu cầu: “Các quận, huyện, thị ủy tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống cách mạng nhằm nâng cao lý tưởng cách mạng, tinh thần đoàn kết, cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ” (Thành ủy Hà Nội, 3-10-2018), đồng thời đề ra các nhiệm vụ cụ thể đối với cấp thành phố và cấp quận, huyện, thị xã.

Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội yêu cầu tất cả các quận, huyện, thị ủy phải bảo đảm đủ biên chế, bố trí cán bộ đúng chuyên ngành làm công tác lịch sử Đảng; mở lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo chuyên đề và cập nhật những kết quả nghiên cứu mới cho cán bộ làm công tác lịch sử Đảng;  phối hợp với Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác lịch sử Đảng các cấp (Thành ủy Hà Nội, 3-10-2018).
 Triển khai thực hiện kế hoạch này, Thường trực Thành ủy chỉ đạo các quận, huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc bố trí, sắp xếp, kiện toàn đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng tại địa phương, đơn vị. Năm 2023, đã có 30/30 địa phương cấp huyện,bố trí đủ cán bộ chuyên trách làm công tác lịch sử Đảng. Các cán bộ được phân công đều được đào tạo bài bản, có chuyên môn vững chắc, tinh thần trách nhiệm và sự nhiệt tình trong công việc. Thường trực Thành ủy giao Ban Tuyên giáo Thành ủy phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong tổ chức nghiên cứu, quán triệt những điểm mới trong Chỉ thị số 20-CT/TW; tập huấn nghiệp vụ, phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng và giáo dục truyền thống cách mạng cho đội ngũ cán bộ làm công tác lịch sử các quận, huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc Thành ủy (Đào Xuân Dũng, 2023, tr.97).

3.2. Một số kết quả đạt được
Sau 8 năm (2018-2025) thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ và lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể đã đạt được những thành tựu đáng kể. Giai đoạn 2018-2023, Hà Nội đã xuất bản 97 ấn phẩm lịch sử, gồm 11 ấn phẩm thuộc cấp thành phố, cấp huyện, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; 86 ấn phẩm thuộc cấp xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, nhiều địa phương, đơn vị còn xuất bản các loại sách như Biên niên sự kiện, Địa chí, sách về di tích cách mạng kháng chiến, danh nhân văn hóa, truyền thống phong trào Đoàn và tập bài giảng lịch sử... Các ấn phẩm đều nêu bật những nét đặc thù, độc đáo của từng địa phương, đơn vị, góp phần làm rõ thêm lịch sử của Đảng bộ Thành phố, lịch sử địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều công trình lịch sử Đảng đã chú ý đến tổng kết thực tiễn lịch sử và đúc kết kinh nghiệm của địa phương, cơ quan, đơn vị (Đào Xuân Dũng, 2023, tr.98).
Năm 2024, hoạt động biên soạn tiếp tục được triển khai theo chiều sâu với nội dung đa dạng hơn. Ban Tuyên giáo Thành ủy thẩm định, góp ý, đánh giá nhiều bản thảo, đề cương bản thảo sách như: Bác Hồ với Thạch Thất, Địa chí Sơn Tây, Sơn Tây - Hội tụ và lan tỏa văn hóa xứ Đoài; lịch sử một số phường, xã: phường Phúc Lợi, xã Văn Khê, xã Thạch Hòa; Tài liệu giáo dục lịch sử quận Bắc Từ Liêm; Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân thành phố Hà Nội (1930-2025); Lịch sử Đảng bộ Khối các cơ quan thành phố Hà Nội (1954-2024).
Tại các quận, huyện, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ, lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể cũng được đẩy mạnh. Quận Ba Đình triển khai công trình Bác Hồ với Ba Đình, Lịch sử Đảng bộ quận Ba Đình (2005-2025) và Lịch sử Đảng bộ phường Nguyễn Trung Trực (2000-2024); quận Hoàng Mai hoàn thành công trình Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân quận Hoàng Mai (1930-2023); huyện Hoài Đức hoàn thành bản thảo lịch sử phong trào công nhân, viên chức, lao động và công đoàn huyện (1979-2024); huyện Thường Tín triển khai công trình Các kỳ Đại hội Đảng bộ huyện (1947-2025) và bộ Địa chí Thường Tín; huyện Ứng Hòa và nhiều địa phương phát hành, tái bản các công trình lịch sử đảng bộ, lịch sử địa phương (Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, 2024).
Năm 2025, công trình “Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội 2000-2025” đã hoàn thành. Ban Tuyên giáo và Thành ủy đã thẩm định nhiều bản thảo biên soạn bổ sung nhằm tái bản các công trình: “Lịch sử Đảng bộ quận Đống Đa giai đoạn 1930 - 2025”; “Lịch sử Đảng bộ huyện Quốc Oai 1930 - 2025”; “Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Trì giai đoạn 2010 - 2025”; “Lịch sử Đảng bộ quận Ba Đình 2005-2025”; “Lịch sử Đảng bộ huyện Chương Mỹ” và sách “Bác Hồ với Đảng bộ và Nhân dân Chương Mỹ”; “Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ huyện và Nhân dân huyện Mỹ Đức 1930-2025”; “Lịch sử Đảng bộ quận Cầu Giấy 1997 - 2025” (Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội, 2025). Cùng với công tác nghiên cứu, biên soạn các công trình lịch sử, Thành ủy Hà Nội phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các viện nghiên cứu của Trung ương tổ chức các hội thảo khoa học kỷ niệm ngày sinh các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước: Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Đào Duy Tùng, Hội thảo khoa học kỷ niệm 70 năm Hội nghị quân sự Trung Giã, Hội thảo khoa học “95 năm ngày thành lập Đảng, Đảng bộ thành phố Hà Nội, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử (17-3-1930 - 17-3-2025).
Bên cạnh đó, Thành ủy Hà Nội chỉ đạo xây dựng 3 tập phim tư liệu “90 năm Đảng bộ Thành phố Hà Nội những chặng đường vẻ vang” và một số bộ phim tư liệu về thân thế, sự nghiệp cách mạng của các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu. Đây là hình thức hữu hiệu để tuyên truyền, giáo dục ý thức, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương, dân tộc trong thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Cùng với việc biên soạn các công trình lịch sử Đảng bộ và lịch sử truyền thống, Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo tổ chức các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn như: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Ngày thành lập Đảng bộ Hà Nội; Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9; 60 năm kết nghĩa ba thành phố Hà Nội - Huế - Sài Gòn. Trong dịp kỷ niệm 100, 110 năm ngày sinh các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, Thành phố tổ chức triển lãm trưng bày những hình ảnh, tài liệu về các đồng chí: Nguyễn Đức Cảnh, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ; giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu: Luận cương chính trị tháng 10-1930, tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ... (Đào Xuân Dũng, 2023, tr.98).
Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, các cấp bộ đảng trực thuộc chỉ đạo đưa lịch sử địa phương vào giảng dạy ở các trường phổ thông. Trên cơ sở các cuốn lịch sử Đảng bộ và lịch sử truyền thống của địa phương đã xuất bản, các quận ủy, huyện ủy, thị ủy đã chỉ đạo Ban Tuyên giáo và Phòng Giáo dục - Đào tạo tổ chức biên soạn Tập bài giảng lịch sử truyền thống địa phương cho các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn. Năm 2023, đã có 23/30 quận, huyện, thị xã biên soạn tập bài giảng lịch sử địa phương dùng để giảng dạy trong các trường học (tăng 5 địa phương kể từ năm 2018). (Đào Xuân Dũng, 2023, tr.98). Việc đưa nội dung lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử truyền thống cách mạng vào giảng dạy ở các cấp học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực. Hoạt động này có tác dụng giáo dục sâu sắc, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của học sinh và đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử tại các nhà trường, góp phần giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ.
Năm 2024, các hoạt động giáo dục lịch sử địa phương được triển khai thông qua những hình thức gần gũi với học sinh và nhân dân. Huyện uỷ Sóc Sơn tổ chức cuộc thi tìm hiểu “Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp” trong các trường học; Huyện uỷ Thanh Oai tổ chức cuộc thi tìm hiểu “70 năm giải phóng huyện Thanh Oai (16-8-1954 - 16-8-2024); Huyện uỷ Thường Tín tổ chức hội thi “Em yêu lịch sử Thường Tín”; Thị uỷ Sơn Tây tổ chức cuộc thi  viết tìm hiểu “Thị xã Sơn Tây lịch sử hình thành và phát triển”; cuộc thi “Thiếu niên Ứng Hòa tự hào truyền thống lịch sử quê hương” trên nền tảng mạng xã hội. Năm 2025, các xã, phường tiếp tục sử dụng những công trình lịch sử đã xuất bản để tuyên truyền, giảng dạy lịch sử truyền thống địa phương tại các cấp học. Các hoạt động này cho thấy sự kết hợp giữa tài liệu biên soạn, sinh hoạt tìm hiểu lịch sử và phương tiện truyền thông trong giáo dục truyền thống (Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, 2024).
3.3. Một số hạn chế
Một là, một số cấp ủy chưa thường xuyên quan tâm đến công tác lịch sử đảng. Ở một số nơi, công tác này còn phụ thuộc vào cơ quan tuyên giáo và chưa trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, ban, ngành, đoàn thể. Một số tổ chức chính trị - xã hội chưa kịp sưu tầm, biên soạn, tái bản hoặc bổ sung nội dung mới; số công trình của ban, ngành, đoàn thể ở cấp quận, huyện còn ít. Sự khác biệt về nhân lực, mức độ quan tâm của người đứng đầu và kinh nghiệm tổ chức thực hiện ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và chất lượng bản thảo.
Hai là, quy trình nghiên cứu, biên soạn, thẩm định chưa được chuẩn hóa; một số bản thảo còn hạn chế về bố cục, phân kỳ, cách trình bày sự kiện và tổng kết kinh nghiệm. Có trường hợp việc biên soạn được giao khoán cho cộng tác viên hoặc đơn vị truyền thông nhưng thiếu sự kiểm soát về chuyên môn, dẫn đến tình trạng thiên về thuật lại sự việc và liệt kê thành tích, chưa phân tích đầy đủ bối cảnh, chủ trương, quá trình tổ chức thực hiện và kết quả đạt được. Một khó khăn khác là quan hệ giữa lịch sử đảng bộ với lịch sử địa phương, lịch sử chính quyền, lịch sử ngành và địa chí chưa được xử lý thống nhất. Nếu không xác định rõ đối tượng nghiên cứu, công trình dễ trùng lặp nội dung hoặc hòa tan lịch sử tổ chức đảng vào lịch sử kinh tế - xã hội. Ngược lại, nếu chỉ trình bày nghị quyết và hoạt động nội bộ, công trình sẽ khô cứng, không thấy được mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Vì vậy, tiêu chí quan trọng không chỉ là đúng sự kiện mà còn là làm rõ vai trò lãnh đạo, cơ chế chuyển hóa chủ trương của tổ chức đảng thành kết quả và sự tham gia của nhân dân.
Ba là, đội ngũ cán bộ làm công tác lịch sử Đảng còn nhiều hạn chế. Mặc dù 30/30 quận, huyện, thị xã đã bố trí cán bộ phụ trách, đội ngũ này vẫn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Hoạt động tập huấn chưa thường xuyên, trong khi công việc đòi hỏi kiến thức liên ngành về lịch sử, xây dựng Đảng, lưu trữ học. Sự thiếu ổn định nhân sự tạo ra đứt gãy trong tích lũy kinh nghiệm. Đối với một công trình được thực hiện trong nhiều năm, việc thay đổi cán bộ đầu mối có thể làm gián đoạn mạch tư liệu, suy giảm trách nhiệm giải trình và kéo dài thời gian thực hiện. Mạng lưới cộng tác viên cũng chưa được chuẩn hóa theo lĩnh vực, địa bàn và thế mạnh chuyên môn. Hà Nội có lợi thế tập trung nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học, nhà khoa học và cán bộ lão thành; tuy nhiên, lợi thế này chỉ phát huy khi có cơ chế phối hợp lâu dài, thay vì mời cộng tác theo từng công trình riêng lẻ.
Bốn là, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu lịch sử Đảng để sử dụng liên thông. Nguồn tư liệu lịch sử Đảng bị phân tán ở các cơ quan lưu trữ thành phố, cơ quan đảng, sở, ngành, địa phương, bảo tàng, thư viện, gia đình cán bộ và trong ký ức nhân chứng. Nhiều tài liệu thời kỳ chiến tranh đã bị mất; tài liệu thời kỳ đổi mới chưa được quản lý thống nhất và chưa được phân loại đầy đủ.
Năm là, cơ chế tài chính chưa phù hợp; cơ sở lập dự toán, thanh quyết toán, nghiệm thu và xuất bản công trình lịch sử chưa rõ ràng về các khoản mục. Các chi phí sưu tầm, sao chụp, điền dã, phỏng vấn, xử lý tư liệu, hội thảo, phản biện, biên tập, bản quyền ảnh và xuất bản liên quan đến nhiều chế độ chi khác nhau. Nếu áp dụng cơ học định mức của một sản phẩm hành chính thông thường, chất lượng nghiên cứu khó được bảo đảm.
Sáu là, việc thẩm định những vấn đề liên quan đến cá nhân, những sự kiện còn có ý kiến khác nhau do thiếu tài liệu minh chứng hoặc tài liệu chưa giải mật. Hội đồng thẩm định cần có nhà khoa học am hiểu giai đoạn, chuyên gia địa phương, cán bộ lưu trữ và đại diện cấp ủy, đồng thời phải phân định rõ thẩm định tính đảng, tính khoa học và thẩm định pháp lý - xuất bản.
Bảy là, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tuyên giáo, văn phòng cấp ủy, cơ quan lưu trữ, sở văn hóa, ngành giáo dục, nhà xuất bản và địa phương cần được quy định rõ. Ban Tuyên giáo Thành ủy giữ vai trò tham mưu, hướng dẫn chuyên môn và kiểm soát chất lượng; cơ quan lưu trữ bảo đảm nguồn tài liệu; các xã, phường chịu trách nhiệm sưu tầm tại địa bàn và xác minh nhân chứng; cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học thực hiện phản biện; nhà xuất bản bảo đảm chuẩn mực biên tập và pháp lý. Việc phân công rõ trách nhiệm như trên sẽ góp phần giảm tình trạng thiếu phối hợp và chồng chéo trách nhiệm.
3.4. Một số vấn đề đặt ra cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ, lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp
Từ ngày 1-7-2025, Hà Nội vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã. Sự thay đổi này tạo ra không gian quản lý mới, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo tồn và kế thừa lịch sử của các tổ chức đảng, các địa bàn trước sắp xếp.
Thứ nhất, xác định đúng chủ thể, phạm vi nghiên cứu và tính liên tục của lịch sử Đảng bộ địa phương từ ngày địa phương, cơ quan đơn vị mới được thành lập. Một xã, phường mới có thể được hình thành từ nhiều địa bàn hoặc một phần địa bàn của các đơn vị trước đây. Vì vậy, phạm vi hành chính hiện tại không hoàn toàn trùng với không gian hoạt động của các tổ chức đảng trong quá khứ. Nếu lấy địa giới mới làm căn cứ duy nhất để trình bày lịch sử, công trình có thể bỏ sót những bộ phận lịch sử liên quan hoặc gán hoạt động của tổ chức đảng tiền thân cho đảng bộ mới khi tổ chức này chưa được thành lập. Ngược lại, nếu ghép nguyên các công trình cũ, bản thảo dễ trùng lặp sự kiện, thiếu thống nhất về phân kỳ và không làm rõ mối liên hệ giữa các địa bàn.
Vấn đề đặt ra là phải phân biệt thời điểm thành lập đảng bộ mới với quá trình lịch sử của các tổ chức đảng đã hoạt động trên địa bàn. Lịch sử trước sắp xếp cần được kế thừa trên cơ sở xác định đúng tổ chức lãnh đạo, địa bàn hoạt động và nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ. Phân kỳ lịch sử phải phản ánh những chuyển biến trong quá trình lãnh đạo và phong trào cách mạng, đồng thời giải thích các thay đổi về tổ chức, địa giới.
Thứ hai, bảo tồn và tổ chức khai thác hệ thống sử liệu của các quận, huyện, thị xã và các xã, phường, thị trấn trước sắp xếp.
Việc kết thúc hoạt động của cấp huyện không làm mất đi giá trị của lịch sử Đảng bộ cấp huyện. Trong nhiều thời kỳ, các Đảng bộ quận, huyện. vì vậy, tài liệu của các tổ chức này có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu cả lịch sử Đảng bộ Thành phố và lịch sử các xã, phường hiện nay.
Sau khi sáp nhập các xã, phường, nguồn tư liệu lịch sử vẫn còn phân tán tại các cơ quan, tổ chức, thư viện và trong các nguồn tư liệu do nhân chứng, nhà nghiên cứu lưu giữ. Nhiều tài liệu được lưu giữ dưới dạng bản giấy, phim ảnh, băng ghi âm hoặc tư liệu cá nhân; một số đã có dấu hiệu xuống cấp. Trong điều kiện thay đổi tổ chức bộ máy, yêu cầu đặt ra là rà soát việc tiếp nhận, kiểm kê, bảo quản và xác định đầu mối quản lý các nguồn tư liệu này. Đặc biệt, phải bảo toàn thông tin về cơ quan hình thành tài liệu, thời gian, địa bàn và quan hệ giữa các hồ sơ.
Việc khai thác sử liệu cấp huyện cần phân biệt với việc phân chia địa bàn quản lý hiện tại. Một hồ sơ có thể liên quan đến nhiều xã, phường mới, nhưng vẫn thuộc phông tài liệu của cơ quan đã hình thành hồ sơ đó. Do vậy, cần bảo toàn cấu trúc nguồn lưu trữ, đồng thời xây dựng công cụ tra cứu và liên kết để các địa phương cùng khai thác. Các công trình lịch sử cấp huyện đã xuất bản cũng cần được tiếp tục lưu giữ, nghiên cứu và sử dụng như những nguồn tham khảo có giá trị, kết hợp đối chiếu với tài liệu gốc.
Thứ ba, có cơ chế chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ và thẩm định công trình lịch sử trong điều kiện không còn cấp huyện. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi quan hệ giữa Thành phố và cơ sở trong tổ chức thực hiện công tác lịch sử Đảng. Vấn đề cần giải quyết là xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy xã, phường đối với việc xây dựng kế hoạch, tổ chức sưu tầm, biên soạn và sử dụng kết quả nghiên cứu; đồng thời bảo đảm sự hướng dẫn chuyên môn thống nhất từ Thành phố. Nếu trách nhiệm và quy trình phối hợp chưa rõ, có thể xuất hiện tình trạng mỗi địa phương lựa chọn một cách xử lý khác nhau đối với lịch sử tiền thân, phạm vi công trình hoặc nguồn tư liệu.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả nguồn sử liệu khi tích hợp các công trình đã có. Hệ thống sách lịch sử đã xuất bản là nguồn kế thừa quan trọng, nhưng được biên soạn ở những thời điểm khác nhau, với điều kiện tư liệu và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, quá trình xây dựng công trình mới cần đối chiếu cách xác định sự kiện, tên gọi tổ chức, nhân vật, số liệu và nhận định giữa các nguồn. Những khác biệt phải được xem xét trên cơ sở khoa học, bảo đảm độ chính xác của lịch sử.
Thứ năm, chuyển từ số hóa tài liệu riêng lẻ sang xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử Đảng có khả năng liên thông. Sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay đặt ra yêu cầu xây dựng dữ liệu theo chuẩn thống nhất, có thông tin về thời gian, địa điểm, nguồn gốc, nội dung và mức độ xác thực. Việc kết nối dữ liệu của Thành phố với các xã, phường cần tạo điều kiện để người nghiên cứu tìm kiếm, đối chiếu và truy nguyên tài liệu, qua đó phát huy đầy đủ giá trị của nguồn dữ liệu. Vì vậy, cơ sở dữ liệu cần thể hiện được quan hệ giữa địa danh cũ và mới, tổ chức đảng tiền thân và tổ chức hiện nay, sự kiện và nguồn chứng minh. Tài liệu phải được gắn thông tin mô tả, kiểm tra độ chính xác và cập nhật tình trạng nghiên cứu. Đồng thời, cần phân định phạm vi khai thác theo tính chất tài liệu, bảo đảm an toàn dữ liệu và khả năng lưu trữ lâu dài.
Thứ sáu, bảo đảm đội ngũ cán bộ chuyên môn và nguồn lực phù hợp với yêu cầu nghiên cứu trong không gian địa phương mới. Các xã, phường sau sắp xếp có phạm vi địa bàn và hệ thống tư liệu cần xử lý phức tạp hơn. Điều đó đòi hỏi cán bộ tham mưu công tác lịch sử Đảng có kiến thức chuyên môn, khả năng tổ chức sưu tầm, kiểm chứng và khai thác dữ liệu số. Cần xây dựng cơ chế kết hợp trách nhiệm của cấp ủy cơ sở với sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia. Cán bộ địa phương có lợi thế am hiểu địa bàn và kết nối nhân chứng; nhà nghiên cứu có thể hỗ trợ phương pháp, kiểm chứng và khái quát. Sự phối hợp này cần được duy trì trong toàn bộ quá trình nghiên cứu biên soạn công trình lịch sử đảng bộ địa phương.
Thứ bảy, gắn biên soạn lịch sử đảng bộ với tổng kết thực tiễn lãnh đạo và giáo dục truyền thống trong điều kiện mới. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cần được chuyển hóa thành tài liệu giáo dục phù hợp với cộng đồng ở các xã, phường mới. Nội dung giáo dục phải giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức được truyền thống của tổ chức Đảng và nhân dân trên các địa bàn cấu thành, hiểu mối liên hệ giữa những truyền thống đó và quá trình phát triển chung của địa phương.
Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng ở Hà Nội trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi giải quyết đồng thời tính liên tục của lịch sử, sự toàn vẹn của sử liệu và cơ chế tổ chức nghiên cứu. Trọng tâm là bảo tồn đầy đủ lịch sử các tổ chức đảng trước sắp xếp, xác định đúng quan hệ kế thừa và nâng cao chất lượng công trình nghiên cứu trên cơ sở khoa học. Giải quyết tốt những yêu cầu này sẽ tạo nền tảng cho việc tổng kết thực tiễn lãnh đạo, giáo dục truyền thống và tiếp tục nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong giai đoạn mới.
4. Kết luận
Giai đoạn 2018-2025, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng ở Hà Nội được triển khai trên cơ sở sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội và sự tham gia của các cấp ủy, cơ quan chuyên môn, địa phương, đơn vị. Những kết quả về biên soạn, xuất bản, tổ chức nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống góp phần bổ sung nguồn tư liệu, làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội và phát huy giá trị truyền thống lịch sử cách mạng của Thủ đô. Tuy nhiên, các hạn chế về quản lý sử liệu, chất lượng bản thảo, đội ngũ cán bộ, cơ chế tài chính, phối hợp và thẩm định cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng cần được đặt trong toàn bộ quá trình tổ chức nghiên cứu.
Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, vấn đề trọng tâm là bảo đảm tính liên tục của lịch sử và sự toàn vẹn của hệ thống sử liệu khi địa giới hành chính, tổ chức bộ máy có sự thay đổi. Công trình mới cần xác định đúng chủ thể lãnh đạo, phạm vi địa bàn và nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ; làm rõ quan hệ kế thừa giữa các tổ chức đảng, đồng thời bảo tồn và tiếp tục khai thác tư liệu của các quận, huyện, thị xã trước khi các đơn vị hành chính mới thành lập. Những yêu cầu đó phải được thực hiện thông qua quy trình nghiên cứu, kiểm chứng và thẩm định thống nhất, gắn trách nhiệm của cấp ủy cơ sở với sự hướng dẫn chuyên môn và hỗ trợ của đội ngũ nhà khoa học.
Việc kiện toàn đội ngũ, bảo đảm nguồn lực cho các khâu nghiên cứu và xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử Đảng có khả năng liên thông là điều kiện để đáp ứng những yêu cầu trên. Trên nền tảng sử liệu đáng tin cậy, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng ở Hà Nội cần tiếp tục gắn với tổng kết thực tiễn lãnh đạo và giáo dục truyền thống, bảo đảm tính Đảng, tính khoa học. Đây cũng là cơ sở để kế thừa những kết quả đã đạt được và phát triển công tác lịch sử Đảng phù hợp với điều kiện tổ chức địa phương mới.

Tài liệu tham khảo
Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội. (2024). Báo cáo kết quả công tác Lịch sử Đảng năm 2024, phương hướng, nhiệm vụ năm 2025
Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội. (2025). Báo cáo tổng kết công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026
Đào Xuân Dũng. (2023). Công tác nghiên cứu, biên soạn, giáo dục truyền thống lịch sử đảng ở Đảng bộ Thành phố Hà Nội. Tạp chí Lịch sử Đảng số 395
Thành ủy Hà Nội. (2018). Kế hoạch số 04-KH/TU “Triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”, https://file.thanhuyhanoi.vn/thanhuy/public/Uploads/VanBan/2018/10/5/30070707/911feaf7-1d7e-498e-9655-1b5a5768d33a.pdf