09/04/2026 - 10:11 AM - 704 lượt xem
Tóm tắt: Công tác kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Đảng, có vai trò phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế, ngăn ngừa vi phạm, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, Đảng bộ tỉnh Hà Nam luôn chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ. Bài viết tập trung làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác kiểm tra, giám sát (2010-2020), kết quả đạt được và một số bài học kinh nghiệm.
Từ khoá: Đảng bộ tỉnh Hà Nam; kiểm tra, giám sát; 2010-2020
Ngày nhận bài: 30-1-2026: ngày đánh giá, thẩm định: 24-2-2026; Ngày duyệt đăng: 7-4-2025
1. Đặt vấn đề
Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Đảng, góp phần đấu tranh, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát, trong đó Đại hội X (2006) của Đảng nhấn mạnh: “công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Ðiều lệ Ðảng. Coi trọng kiểm tra, phát hiện nhân tố tích cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr. 302)
Để tăng cường chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, ngày 30-7-2007, HNTƯ 5 khóa X ra Nghị quyết số 14-NQ/TW “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng” nhấn mạnh vai trò quan trọng và sự cần thiết của công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất và bảo đảm thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng; phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, tránh các nguy cơ sai lầm về đường lối, quan liêu, xa dân của đảng cầm quyền (Ban Chấp hành Trung ương, 30-7-2007). Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và logic, trong đó các dữ kiện, sự kiện trình bày theo diễn tiến lịch sử, đồng thời kết hợp nhận xét đánh giá làm sáng rõ chủ đề của bài viết.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với công tác kiểm tra, giám sát
Quán triệt thực hiện chủ trương của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015 xác định: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng; xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” (Tỉnh uỷ Hà Nam, 2010, tr. 52, 90). Đại hội nhấn mạnh: “Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của đảng với thanh tra, kiểm sát của nhà nước và giám sát của nhân dân” (Tỉnh uỷ Hà Nam, 2010, tr. 52, 90-91).
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011) của Đảng và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVIII, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Chương trình hành động số 14-Ctr/TU “về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI”, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm sát của nhà nước và giám sát của nhân dân. Tiếp đó, ngày 28-2-2011, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Chương trình số 08-Ctr/TU “về Chương trình kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ 2010-2015”, yêu cầu tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, đề án trọng tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và những lĩnh vực dễ xảy ra nhiều bức xúc như đất đai, môi trường, y tế; khắc phục tình trạng kiểm tra tràn lan, kém hiệu quả, kịp thời bổ sung, thực hiện nội dung kiểm tra, giám sát theo Chương trình kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới, tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (Tỉnh uỷ Hà Nam, 16-11-2011, tr. 12); nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, giải quyết kịp thời, dứt điểm các khiếu nại, tố cáo của công dân ngay từ cơ sở, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Tỉnh uỷ Hà Nam, 10-9-2010, tr. 12).
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, trong nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ và kế hoạch triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm; trong đó xác định, tập trung nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, đặc biệt ở những nơi có dấu hiệu vi phạm, có vấn đề “nổi cộm” như những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai ở xã, phường, thị trấn, đảm bảo ổn định tình hình cơ sở, kiên quyết xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên và tiếp tục kiện toàn Uỷ ban kiểm tra cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng (Tỉnh uỷ Hà Nam, 23-5-2011, tr. 3). Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung, ban hành các quy trình kiểm tra, giám sát; quy trình xem xét xử lý kỷ luật, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; quy chế phối hợp với các ban, ngành có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong Đảng. Kiểm tra chấn chỉnh tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đặc biệt ở tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình (Tỉnh uỷ Hà Nam, 28-2-2013, tr. 12).
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quy trình tiến hành kiểm tra, giám sát như: Chỉ thị số 13-CT/TU, ngày 6-12-2012 “về việc củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Uỷ ban Kiểm tra đảng uỷ các xã, phường, thị trấn”; Quyết định số 410-QĐ/TU, ngày 27-12-2012 “về giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý”; Quyết định số 411-QĐ/TU, ngày 27-12-2012 “về quy trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng và giải quyết khiếu nại tổ kỷ luật đảng”; Quyết định số 740-QĐ/TU, ngày 30-5-2014 “quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ”; Hướng dẫn số 18-HD/TU, ngày 15-9-2014 “về công tác kiểm tra, giám sát phục vụ đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020”; Hướng dẫn số 23-HD/TU, ngày 5-3-2015 “về công tác nhân sự Uỷ ban Kiểm tra tại đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020”, trong đó yêu cầu chỉ đạo Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ xây dựng, ban hành các quy trình, quy định, quy chế về công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, nắm bắt tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ của các cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới.
Để chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX, ngày 26-5-2014, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Hướng dẫn số 19-HD/TU “về công tác kiểm tra, giám sát phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020”, trong đó xác định cần tập trung đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc kiểm tra, giám sát, chú trọng kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc khắc phục, thực hiện các kết luận, kiến nghị sau kiểm tra, giám sát.
Tháng 9-2015, Đảng bộ tỉnh Hà Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020 về kiểm tra, giám sát, Đại hội nhấn mạnh: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng; tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội; thường xuyên kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, người đứng đầu các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao” (Tỉnh uỷ Hà Nam, 2015, tr. 141).
Sau Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam ban hành Chương trình số 05-Ctr/TU, ngày 27-11-2015 “về Chương trình kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ 2015-2020”. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát như: Hướng dẫn số 09-HD/TU, ngày 01-11-2016 “về kiểm điểm tập thể, các nhân và đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên năm 2016”; Hướng dẫn số 20-HD/TU, ngày 14-8-2018 “về đánh giá sinh hoạt chi bộ thường kỳ”; Quy định 04-QĐi/TU, ngày 20-11-2018 “về đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”; Quy định số 03-QĐi/TU, ngày 20-11-2018 “về tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý”; Hướng dẫn số 22-HD/TU, ngày 18-11-2019 “về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể cá nhân, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.
Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng như: Nghị quyết 04-NQ/TW, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, ngày 30-10-2016 “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ”, Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, đồng thời chỉ đạo cấp ủy các cấp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng, ổn định, không ảnh hưởng thực hiện nhiệm vụ chính trị, đúng quy trình, quy định của Đảng, phát huy dân chủ, nêu cao ý thức tự kiểm tra của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, đồng thời gắn trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Trong quá trình triển khai thực hiện những chủ trương trên, Tỉnh ủy tiến hành rà soát, sửa đổi bổ sung, ban hành Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ với các tổ chức đảng, ban, ngành có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng. Đồng thời, tập trung nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát theo hướng mở rộng đối tượng giám sát, tập trung có trọng tâm, trọng điểm các cuộc kiểm tra. Tăng cường kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra việc khắc phục hậu quả sau kết luận kiểm tra.
2.2. Một số kết quả
Đảng bộ tỉnh Hà Nam quán triệt nghiêm túc chủ trương của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ uỷ ban kiểm tra đảm bảo về số lượng và nâng cao về chất lượng. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng (Tỉnh uỷ Hà Nam, 6-12-2012, tr. 8). Qua đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã sát với thực tế, hạn chế hình thức, chạy theo thành tích, tăng cường sự phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và của chính quyền, Đoàn Đại biểu Quốc hội, hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo cùng một nội dung, đối tượng thanh tra, kiểm tra, giám sát trong năm, khắc phục được tình trạng kiểm tra tràn lan, kém hiệu quả. Nhiệm kỳ 2010-2015, Đảng bộ đã tổ chức đã giám sát chuyên đề 3.845 lượt tổ chức đảng, tăng 19,8% và 5.189 lượt đảng viên, tăng 15,3%, so với nhiệm kỳ 2005-2010 (Tỉnh uỷ Hà Nam, 31-10-2016, tr. 6) Tập trung chỉ đạo, giải quyết kịp thời, hiệu quả đơn thư khiếu nại, tố cáo trong Đảng; xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm; thi hành kỷ luật 7 tổ chức đảng và 749 đảng viên, tăng 5,6%, so với nhiệm 2005-2010, trong đó cấp uỷ viên các cấp là 259 đảng viên, bằng các hình thức: khiển trách 401, cảnh cáo 221, cách chức 38, khai trừ 89 đảng viên (Tỉnh uỷ Hà Nam, 31-10-2016, tr.7). Cấp uỷ và Uỷ ban Kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra 9.415 lượt tổ chức đảng, tăng 2,2 lần và 2.623 lượt đảng viên, tăng 1,5 lần so với nhiệm kỳ 2005-2010 (Tỉnh uỷ Hà Nam, 31-10-2016, tr. 6); đã giám sát chuyên đề 3.845 lượt tổ chức đảng, tăng 19,8% và 5.189 lượt đảng viên, tăng 15,3% so với giai đoạn 2005-2010, giải quyết đơn thư tố cáo đối với 10 tổ chức đảng, 2.014 đảng viên (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam, 2025, tr. 325).
Các cấp uỷ chú trọng kiểm tra đảng viên, kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm; số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra được nâng lên. Trong nhiệm kỳ 2015-2020, số tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra tăng 25%, trong đó, đối tượng là cấp uỷ viên tăng 85%, công tác giám sát tổ chức đảng tăng 6% và giám sát đảng viên tăng 31%, riêng cấp uỷ viên tăng 85% so với nhiệm kỳ 2010-2015; tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 4 tổ chức đảng và 5 đảng viên; giải quyết 1 trường hợp tố cáo đảng viên; 11 trường hợp khiếu nại; thi hành kỷ luật tăng 3% so với nhiệm kỳ 2010-2015 (Tỉnh uỷ Hà Nam, 2020, tr. 54).
Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Tỉnh ủy và Uỷ ban Kiểm tra từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh quán triệt tư tưởng chỉ đạo chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả, bảo đảm kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường giám sát thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Chất lượng, hiệu quả kiểm tra, giám sát được nâng cao, đặc biệt trong việc khắc phục các tồn tại sau kiểm tra, giám sát. Đảng bộ tỉnh chủ động nắm bắt tình hình ở những nơi phức tạp, bức xúc để kịp thời xem xét, xử lý nghiêm minh những trường hợp sai phạm. Trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiến hành kiểm tra đối với 114 tổ chức đảng và 99 đảng viên; cấp ủy cấp huyện và cơ sở kiểm tra 7.034 tổ chức đảng và 8.978 đảng viên. Đồng thời, giám sát 85 lượt tổ chức đảng và 121 lượt đảng viên; cấp huyện, thị ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc và cấp ủy cơ sở giám sát 5.368 lượt tổ chức đảng và 8.942 lượt đảng viên (Tỉnh ủy Hà Nam, 14-3-2024, tr. 16).
Cấp uỷ các cấp đã kiểm tra 2.579 tổ chức đảng và 3.544 đảng viên, giám sát đối với 2.410 lượt tổ chức đảng và 4.003 đảng viên (Tỉnh uỷ Hà Nam, 31-6-2021, tr. 6). Công tác kiểm tra, giám sát đã giúp nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ Đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được thực hiện kịp thời, không để nảy sinh vấn đề “nổi cộm”, “bức xúc” tại địa phương. Công tác thi hành kỷ luật bảo đảm đúng thẩm quyền, quy trình, nguyên tắc, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Uỷ ban Kiểm tra các cấp của tỉnh đã nâng cao vai trò, trách nhiệm, năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong tình hình mới. Công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng đã có tác dụng nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh Hà Nam còn bộc lộ một số hạn chế. Một số cấp uỷ chưa thực hiện tốt việc quán triệt, tuyên truyền về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; chưa nhận thức đầy đủ, chưa xác định đúng trách nhiệm đối với công tác kiểm tra, giám sát, chủ yếu giao khoán cho Uỷ ban Kiểm tra (Tỉnh uỷ Hà Nam, 14-9-2015, tr. 15).
Một số Uỷ ban Kiểm tra các cấp chưa tích cực trong việc tham mưu giúp cấp uỷ và chưa chủ động thực hiện nhiệm vụ của Uỷ ban Kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng. Chất lượng, hiệu quả một số cuộc kiểm tra, giám sát còn hạn chế, chưa thực hiện tốt việc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhất là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với cấp uỷ viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý. Việc xem xét xử lý kỷ luật đảng viên có vi phạm ở một số nơi chưa nghiêm, chưa thật sự công tâm, khách quan, có trường hợp còn biểu hiện hữu khuynh, né tránh, xử lý nhẹ, tạo nên tư tưởng coi thường kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ kiểm tra còn hạn chế, có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
2.3. Một số kinh nghiệm
Thứ nhất, Đảng bộ tỉnh luôn nhất quán nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, xác định công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ trực tiếp và thường xuyên, nhận thức đúng, đầy đủ về hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát.
Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng và chặt chẽ, trong đó coi trọng phòng ngừa, lấy xây là chính. Đồng thời, kiên quyết xử lý tổ chức đảng, đảng viên cố tình vi phạm. Qua kiểm tra, giám sát, giúp tổ chức đảng, đảng viên thấy rõ thiếu sót, khuyết điểm để khắc phục; không để xảy ra vi phạm.
Thứ ba, thường xuyên chăm lo, kiện toàn tổ chức bộ máy Ủy ban Kiểm tra thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; tăng cường cán bộ kiểm tra chuyên trách cho Ủy ban Kiểm tra đảng ủy cơ sở. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bảo đảm về số lượng và chất lượng, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh, tính chiến đấu cao, có kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cao, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với công tác tư tưởng, công tác tổ chức và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa Uỷ ban Kiểm tra các cấp với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành, các đoàn thể trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra của Nhà nước và giám sát của nhân dân.
3. Kết luận
Trong giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng về công tác công tác kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở đó, Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, biện pháp thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo chủ trương của Trung ương Đảng và quy định của Điều lệ Đảng, phù hợp với điều kiện của địa phương. Qua đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh trong 2 nhiệm kỳ khóa XVIII và XIX, từ năm 2010 đến năm 2020 đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, tạo nền tảng để Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị, xây dựng tỉnh Hà Nam ngày càng giàu mạnh. Những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát trong 10 năm (2010-2020) có lý luận và thực tiễn đối với công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ trong những giai đoạn tiếp theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2025). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tập III (1997-2025), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Ban Chấp hành Trung ương (2007). Nghị quyết số 14- NQ/TW ngày 30-7-2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X Về tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát của Đảng. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-14-NQ-TW-2007-tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-cua-Dang-450911.aspx
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Tỉnh uỷ Hà Nam (2010). Báo cáo số 182-BC/TU ngày 10-9-2010 “Tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; việc thực hiện quy chế làm việc của uỷ ban kiểm tra nhiệm kỳ 2005-2010”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2010). Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVIII, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2011). Báo cáo số 43-BC/TU ngày 16-11-2011 “Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2011). Chỉ thị số 04-CT/TU ngày 23-5-2011 “Về việc tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2011-2015”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2013). Báo cáo số 111-BC/TU ngày 28-2-2013 “Sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2015). Báo cáo số 265-BC/TU ngày 14-9-2015 “Tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; việc thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra nhiệm kỳ 2010-2015”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình.
Tỉnh uỷ Hà Nam (2015). Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIX, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2016). Báo cáo số 80- BC/TU ngày 31-10-2016 “Tổng kết công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh giai đoạn 2011-2015, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2016-2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2018). Báo cáo số 181-BC/TU ngày 8-1-2018 “Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 13-CT/TU, ngày 6-12-2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Uỷ ban Kiểm tra đảng uỷ xã, phường, thị trấn”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam ( 2020). Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XX, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh uỷ Hà Nam (2021). Báo cáo số 71-BC/TU ngày 31-6-2021 “Tổng kết công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh giai đoạn 2016-2020, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2021-2025”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình
Tỉnh ủy Hà Nam (2024). Báo cáo số 465-BC/TU ngày 14-3-2024 “Tổng kết 15 năm thực hiện Điều lệ Đảng (2011-2025)”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh uỷ Ninh Bình.