Tóm tắt: Đảng bộ Liên khu Việt Bắc (1949-1956) giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng trên địa bàn có vị thế chiến lược quan trọng của đất nước, bao gồm phần lớn vùng lãnh thổ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam1. Trong quá trình đó, Đảng bộ đã quán triệt, vận dụng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và căn cứ vào thực tiễn địa phương để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tến đạt được nhiều kết quả quan trọng, song cũng bộc lộ một số hạn chế và để lại những kinh nghiệm có thể vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Từ khóa: Đảng bộ Liên khu Việt Bắc; nhiệm vụ kinh tế; ưu điểm; hạn chế; kinh nghiệm

Ngay sau khi thành lập (1949), thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền kinh tế kháng chiến, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã xác định cùng với nhiệm vụ quân sự,  nhiệm vụ kinh tế là một trong hai nhiệm vụ căn bản, cấp bách của Liên khu Việt Bắc (Liên khu), trên cơ sở đó đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện khẩn trương. Căn cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể của Liên khu, Đảng bộ đã lãnh đạo xây dựng và phát triển các lĩnh vực: nông nghiệp, công thương nghiệp, giao thông vận tải, tài chính, đấu tranh kinh tế với địch, trong đó, tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, đời sống kinh tế tại Liên khu đã vận hành trong điều kiện kháng chiến, đạt được những kết quả to lớn, đóng góp vào thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân trên địa bàn Việt Bắc, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau khi hòa bình lập lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Liên khu nhanh chóng triển khai, thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế, tiến hành thực hiện chính sách ruộng đất, góp phần xây dựng, củng cố miền Bắc thành hậu phương của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tạo dựng những cơ sở vật chất ban đầu cho CNXH. Trong quá trình lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế, Đảng bộ Liên khu có nhiều ưu điểm, đồng thời, cũng bộc lộ một số hạn chế và để lại những kinh nghiệm có thể vận dụng trong giai đoạn hiện nay. 

1. Những ưu điểm và hạn chế
Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Chính phủ vào thực tiễn, Đảng bộ Liên khu đã có nhiều ưu điểm, đạt nhiều thành tựu trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế.
Đảng bộ Liên khu luôn chủ động quán triệt, vận dụng đường lối của Đảng, đề ra chủ trương sát hợp với thực tiễn của Liên khu
Ngay từ khi thành lập, trong hoàn cảnh kháng chiến, Đảng bộ Liên khu đã quán triệt sâu sắc đường lối kinh tế của Đảng, kịp thời vận dụng vào điều kiện thực tiễn của địa phương, coi lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế như một nhân tố quyết định để xây dựng hậu phương vững chắc cho cả nước. Quán triệt tinh thần Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng (2-1950) về phát triển “kinh tế dân chủ nhân dân”, cải thiện đời sống nhân dân, thi hành chính sách ruộng đất đúng mức và đấu tranh kinh tế với địch…, tại Hội nghị cán bộ toàn Liên khu Việt Bắc lần thứ nhất (3-1950) và Hội nghị quân, dân, chính trung du (9-1950), Liên Khu ủy chỉ rõ phương hướng thực hiện nhiệm vụ kinh tế ở cả vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm; kết hợp tăng gia sản xuất với đấu tranh kinh tế với địch, bảo vệ mùa màng. Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội II của Đảng (2-1951), tháng 5-1951, Đại hội Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lần thứ nhất khẳng định nhiệm vụ kinh tế là một trong hai nhiệm vụ cấp bách nhất; yêu cầu các cấp ủy phải chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động trong thực hiện nhiệm vụ kinh tế. Đại hội đề ra 6 nhiệm vụ kinh tế của Liên khu: “phổ biến và chuẩn bị thi hành thuế nông nghiệp”, “thực hiện vụ mùa thắng lợi nhằm vào hướng tăng diện tích đi đôi với tăng năng suất”, “phát triển công thương nghiệp”, “củng cố nền tài chính”, “tích cực đấu tranh kinh tế với địch”, “thành lập các Ban Kinh tế - Tài chính các cấp”2.
Chủ trương của Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ nhất nhanh chóng được Liên Khu ủy, các cấp ủy quán triệt, cụ thể hóa thành những chỉ đạo cụ thể trong quá trình lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế. Hội nghị Ban Thường vụ Liên Khu ủy (7-1951) đề ra chủ trương “Thường xuyên bảo vệ dụng cụ, mùa màng, thóc gạo, kênh máng... bảo vệ thóc gạo, hoa màu đã thu hoạch và bảo vệ dân làm vụ mùa"3; Công văn chỉ đạo của Ban Thường vụ Liên Khu gửi các tỉnh (12- 1951) nhấn mạnh: “trong việc sản xuất, phải đặc biệt chú ý sản xuất nông nghiệp"4; Nghị quyết Hội nghị Liên Khu ủy (9-1952) chủ trương phát triển sản xuất phải đi đôi với việc chống cướp phá của địch; Đề án công tác kinh tế - tài chính năm 1953 của Liên Khu ủy đề ra trọng tâm công tác là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, đồng thời phát triển công thương nghiệp, nghề phụ gia đình và chấn chỉnh công tác mậu dịch, tài chính, giao thông vận tải; Nghị quyết Hội nghị Liên khu (1-1954) chủ trương đẩy mạnh sản xuất lương thực đi đôi với phát triển chăn nuôi, phát triển tiểu công nghệ và thủ công, tăng cường công tác tài chính, mậu dịch…
Trên cơ sở chủ trương đề ra, Đảng bộ chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế, đưa phong trào kháng chiến - kiến quốc ở Liên khu đi đến thắng lợi.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ Liên khu đã khẩn trương quán triệt vận dụng chủ trương của Đảng, đồng thời, căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương, chuyển nhiệm vụ kinh tế kháng chiến, sang khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, phòng đói, cứu đói, ổn định đời sống nhân dân; góp phần khôi phục kinh tế miền Bắc. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị (9-1954), cuối năm 1954, Liên Khu ủy ban hành Nghị quyết số 49-NQ/LKVB (11-1954) và Nghị quyết số 50-NQ/LKVB (12-1954), chủ trương tập trung khôi phục kinh tế, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp. Tiếp đó, Liên Khu ủy ban hành nhiều nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ kinh tế, như: Nghị quyết Hội nghị Liên Khu ủy Việt Bắc (5-1955) đề ra chủ trương về thực hiện nhiệm vụ kinh tế, nhấn mạnh nhiệm vụ trung tâm của Đảng bộ trong năm 1955 là lãnh đạo khôi phục kinh tế; Nghị quyết số 14-NQ/LKVB của Liên Khu ủy (10-1955), chủ trương đẩy mạnh mọi hoạt động của công tác kinh tế - tài chính mà "chủ yếu là sản xuất nông nghiệp để bảo đảm cung cấp cho quốc gia, giảm bớt dần dần khó khăn và nâng cao dần dần mức sống cho nhân dân, phục hồi nền kinh tế quốc dân, trước mắt là giải quyết nạn đói"5; Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu Việt Bắc mở rộng (số 17-NQ/LKVB, ngày 31-12-1955), chủ trương khôi phục công thương nghiệp như khai thác các mỏ khoáng sản thiếc, than, phốt phát; các nhà máy chè, tơ, sợi; khôi phục buôn bán với nước ngoài… Tháng 4-1956, Hội nghị Liên Khu ủy đề ra chủ trương, kế hoạch cụ thể về cải cách ruộng đất ở miền núi với phương châm là thực hiện theo từng đợt, mỗi đợt tiến hành trong phạm vi một số tỉnh, các tỉnh khu vực trung du trước, sau đó là các tỉnh miền núi…
Đảng bộ Liên khu luôn bám sát thực tiễn từng lĩnh vực và lãnh đạo, chỉ đạo đạt những kết quả quan trọng, phục vụ nhu cầu của Liên khu và đóng góp vào nhiệm vụ kinh tế của cả nước
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, trong những năm kháng chiến, trên cơ sở xác định rõ vai trò then chốt của sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ đã tập trung chỉ đạo các cấp ủy đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, mở rộng diện tích canh tác, kết hợp phát triển trồng trọt với chăn nuôi6. Các biện pháp hỗ trợ nông dân như cung cấp giống, nông cụ, hướng dẫn cải tiến kỹ thuật, chú trọng công tác thủy lợi vừa và nhỏ được triển khai phù hợp với điều kiện miền núi. Nhiều phong trào thi đua sản xuất được phát động và lan tỏa sâu rộng, góp phần khắc phục tình trạng thiếu đói, ổn định đời sống nhân dân trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Vì vậy, diện tích và sản lượng trồng trọt, số lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm không ngừng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước7. Sau khi hòa bình được lập lại, Đảng bộ Liên khu tập trung chỉ đạo khôi phục và phát triển nông nghiệp. Việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, phát triển lúa nước ở vùng thấp, trồng cây lương thực ngắn ngày ở vùng cao được thực hiện đồng bộ. Cùng với đó, việc triển khai chính sách giảm tô, tiến tới cải cách ruộng đất đã tạo điều kiện cho nông dân có tư liệu sản xuất, khơi dậy động lực lao động, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp từng bước ổn định và phát triển. Từ kết quả trên trong sản xuất nông nghiệp, đã ổn định và cải thiện được đời sống nhân dân, đẩy lùi được nạn đói ở Liên khu và tích cực đóng góp cho Nhà nước, phục vụ kháng chiến cũng như củng cố miền Bắc sau hòa bình lập lại8.
Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, xuất phát từ điều kiện cụ thể của Liên khu và trong hoàn cảnh kháng chiến, Đảng bộ đã định hướng phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống nhằm phục vụ trực tiếp nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và kháng chiến. Các nghề rèn, mộc, dệt vải, làm giấy, chế biến lương thực, thực phẩm được duy trì và phát triển dưới nhiều hình thức linh hoạt, trong đó có các tổ hợp tác, tổ sản xuất nhỏ gắn với kinh tế hộ gia đình, góp phần quan trọng trong việc cung cấp công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng thiết yếu và giải quyết việc làm cho nhân dân. Đảng bộ chỉ đạo mở rộng mạng lưới mậu dịch nhân dân, chợ lưu động, tạo điều kiện lưu thông hàng hóa giữa các vùng trong Liên khu, giữa Liên khu với các địa phương khác trong cả nước và với Trung Quốc. Việc khai thác các sản phẩm như quế, hồi, sa nhân để trao đổi buôn bán đã góp phần đáp ứng nhu cầu vật tư, hàng hóa thiết yếu, đồng thời giữ ổn định thị trường và đời sống nhân dân. Sau khi hòa bình lập lại, Đảng bộ tiếp tục chỉ đạo khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống, mở rộng hệ thống chợ phiên, phát triển các hợp tác xã mua bán, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa miền núi và miền xuôi. Năm 1955, ở Liên khu có 66 cửa hàng bách hóa, lương thực, lâm thổ sản, đến năm1956 đã tăng lên 100 cửa hàng9.
Trong lĩnh vực tài chính, trong kháng chiến, Đảng bộ Liên khu đã chỉ đạo thực hiện nhất quán chủ trương tăng thu, giảm chi, thực hành tiết kiệm trong mọi lĩnh vực. Việc triển khai chính sách thuế nông nghiệp theo lũy tiến từ năm 1951, Liên khu Việt Bắc là địa bàn thí điểm, được tổ chức chặt chẽ, đúng tinh thần đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn. Năm 1951, Liên khu Việt Bắc đã đóng góp 81.542 tấn thóc, chiếm tới 37% tổng số thu thuế nông nghiệp cả nước10. Công tác thu thuế được gắn với bồi dưỡng sức dân, khuyến khích sản xuất, đồng thời bãi bỏ các hình thức đóng góp cũ, quản lý chặt chẽ việc thu - chi, kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí. Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, Đảng bộ tập trung chỉ đạo kiện toàn bộ máy tài chính các cấp, chỉ đạo công tác huy động và sử dụng nguồn lực được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện mới. Nhờ đó, Liên khu tự chủ được một phần tài chính, phục vụ các hoạt động khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội và bảo đảm một phần đời sống nhân dân các dân tộc trong Liên khu.  
Trên lĩnh vực đấu tranh kinh tế với địch, trong những năm kháng chiến, Đảng bộ Liên khu chỉ đạo sát sao, triển khai đồng bộ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị. Việc xây dựng thế trận kinh tế - quốc phòng, bảo vệ mùa màng, tuyến vận tải, cơ sở sản xuất và kho tàng hậu cần được tổ chức chặt chẽ. Sau ngày hòa bình lập lại, Đảng bộ tiếp tục chỉ đạo bảo vệ thị trường nội địa, ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hóa từ vùng tạm chiếm, đẩy mạnh phong trào tự lực, tự cường, phát huy nội lực nhằm giữ vững nền kinh tế tự chủ của Liên khu.
Nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc có nhiều ưu điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ kinh tế, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần củng cố hậu phương, phục vụ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời tạo nền tảng thực tiễn cho quá trình khôi phục và phát triển kinh tế sau hòa bình lập lại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc cũng bộc lộ một số hạn chế:
Trong thời kỳ kháng chiến, một bộ phận cấp ủy đảng địa phương và cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ kinh tế, cho rằng, nhiệm vụ kháng chiến, nhiệm vụ quân sự mới đóng vai trò chính, nhiệm vụ kinh tế chỉ đóng vai trò phục vụ; chưa nắm vững quan điểm kháng chiến toàn diện của Đảng, chưa nắm chắc sự chỉ đạo của cấp trên về kinh tế, thiếu kinh nghiệm dẫn đến sự chỉ đạo, điều hành chưa sâu sát và quyết liệt. Chỉ thị của Ban Thường vụ Liên Khu ủy gửi các tỉnh ủy (9-1952) chỉ rõ: “Các cấp ủy chưa thật nắm lấy sự lãnh đạo công tác kinh tế- tài chính, thường khoán trắng cho các đồng chí phụ trách…”11. Sau khi hòa bình lập lại, trong nhận thức của nhiều cấp ủy về kinh tế vẫn còn thiếu tính toàn diện, nhận thức chưa đầy đủ về phát triển kinh tế, nhất là ở những địa bàn miền núi. Báo cáo Tổng kết tại Hội nghị cán bộ toàn Liên khu Việt Bắc của Ban Thường vụ Liên Khu ủy (19-10-1955) viết: nhận thức tầm quan trọng của công tác kinh tế - tài chính “chưa đúng mức, chưa quyết tâm và đi sâu… lãnh đạo về sản xuất còn yếu kém, nhất là sản xuất ở miền núi”12.
Chỉ đạo nhiệm vụ kinh tế trong hoàn cảnh kháng chiến, nhiều cấp ủy trong một số thời điểm còn chưa sâu sát, lỏng lẻo, lúng túng trong điều hành. Đại hội đại biểu Liên khu Việt Bắc lần thứ nhất chỉ rõ: Liên khu “thiếu hẳn một kế hoạch kinh tế - tài chính lâu dài… quá lệch về sản xuất nông nghiệp, sao nhãng phát triển công thương nghiệp… giải quyết vấn đề kinh tế - tài chính một cách tạm bợ”13. Sau hòa bình lập lại, một số cấp ủy địa phương có hiện tượng thiếu quyết tâm đạt chỉ tiêu cấp trên giao, nảy sinh tư tưởng “làm được đến đâu hay đến đó”; nhiều chỉ đạo mang tính hình thức, chạy theo phong trào, thiếu kế hoạch sản xuất. Báo cáo bổ sung của Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu Việt Bắc về công tác kinh tế - tài chính tại Hội nghị cán bộ toàn Liên khu (tháng 9-1955) cũng chỉ ra: “Trong công tác thực hiện lại mắc bệnh quan liêu, xa rời thực tế, tác phong hời hợt, không đi sâu, thiếu điều tra, nghiên cứu, làm việc sự vụ”14.
Trong thực hiện chính sách ruộng đất, Đảng bộ Liên khu cũng có những khuyết điểm, chưa sâu sát điều tra kỹ lưỡng tình hình ở nông thôn, có hiện tượng nóng vội, vừa “tả” khuynh vừa “hữu” khuynh trong thực hiện giảm tô cũng như trong triển khai nhiệm vụ cải cách ruộng đất ở một số địa phương thuộc Liên khu. Việc tuyên truyền về chính sách ruộng đất của Đảng đã bộc lộ sự cứng nhắc, “hẹp hòi”, như có nơi chủ trương không tuyên truyền cho địa chủ, chỉ tập trung tuyên truyền đối với nông dân và ngay trong nông dân, cũng chỉ tuyên truyền cho những người tham gia Nông hội. Một số địa phương như Tuyên Quang lại “hết sức sai lầm” khi cho rằng: “sự lãnh đạo cách mạng ở nông thôn là bần cố nông”, ở Bắc Kạn “phát động quần chúng không dựa vào chi bộ”15

2. Một số kinh nghiệm
Từ thực tế lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế của Đảng bộ Liên khu trong những năm 1949-1956, có thế đúc rút những kinh nghiệm sau:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế. Trong điều kiện chiến tranh cũng như hòa bình, giữ vững và nâng cao sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò quyết định thắng lợi trong nhiệm vụ kinh tế. Trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh, việc tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với nhiệm vụ kinh tế ở Liên khu Việt Bắc có ý nghĩa sống còn đối với cuộc kháng chiến và kiến quốc. Thực tiễn khôi phục kinh tế ở Liên khu Việt Bắc sau ngày hòa bình lập lại cũng cho thấy, ở đâu các cấp ủy đảng tăng cường sự lãnh đạo, bám sát thực tiễn thì ở đó kinh tế đạt kết quả cao. Sự lãnh đạo đúng đắn, sát thực tiễn của các cấp ủy đảng đã bảo đảm huy động tối đa nguồn lực tại chỗ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân trong xây dựng kinh tế. Các cấp ủy đảng đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế phù hợp với địa phương, gắn chặt sản xuất với nhiệm vụ quốc phòng, bảo đảm lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cho bộ đội và nhân dân. Vai trò của Đảng không chỉ là ngọn cờ lãnh đạo chính trị mà còn là trụ cột trong việc định hướng và thúc đẩy phát triển kinh tế kháng chiến. Thường xuyên củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng là điều kiện hàng đầu, tiên quyết đối với việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế. Đó chính là thành tựu, cũng là bài học kinh nghiệm lớn từ quá trình Liên khu Việt Bắc lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế những năm  1949-1956 và vẫn còn giá trị trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, vận dụng sáng tạo, linh hoạt đường lối kinh tế của Đảng vào điều kiện thực tiễn địa phương.Bottom of Form Trong suốt quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế (từ tháng 11-1949 đến tháng 8-1956), Đảng bộ Liên khu luôn quán triệt và nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, đồng thời, linh hoạt vận dụng các chủ trương của Trung ương phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương theo phương châm phát huy thế mạnh vùng căn cứ cách mạng, tận dụng nguồn lực tại chỗ và huy động sức dân; nhờ đó, kinh tế kháng chiến ở Việt Bắc phát triển ổn định. Sự kết hợp hài hòa giữa chỉ đạo từ Trung ương với sáng tạo trong tổ chức thực hiện ở cơ sở chính là yếu tố quyết định mang lại những kết quả tích cực. Nhờ vậy, Liên khu không chỉ bảo đảm đời sống nhân dân mà còn vững vàng làm hậu phương lớn cho tiền tuyến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tiếp tục định hướng và tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các địa phương, tuy nhiên việc cụ thể hóa đường lối, chính sách trên cơ sở lợi thế của địa phương phải do mỗi địa phương áp dụng một cách chủ động, sáng tạo mới mang lại hiệu quả cao.
Ba là, phát huy sức mạnh của nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nhiệm vụ kinh tế. Nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân, quán triệt quan điểm của Đảng, căn cứ vào đặc điểm cụ thể về xã hội và dân cư trong Liên khu, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã xác định vận động, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để lãnh đạo nhiệm vụ kinh tế. Đảng bộ đã tập trung thực hiện công tác dân vận, qua đó, nâng cao nhận thức cách mạng trong nhân dân, làm cho quần chúng tự nguyện thực hiện các chính sách kinh tế của Đảng, Chính phủ; thúc đẩy phong trào sản xuất và huy động đóng góp cho cách mạng một cách tự nguyện, hiệu quả. Đảng bộ đặc biệt coi trọng củng cố, xây dựng các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt Minh, Hội Liên Việt, Mặt trận Liên Việt, tạo nên khối đoàn kết, thống nhất giữa các giai cấp, dân tộc, tôn giáo trên địa bàn Liên khu trong xây dựng kinh tế. Hội Nông dân cứu quốc đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức tự lực, tự cường, yêu lao động, quý trọng sản xuất và tiết kiệm trong nhân dân. Đặc biệt, các địa phương đã quan tâm chăm lo đời sống, thực hiện những chính sách kinh tế bảo đảm lợi ích thiết thực của nhân dân các dân tộc trong Liên khu. Trong thời gian đầu sau hòa bình lập lại, Đảng bộ xác định phải chăm lo, cải thiện đời sống nhân dân, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng trong phục hồi kinh tế, củng cố miền Bắc. Khi nạn đói hoành hành, đe dọa đời sống nhân dân, Đảng bộ Liên khu đã chủ trương "cứu đói như cứu lửa", yêu cầu tất cả các cấp, các ngành vận động, tổ chức nhân dân để đẩy mạnh sản xuất… Nhờ xác định nguồn lực chủ yếu ở nơi dân, dựa vào dân đề thực hiện nhiệm vụ kinh tế, Đảng bộ Liên khu đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp vận động, tổ chức nhân dân tham gia xây dựng kinh tế kháng chiến, đóng vai trò to lớn trong khôi phục kinh tế sau hòa bình lập lại ở miền Bắc.
Bốn là, phát triển kinh tế theo hướng toàn diện, có trọng tâm, phù hợp với tiềm năng và trình độ sản xuất của nhân dân. Trong quá lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế (1949-1956), Đảng bộ Liên khu đã quan tâm lãnh đạo phát triển tương đối toàn diện các lĩnh vực kinh tế, từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, bảo vệ kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch… Đặc biệt, căn cứ vào tiềm năng, điều kiện cụ thể và khả năng, trình độ sản xuất của nhân dân, Đảng bộ Liên khu luôn xác định nông nghiệp là thế mạnh của Liên khu và chủ trương đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bằng nhiều biện pháp, từng bước thực hiện chính sách về ruộng đất. Xây dựng kinh tế mang tính toàn diện, đồng thời, tập trung phát triển khu vực kinh tế có tiềm năng, lợi thế, phù hợp với trình độ sản xuất của nhân dân là một hướng đi, một phương thức mang lại hiệu quả cao trong xây dựng phát triển kinh tế ở Liên khu Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như sau ngày miền Bắc được giải phóng. Đó cũng là một bài học có nghĩa thực tiễn của Đảng bộ Liên khu trong lãnh đạo kinh tế những năm 1949-1956, vẫn còn có ý nghĩa trong nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay.  

 


Ngày nhận bài 27-12-2025; ngày thẩm định 25-1-2026; ngày duyệt đăng 31-1-2026
1. Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thành lập tháng 11-1949 và kết thúc nhiệm vụ vào tháng 8-1956, có nhiệm vụ l
ãnh đạo phong trào cách mạng tại một địa bàn chiến lược rộng lớn. Từ 1949 đến năm 1952, Đảng bộ lãnh đạo 17 tỉnh (Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai, Yên BáiBắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Quảng Yên, Hải Ninh);  đặc khu Hồng Gai và huyện Mai Đà của tỉnh Hòa Bình. Từ năm 1952 đến năm 1954, do 4 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái tách ra để thành lập Khu Tây Bắc, Đảng bộ lãnh đạo 13 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Phúc Yên, Vĩnh YênHải Ninh, Quảng Yên); 1 đặc khu là đặc khu Hồng Gai (Hòn Gai). Từ năm 1954 đến đầu 1955, do 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái sáp nhập trở lại Liên khu Việt Bắc, Đảng bộ lãnh đạo 15 tỉnh và 1 đặc khu. Đến tháng 2-1955, đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên tách ra thành lập khu Hồng Quảng trực thuộc Trung ương, Đảng bộ lãnh đạo 13 tỉnh còn lại.  
2, 3, 4, 11, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Liên Khu ủy Việt Bắc, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 6, tr. 124-126, 220, 337, 746, tr. 94
5.  Sđd, T. 8, tr. 571
6. Xem thêm: ThS Đinh Thị Thu Phương: “Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo phát triển sản xuất nông nghiệp (1949 - 1954)”, Tạp chí Lịch Sử Đảng, số 405 (8-2024), tr. 96-101
7. Năm 1953, đã tăng diện tích thêm được 25.913 mẫu lúa và 12.689 mẫu hoa màu... So với năm 1952 vượt diện tích hơn 1.000 mẫu nhiều nhất là ngô khoai. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Liên Khu ủy Việt Bắc, Sđd, T. 8, tr.72
8. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Liên khu Việt Bắc đã cung cấp 4.680 tấn lương thực. Xem: Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 -1975), Nxb QĐND, H, 1990, T. I, tr. 353
9. Liên hiệp các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban hành chính Liên khu Việt Bắc (1948-1956) và Ủy ban hành chính khu tự trị Việt Bắc (1956-1976): “Thống kê tiểu thủ công nghiệp 3 năm (1955-1957) của Khu tự trị Việt Bắc”, tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Hồ sơ 44, tr. 58
10. Bộ Tài chính: 75 năm tài chính Việt Nam, Nxb Tài chính, H, 2020
12, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Liên Khu ủy Việt Bắc, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 9, tr. 476, 476
15. Sđd, T. 7, tr.403 - 412.