29/04/2026 - 11:10 PM - 256 lượt xem
Tóm tắt: Phát triển kinh tế biển là chủ trương lớn của Đảng đã được tổ chức triển khai thực hiện từ nhiều năm qua và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đối với huyện Trần Đề (tỉnh Sóc Trăng), phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng, không những là động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP, mà còn tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Bài viết tập trung làm rõ chủ trương của Đảng bộ huyện Trần Đề trong lãnh đạo phát triển kinh tế biển; kết quả đạt được và những kinh nghiệm được đúc rút trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển trong giai đoạn 2010 - 2020, nhất là nuôi trồng thủy hải sản đã chuyển dịch từ nuôi trồng quảng canh sang thâm canh công nghệ cao và hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Những kinh nghiệm được đúc kết là cơ sở để Đảng bộ huyện tiếp tục khơi thông tiềm năng địa phương, phát triển sản xuất, kinh doanh, nhằm đưa Trần Đề trở thành vùng kinh tế biển trọng điểm trong giai đoạn tiếp theo.
Từ khóa: Đảng bộ huyện Trần Đề; kinh tế biển; 2010-2020
Ngày nhận bài: 8-4-2026; ngày thẩm định: 16-4-2026; ngày duyệt đăng: 27-4-2026
Le Tuan Khanh: Tran De District Party Committee leads the development of the marine economy (2010-2020) - Achievements and experiences
Abstract: Marine economic development has long been a cornerstone of the Communist Party’s strategic agenda, yielding significant achievements through years of sustained implementation. In Tran De District, the marine economy serves as a vital pillar of socio-economic progress; it is not only a primary driver of GDP growth but also a key factor in job creation, livelihood improvement, and the reinforcement of national defense and maritime sovereignty. This article elucidates the leadership strategies of the Tran De District Party Committee in steering marine economic growth from 2010 to 2020. Central to this analysis is the structural transformation of the aquaculture sector transitioning from traditional extensive farming to high-tech intensive models and the modernization of the offshore fishing fleet in close alignment with national security objectives. The lessons derived from this period provide a critical foundation for the District Party Committee to further unlock local potential and optimize production and business activities, with the ultimate goal of establishing Tran De as a focal marine economic hub in the coming phase.
Keywords: Tran De District Party Committee; Marine economy; (2010-2020)
1. Đặt vấn đề
Huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng được thành lập theo Nghị quyết số 64/NQ-CP ngày 23-12-2009 của Chính phủ. Là cửa ngõ tuyến hàng hải lớn của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với vị trí địa lý thuận lợi 12 km đường bờ biển, huyện Trần Đề có tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế biển. Đảng bộ huyện xác định kinh tế biển là một trong những ngành mũi nhọn giữ vai trò quyết định trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm củng cố quốc phòng - an ninh của địa phương. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, gắn với nhiệm vụ chính trị ở các địa phương vùng duyên hải Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử giúp phục dựng lại tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trần Đề qua 1 thập kỷ theo trình tự thời gian; phương pháp logic giúp luận giải mối quan hệ nhân - quả và đúc rút các quy luật vận động thực tiễn. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê được kết hợp chặt chẽ để hệ thống hóa tư liệu, định lượng hóa các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Sự phối hợp này đảm bảo tính hệ thống, khách quan trong việc đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong phát triển kinh tế biển.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ huyện Trần Đề
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Trần Đề nhiệm kỳ 2010-2015 xác định phát triển kinh tế biển phải gắn với đặc thù địa phương, trong đó nhấn mạnh: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nhất là kinh tế biển” (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2010, tr. 3). Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của cấp trên, Đảng bộ đề ra mục tiêu định hướng phát triển ngành khai thác thủy sản, coi đó là mũi nhọn, động lực trong phát triển kinh tế.
Để cụ thể hóa mục tiêu trên, Đảng bộ huyện Trần Đề ban hành Nghị quyết số 06-NQ/HU, ngày 11-7-2011 về phát triển nông nghiệp, thủy sản giai đoạn 2011 - 2015, với mục tiêu đưa ngành thủy sản phát triển ổn định có lộ trình. Nghị quyết xác định định hướng phát triển để giúp ngư dân tiếp cận phương thức nuôi trồng thủy hải sản theo hướng đa canh, khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế biển đi đôi với phát triển bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao. Đây là một hướng đi chiến lược mới được cụ thể hóa bằng các chương trình hành động thực tiễn, nhằm đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển.
Phát huy lợi thế của điều kiện tự nhiên, Đảng bộ chủ trương quy hoạch lại vùng nuôi trồng thủy sản trên toàn địa bàn. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu từ hình thức quảng canh và bán quảng canh sang nuôi tôm công nghiệp, tăng cường ứng dụng công nghệ cao. Trong tổng diện tích 6.035 ha quy hoạch nuôi trồng thủy sản, Đảng bộ chỉ đạo tập trung thâm canh 4.360 ha diện tích nuôi tôm; trong đó, mô hình nuôi công nghiệp giữ vai trò chủ đạo với 3.983 ha (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2010, tr.4). Đây được xem là tư duy sáng tạo về mặt chiến lược, thể hiện sự quyết liệt của Đảng bộ, tạo tiền đề vững chắc cho việc hình thành các vùng chuyên canh nuôi thủy sản quy mô lớn.
Xác định hạ tầng là yếu tố cốt tử cho kinh tế biển, Đảng bộ huyện Trần Đề tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và hệ thống cảng biển đồng bộ; phối hợp nạo vét các bến cảng sông đầu mối; củng cố hệ thống đê biển xung yếu và nâng cao năng lực khai thác của cảng cá Trần Đề. Đặc biệt, tầm nhìn của Đảng bộ huyện Trần Đề không chỉ dừng lại ở việc quản lý một cảng cá địa phương, mà đã chủ động định hướng, kiến nghị phát triển. Sự kết hợp giữa đầu tư hạ tầng hậu cần nghề cá và hạ tầng giao thông biển trong giai đoạn này tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa khai thác, dịch vụ và thương mại, đặt nền móng đầu tiên cho hành trình sớm đưa Trần Đề trở thành cửa ngõ kinh tế biển quan trọng của cả vùng.
Thực hiện Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 7-7-2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, Đảng bộ huyện Trần Đề đã xác định chuyển từ đánh bắt ven bờ sang khai thác xa bờ và coi đây là cơ sở nền tảng cho định hướng phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tầm nhìn chiến lược này được cụ thể hóa bằng các chính sách hỗ trợ ngư dân sửa chữa, đóng mới và nâng cấp tàu công suất, chuyển dần từ khai thác gần bờ sang đánh bắt xa bờ. Tiếp tục củng cố các tổ đội hiện có và thành lập mới ít nhất 2 tổ đội khai thác thủy sản trên biển có công suất máy từ 200CV trở lên, gắn với tham gia bảo vệ an ninh, an toàn chủ quyền vùng biển (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2015b, tr.15).
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Trần Đề, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định: khai thác hải sản xa bờ và nuôi tôm công nghiệp là trụ cột cho tăng trưởng kinh tế địa phương, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục xác định thủy sản là kinh tế mũi nhọn; tập trung nuôi tôm theo hướng công nghệ cao, bền vững, có 20% diện tích nuôi theo mô hình nhà kính, phủ bạc, VietGap,... (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2015, tr.15) trên cơ sở tăng cường công tác quản lý, giám sát vùng nuôi và quản lý môi trường chặt chẽ. Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trần Đề trong giai đoạn này không chỉ dừng lại ở mục tiêu tăng trưởng đơn thuần, mà còn gắn kết chặt chẽ giữa phát triển khai thác nguồn lợi từ kinh tế biển một cách bền vững với tăng cường nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Thực hiện Quyết định số 1976/QĐ-TTg, ngày 12-11-2015 của Thủ tướng Chính phủ “về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, Đảng bộ và chính quyền huyện Trần Đề đã chỉ đạo tập trung mọi nguồn lực để nâng cấp, mở rộng Cảng cá Trần Đề, khai thác bền vững và hiệu quả nguồn lợi từ biển. Cùng với việc hiện đại hóa hạ tầng, huyện chỉ đạo hoàn thiện hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá đồng bộ, quyết tâm thực hiện mục tiêu đưa cảng cá Trần Đề vươn tầm, được xếp vào nhóm 15 cảng cá lớn của cả nước.
2.2. Một số kết quả
Một là, ngành thủy sản được xác định là một trong những trụ cột của kinh tế biển ở Trần Đề với sự đổi mới căn bản về tư duy quản lý và khai thác. Ngành thủy sản đã chuyển đổi từ mô hình nuôi quảng canh sang phương thức nuôi thâm canh công nghệ cao. Đây không chỉ là thay đổi về kỹ thuật, mà là sự đổi mới tư duy mang tính bước ngoặt trong chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, bền vững, tập trung vào ứng dụng khoa học, công nghệ cao, nuôi trồng tuần hoàn và khai thác có trách nhiệm, nhằm nâng cao giá trị, năng suất, bảo vệ môi trường sinh thái. Năm 2010, toàn huyện có 6 hợp tác xã nuôi trồng, 1 hợp tác xã khai thác và 7 Câu lạc bộ khuyến ngư. Mô hình nuôi tôm công nghiệp phát triển mạnh mẽ, chiếm trên 70% diện tích nuôi tôm của địa phương (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2010, tr.2). Việc nuôi thủy sản theo phương thức hiện đại hóa được thể hiện qua việc áp dụng các mô hình kỹ thuật cao như: hệ thống nhà kính và quy trình VietGAP, nên đã kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, giúp giảm tỷ lệ thiệt hại từ 17,96% năm 2015 giảm xuống còn 4,29% năm 2019 (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2020, tr. 5).
Trong giai đoạn 2010-2020, mặc dù diện tích nuôi trồng có sự điều chỉnh từ 6.428 ha năm 2015 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2015b, tr. 2) xuống còn 5.872,6 ha năm 2020 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2020, tr. 2), nhưng sản lượng tăng trưởng vượt bậc, từ 21.812 tấn (2010) lên 32.137,2 tấn năm 2020 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2010, tr.1). Điều này minh chứng cho sự thành công trong chiến lược tập trung hóa vùng nuôi công nghiệp và ứng dụng khoa học, công nghệ cao. Việc giảm quy mô diện tích, đồng thời gia tăng năng suất phản ánh tư duy đổi mới trong quản lý tài nguyên, chuyển đổi phương thức nuôi trồng nhằm bảo đảm tính bền vững cho hệ sinh thái; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Nhờ vậy, tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tăng trưởng khá, đạt 29.669 tấn năm 2010 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2010, tr.1), tăng lên 46.970 tấn năm 2015 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2015, tr.2) và đạt 55.572 tấn vào năm 2020 (Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề, 2020, tr. 2).
Để bảo đảm khai thác mang tính bền vững, việc phân định quản lý ngư trường được thực hiện trên cả 3 tuyến (tuyến khơi, tuyến lộng và tuyến ven bờ), trong đó ngư trường khai thác bao gồm cả khai thác xa bờ và khai thác gần bờ. Đồng thời, có các cơ chế và chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu khai thác thuỷ sản. Đến năm 2020, toàn huyện có 620 tàu trong đó, có 339 tàu khai thác thủy sản xa bờ, 267 tàu khai thác gần bờ, 14 tàu dịch vụ hậu cần (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2020, tr.5), góp phần nâng cao chất lượng trong khai thác, đem lại hiệu quả kinh tế cho ngư dân.
Việc chế biến thủy sản tiếp tục được quan tâm, khuyến khích phát triển. Nhờ đó, quy mô sản xuất của ngành công nghiệp chế biến thủy, hải sản huyện Trần Đề không ngừng được mở rộng. Đến năm 2020, toàn Huyện có 459 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó gồm 29 doanh nghiệp tư nhân và 430 cơ sở sản xuất cá thể, với tổng số 2.120 lao động đang làm việc trong lĩnh vực này (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2020, tr.6).
Hai là, dịch vụ cảng biển và cụm công nghiệp ven biển được đầu tư phát triển. Để phát triển đồng bộ dịch vụ, hậu cần nghề cá và các cơ sở hạ tầng liên quan phục vụ phát triển kinh tế thủy sản được quan tâm đầu tư. Đặc biệt, các cụm, khu công nghiệp ven biển được đầu tư xây dựng, cải tạo nhằm khai thác lợi thế vị trí cửa sông, cảng biển. Nhiều công trình trọng điểm được xây dựng và đưa vào sử dụng đem lại hiệu quả tích cực như: khu neo đậu cho tàu của ngư dân tránh trú bão, cảng cá Trần Đề, bến cá Mỏ Ó, khu công nghiệp Trần Đề, khu thương mại Trần Đề. Với tầm nhìn chiến lược về định hình hệ sinh thái dịch vụ cảng và logistics, ngoài việc khai thác hiệu quả cảng cá Trần Đề, Đảng bộ huyện chỉ đạo quyết liệt việc phối hợp thực hiện quy hoạch và triển khai dự án cảng biển nước sâu Trần Đề. Theo Quyết định 828/QĐ-TTg ngày 12-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ “Về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Trần Đề”, Khu Công nghiệp Trần Đề có quy mô 160 ha, tổng vốn đầu tư là 1.230,26 tỷ đồng, với mục tiêu đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, xây dựng khu chế biến, kho bãi và dịch vụ hậu cần nghề cá, mở rộng không gian chiến lược, định hướng phát triển vùng ven biển Trần Đề kết hợp với hệ sinh thái đa ngành công nghiệp, cảng, logistics hiện đại, tăng kết nối với cảng biển và ven sông giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị cung ứng ngành thủy sản.
Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược về quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, việc quy hoạch đồng bộ dịch vụ cảng biển và du lịch được quan tâm thực hiện. Đã đưa vào vận hành tuyến vận tải đường thủy trọng điểm Trần Đề - Côn Đảo với sự tham gia của các đội tàu hiện đại như: tàu Superdong Côn Đảo I đầu tư 50 tỷ đồng, sức chứa 306 hành khách, vận tốc 26 hải lý/giờ (Hà Văn, 26-7-2017); tàu cao tốc hai thân, 2 tầng lớn nhất Việt Nam, với sức chứa 600 hành khách đã được Công ty tàu cao tốc Phú Quốc Express đưa vào khai thác hải trình Trần Đề - Côn Đảo (Huy Thịnh, 26-7-2019). Thông qua mô hình tổ, đội hợp tác sản xuất, những bước đi này không chỉ đa dạng hóa mô hình sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sinh kế cho nhân dân, mà còn khẳng định sự nhạy bén của Đảng bộ trong việc biến tiềm năng tự nhiên thành lợi thế, đưa huyện Trần Đề trở thành điểm sáng trong kinh tế biển của Đồng bằng sông Cửu Long. Đảng bộ đã kết hợp thành công mục tiêu kinh tế với nhiệm vụ chính trị, khẳng định vị thế của ngư dân là lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh và chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ được xác định là yếu tố then chốt, khơi thông sự kết nối giữa cửa ngõ cảng biển với vùng nội địa. Các tuyến giao thông huyết mạch đã tạo thành hệ thống vận tải đa phương thức hiệu quả. Đặc biệt, việc tập trung đầu tư hơn 20km đường giao thông đô thị tại hai điểm tập trung là Trần Đề và Lịch Hội Thượng không chỉ hoàn thiện diện mạo đô thị biển, mà còn thiết lập nền tảng vững chắc để tối ưu hóa chuỗi giá trị cung ứng, mở đường cho sự hình thành các phân khu dịch vụ hậu cần cảng biển quy mô và hiện đại (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2020, tr.3).
Hệ thống thủy lợi có sự chuyển dịch từ phục vụ nông nghiệp thuần túy sang mô hình tích hợp đa mục tiêu. Tăng cường kiểm soát nguồn nước thông qua việc nâng cấp tuyến đê bao và kè chống sạt lở, bảo đảm ngăn chặn hiệu quả sự xâm nhập của nước mặn từ sông và biển đi vào nội đồng. Điểm nổi bật là việc quy hoạch 50,5km hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, giúp kiểm soát tốt các chỉ số môi trường nước và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong mô hình nuôi tôm công nghệ cao. (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2020, tr.3).
Ba là, cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tích cực, theo hướng CNH, HĐH, giảm tỷ trọng khu vực I từ 58,85% (năm 2010) xuống còn 49,60%; thúc đẩy mạnh mẽ khu vực II lên 24,60% và khu vực III lên 25,80%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.020 USD, vượt 18,40% so với mục tiêu Nghị quyết là 1.706 USD và tăng mạnh 314 USD so với đầu nhiệm kỳ (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2015, tr.1). An sinh xã hội được bảo đảm, tạo sinh kế bền vững. Thông qua chiến lược phát triển các mô hình nuôi trồng thủy, hải sản quy mô lớn và các đội tàu đánh bắt xa bờ đã giải quyết việc làm cho người dân của địa phương với tổng số 17.421 lao động có việc làm mới. Đáng chú ý là sự chuyển dịch cơ cấu nhân lực theo hướng hiện đại: tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ tăng 42%, nhờ vào sự bứt phá của hệ thống chế biến thủy, hải sản và dịch vụ hậu cần ven biển (Đảng bộ huyện Trần Đề, 2015, tr.5).
Bên cạnh kết quả đạt được, phát triển kinh tế biển ở huyện Trần Đề vẫn còn hạn chế. Mặc dù được quan tâm đầu tư, nhưng hạ tầng được đầu tư xây dựng chưa đồng bộ. Sự thiếu hụt các phân khu chức năng chuyên biệt và cơ sở hạ tầng hỗ trợ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng yêu cầu vận hành của các ngành kinh tế biển ứng dụng công nghệ cao. Đây là một trong những thách thức lớn đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu tối ưu hóa giá trị gia tăng từ biển và bảo đảm tính hiệu quả bền vững trong chuỗi cung ứng kinh tế vùng. Khó khăn lớn trong phát triển kinh tế biển tại địa phương hiện nay là sự chênh lệch giữa tiềm năng nguyên liệu và năng lực chế biến thực tế. Công nghiệp chế biến chuyên sâu vẫn chưa được đầu tư xứng tầm với năng lực khai thác, dẫn đến tình trạng phần lớn các sản phẩm thủy hải sản vẫn dừng lại ở mức độ xuất khẩu thô hoặc sơ chế truyền thống. Hệ quả là giá trị của sản phẩm đầu ra thấp, chưa tạo được thương hiệu mạnh trên thị trường quốc tế và lãng phí lợi thế cạnh tranh từ nguồn tài nguyên bản địa. Bên cạnh khó khăn về nguồn ngân sách đầu tư, năng lực dự báo và ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn sâu vào nội đồng và sạt lở bờ biển nghiêm trọng vẫn là bài toán nan giải đối với mục tiêu phát triển, khai thác bền vững. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính toàn diện, lâu dài nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế biển ổn định và đời sống nhân dân trong những năm tiếp theo.
2.3. Một số kinh nghiệm
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trần Đề trong chiến lược phát triển kinh tế biển của địa phương. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong quá trình đó, Đảng bộ đã tổ chức quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy Sóc Trăng về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Từng bước đưa nghị quyết vào thực tiễn, hiện thực hóa các chủ trương bảo đảm tính khoa học, đặt lợi ích chính đáng của nhân dân lên hàng đầu. Phát triển phải song hành với khai thác có hiệu quả đặc thù của vùng ven Trần Đề, tránh vận dụng các mô hình phát triển kinh tế biển ở các địa phương khác một cách rập khuôn, máy móc, thiếu sáng tạo.
Thứ hai, thực hiện phương châm quy hoạch đi trước một bước để khơi thông nguồn lực. Đảng bộ tập trung chỉ đạo quyết liệt việc hoàn thiện quy hoạch hạ tầng kỹ thuật biển đồng bộ, hiện đại. Đặc biệt, trong lãnh đạo, chỉ đạo phải chủ động triển khai các cơ chế, chính sách linh hoạt để huy động tổng hợp các nguồn vốn xã hội hóa như các hình thức đầu tư: BOT, PPP và thu hút dòng vốn FDI. Đây là điểm then chốt để giải quyết bài toán thiếu hụt ngân sách, tạo bước đột phá cho các dự án trọng điểm như cảng biển nước sâu, khu công nghiệp ven biển.
Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh. Trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức của ngư dân về vị thế chiến lược của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đã phát triển đội tàu xa bờ công suất lớn; kiện toàn các tổ tự quản, nghiệp đoàn nghề cá. Đây là mô hình kinh tế mang hiệu quả cao, vừa khai thác hiệu quả tài nguyên biển vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Thứ tư, lấy mục tiêu an sinh xã hội và sự đồng thuận của nhân dân làm động lực cốt yếu trong công tác lãnh đạo phát triển kinh tế biển. Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế biển phải là nâng cao chất lượng đời sống cho cư dân địa phương. Đảng bộ huyện chỉ đạo công tác tuyên truyền, tái đầu tư hiệu quả nguồn lực từ kinh tế biển vào các lĩnh vực giáo dục, y tế và hạ tầng dân sinh. Đặc biệt, chú trọng công tác xóa đói, giảm nghèo bền vững và đào tạo nghề cho lao động vùng ven biển, bảo đảm người dân được thụ hưởng trực tiếp và công bằng từ những thành quả phát triển của địa phương.
3. Kết luận
Trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế về biển của địa phương, qua 10 năm (2010 - 2020), Đảng bộ huyện Trần Đề (Sóc Trăng) đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế biển đạt được nhiều kết quả quan trọng: từng bước hình thành các ngành kinh tế biển mũi nhọn, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân vùng ven biển; tăng cường gắn kết giữa phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững chủ quyền biển, đảo. Những kết quả đạt được và kinh nghiệm về tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, sự đoàn kết, đồng thuận của nhân dân, là nền tảng vững chắc để Đảng bộ huyện Trần Đề tiếp tục phát huy những thành tựu phát triển kinh tế biển trong thời gian tiếp theo.
Tài liệu tham khảo
Đảng bộ huyện Trần Đề. (2010). “Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ I, nhiệm kỳ 2010 - 2015”
Đảng bộ huyện Trần Đề. (2015). “Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 2015 - 2020”
Đảng bộ huyện Trần Đề. (2020). “Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ III, nhiệm kỳ 2020 - 2025”
Hà Văn. (26-7-2017). “Mở rộng giao thương, phát triển du lịch giữa ĐBSCL và Côn Đảo”. Báo Cần Thơ. https://baocantho.com.vn/mo-rong-giao-thuong-phat-trien-du-lich-giua-dbscl-va-con-dao-a88327.html
Huy Thịnh. (26-7-2019). “Phú Quốc Express khai trương tàu cao tốc hai thân lớn nhất Việt Nam”. Báo Đầu tư. https://baodautu.vn/phu-quoc-express-khai-truong-tau-cao-toc-hai-than-lon-nhat-viet-nam-d104486.html
Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề. (2010). “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2012”
Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề. (2012). “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2012 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013”
Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề. (2015). “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016”
Ủy ban nhân dân huyện Trần Đề. (2020). “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2020 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021”