Tóm tắt: Giao thông có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như mỗi địa phương. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xác định đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông là một trong những khâu đột phá và nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Với tinh thần chủ động, sáng tạo và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, nhiều công trình trọng điểm đượctriển khai, hệ thống đường giao thông nông thôn, đường liên xã, liên huyện và các tuyến quốc lộ, cao tốc kết nối đã được quan tâm đầu tư đồng bộ. Nhờ đó, hạ tầng giao thông của tỉnh có nhiều đổi thay căn bản, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
Từ khóa: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo; kết cấu hạ tầng giao thông; 2010-2020
1. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo phát triển kết cấu hạ tầng giao thông (2010- 2015)
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Sau 25 năm đổi mới, Đại hội XI (2011) của Đảng xác định: “tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng. Hoàn thiện quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng cả nước. Tập trung các nguồn lực xây dựng, hoàn thiện hệ thống giao thông thiết yếu”1. Đồng thời, Đại hội đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020), với mục tiêu tổng quát đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và khẳng định xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng (KCHT) đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn là một trong ba khâu đột phá chiến lược của giai đoạn 2011-2020. HNTƯ 4 khóa XI ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16-1-2012 “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Nghị quyết nêu rõ quan điểm: “Quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phải hiện đại, đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Về mục tiêu, Nghị quyết chỉ rõ: “Về hạ tầng giao thông, bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn”2.
Đối với Tuyên Quang, Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (10-2010), đã xác định: Để thực hiện được mục tiêu sớm đưa Tuyên Quang thoát khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá trong các tỉnh miền núi phía Bắc, tỉnh cần thực hiện 4 khâu đột phá, trong đó, đầu tư xây dựng hệ thống giao thông là khâu đột phá đầu tiên.
Ngày 9-5-2011, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU “Về đẩy mạnh phát triển hệ thống giao thông giai đoạn 2011-2015”. Trong đó đánh giá cụ thể tình hình phát triển giao thông của tỉnh, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó xác định 4 quan điểm và các mục tiêu cụ thể cho công tác đầu tư, xây dựng, cải tạo, nâng cấp, quản lý và bảo vệ KCHT giao thông. Nghị quyết xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm và 6 giải pháp cụ thể về công tác quy hoạch; nguồn vốn đầu tư; công tác giải phóng mặt bằng; tổ chức quản lý và đào tạo phát triển nguồn nhân lực; ứng dụng khoa học công nghệ; nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác phát triển giao thông.
Đối với hệ thống giao thông nông thôn, ngày 23-11-2011, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU “Về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020”. Nghị quyết xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Về mục tiêu Nghị quyết xác định: đến năm 2015, có ít nhất 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; có 50% số xã đạt tiêu chí về giao thông. Để thực hiện được mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị. Theo đó, chủ trương huy động nguồn lực đầu tư xây dựng KCHT nông thôn, tập trung các công trình giao thông nông thôn, đập thủy lợi đầu mối, các tuyến kênh chính... Ngoài nguồn lực từ ngân sách tỉnh, tích cực huy động các nguồn lực khác cùng với nguồn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và lồng ghép có hiệu quả nguồn vốn từ các chương trình, dự án trên địa bàn; trước mắt, ưu tiên tập trung cho các xã điểm. Chú trọng công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo trì các công trình bảo đảm hiệu quả, bền vững.
Ngày 29-6-2012, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TU “Về đẩy mạnh quy hoạch và phát triển thành phố Tuyên Quang”. Nghị quyết nêu rõ 3 quan điểm lớn, trong đó có quan điểm xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Mục tiêu trước năm 2015, hoàn thành quy hoạch xây dựng thành phố Tuyên Quang theo tiêu chí đô thị loại I, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại II và từng bước đạt tiêu chí đô thị loại I. Mục tiêu cụ thể: Hoàn thành các quy hoạch về KCHT của thành phố một cách đồng bộ, hiện đại về hệ thống giao thông được đưa lên hàng đầu. Xác định hoàn thành các công trình hạ tầng trọng điểm về giao thông. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành 3 chương trình hành động để tổ chức triển khai. Các chương trình hành động xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và phân công cụ thể cho các cấp, ngành trong hệ thống chính trị của tỉnh.
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, giúp cho tỉnh phát huy lợi thế, khắc phục những yếu kém về KCHT giao thông, huy động trách nhiệm và sự vào cuộc của toàn xã hội, hướng tới mục tiêu đưa tỉnh Tuyên Quang thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Triển khai thực hiện những chủ trương trên của Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND, ngày 8-3-2011 phê duyệt Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015, với mục tiêu đến hết năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu thực hiện đạt 70% các tuyến đường giao thông nông thôn được bê tông hóa. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đối với những nơi người dân tự nguyện hiến đất, giải phóng mặt bằng, đóng góp vật liệu làm đường giao thông nông thôn nền đường rộng 5 m, mặt đường rộng tối thiểu 3 m, tỉnh chủ trương hỗ trợ 100% kinh phí mua và vận chuyến xi măng, ống cống đến thôn, đồng thời hỗ trợ công tác quản lý kỹ thuật 2 triệu đồng/km. Để nhanh chóng đưa Đề án vào thực tiễn, các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở đã quyết liệt triển khai. Tỉnh phân cấp quản lý cho cấp huyện duyệt kế hoạch và chủ trương đầu tư; cấp xã phê duyệt dự toán và quyết toán, các thôn, bản, tổ nhân dân thành lập ban quản lý, ban giám sát cộng đồng, vận động nhân dân thực hiện. Các thủ tục được tiến hành nhanh, gọn, công khai để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, tăng niềm tin và sự đồng thuận trong dân, khơi dậy sức dân.
Ngày 23-8-2011, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 31/KH-UBND về đẩy mạnh phát triển hệ thống giao thông giai đoạn 2011-2015, xác định nhiệm vụ chủ yếu trong xây dựng hệ thống giao thông; chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp về quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông của tỉnh, nguồn vốn đầu tư, giải phóng mặt bằng, tổ chức quản lý và đào tạo phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học và công nghệ, tăng cường chức năng quản lý nhà nước đối với công tác phát triển giao thông. Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành xây dựng kế hoạch thực hiện nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh phát triển hệ thống giao thông giai đoạn 2011-2015, coi đó là một trong những đột phá trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (2010 - 2015).
Trong quá trình tổ chức triển khai, Ban Thường vụ Tỉnh ủy phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ phụ trách địa bàn, bám sát cơ sở để kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thi công các công trình giao thông. Toàn hệ thống chính trị được huy động vào cuộc.
Một số kết quả nổi bật
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng bộ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, KCHT giao thông của tỉnh Tuyên Quang đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Từ chỗ toàn tỉnh chỉ có 22,43% đường giao thông nông thôn được nhựa hóa, bê tông hóa và cấp phối, 77,57% là đường đất (năm 2010), đến tháng 7-2015, toàn tỉnh đã nhựa hóa 877,3 km/977 km, chiếm 89,8%. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã bê tông hoá trên 2.700 km đường giao thông nông thôn, vượt kế hoạch đề ra, hoàn thành sớm so với mục tiêu đề ra của cả nhiệm kỳ hơn 1 năm; tỷ lệ thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm đạt 99,2%, tạo điền kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng cầu Tứ Quận (huyện Yên Sơn), cầu Kim Xuyên (huyện Sơn Dương), cầu Ba Đạo (huyện Na Hang), bến xe khách thị trấn Sơn Dương; xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp 317 km quốc lộ, 289 km đường tỉnh, 93 km đường đô thị, 227 km đường huyện3. Hệ thống giao thông được phát triển đồng bộ đã mang đến diện mạo mới cho tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo sự chuyển biến rõ nét về sản xuất và đời sống của nhân dân. Tuyên Quang triển khai các thủ tục đề nghị Trung ương phê duyệt chủ chương đầu tư xây dựng cầu Tình Húc (thành phố Tuyên Quang); xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt một số quy hoạch và kế hoạch, đề án: Quy hoạch đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ, nối với đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; bổ sung điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong những năm 2011-2015, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang vẫn còn một số hạn chế. Việc huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội tuy đã đem lại hiệu quả nhanh về mặt quy mô, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý kỹ thuật, giám sát thi công và bảo đảm chất lượng bền vững. Ở nhiều nơi, việc thi công chưa bảo đảm kỹ thuật, thiếu đội ngũ chuyên môn và vật liệu chưa đạt chuẩn đã dẫn đến hiện tượng xuống cấp sớm nếu không được duy tu kịp thời. Hơn nữa, cơ chế phân bổ, nguồn vốn bảo trì lâu dài cho hạ tầng giao thông còn thiếu - một nghịch lý thường thấy ở các chương trình bê tông hóa đại trà: xây dựng thì nhanh, bảo trì thì khó. Chi phí đầu tư cho các tuyến công trình lớn, nhất là cầu và các tuyến vượt đèo núi, đòi hỏi ngân sách lớn trong điều kiện nguồn lực của tỉnh hạn chế, sự phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ Trung ương và vốn ngân sách gặp nhiều khó khăn.
Giai đoạn 2010-2015 là quãng thời gian “thức dậy” và “bứt phá” của giao thông Tuyên Quang - bằng quyết tâm chính trị, bằng phương thức huy động đa nguồn lực và sức dân, Đảng bộ tỉnh đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong lãnh đạo phát triển KCHT giao thông, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đưa tỉnh Tuyên Quang thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
2. Đẩy mạnh lãnh đạo phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, thực hiện các đột phá chiến lược (2015- 2020)
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Bước sang giai đoạn 2015-2020, Tuyên Quang đứng trước yêu cầu mới với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Đại hội XII (2016) của Đảng tiếp tục xác định xây dựng hệ thống KCHT đồng bộ là một trong 3 khâu đột phá chiến lược, trên cơ sở đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2015-2020) đặt mục tiêu phấn đấu đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá trong các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng thời xác định phương hướng chung: “Huy động đa dạng nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng hệ thống kết cấu hạ tầng”4. Đại hội đã xác định 3 khâu đột phá và 4 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: “Huy động nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị và xây dựng nông thôn mới”5 là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 05-CTr/TU, ngày 27-2-2016 thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 2 nội dung lớn: Một là, tập trung lãnh đạo thực hiện các khâu đột phá, các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ nâng cao chất lượng hệ thống KCHT giao thông, đô thị và xây dựng nông thôn mới; Hai là, lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, huy động nguồn lực phát triển hệ thống giao thông, phối hợp xây dựng đường cao tốc nối thành phố Tuyên Quang với đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, triển khai xây dựng một số cầu lớn (cầu Bình Ca, cầu Tình Húc...).
Trên cơ sở định hướng chung được xác định tại Đại hội đại biểu lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 22-5-2016 “Về kiên cố hóa kênh mương, bê tông hóa đường giao thông nội đồng và xây dựng nhà văn hóa thôn, bản, tổ nhân dân gắn với sân thể thao và khuôn viên trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020”, trong đó xác định mục tiêu bê tông hóa trên 35% đường giao thông nội đồng. Tiếp đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU, ngày 27-5-2016 về “Lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh giai đoạn 2016-2020”. Nghị quyết xác định huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư hệ thống KCHT. Chủ trương này thể hiện nhận thức sâu sắc và đầy đủ của tỉnh về vai trò nền tảng của KCHT đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh Tuyên Quang đang phấn đấu chuyển sang hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Nghị quyết đề ra giải pháp: Huy động đa dạng các nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, nguồn vốn ODA, vốn viện trợ phi Chính phủ (NGO) đến việc đẩy mạnh các hình thức đầu tư đối tác công - tư (PPP), xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT)... Ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực hạ tầng then chốt như giao thông, điện, cấp thoát nước, viễn thông - đây là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường và chất lượng sống của người dân.
Nghị quyết số 17-NQ/TU không chỉ dừng lại ở mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, mà còn đặt trọng tâm vào việc phát triển hạ tầng như một điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Việc gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng hạ tầng với chiến lược phát triển công nghiệp, đô thị hóa, hội nhập và thu hút đầu tư thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của tỉnh trong giai đoạn 2016-2020.
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang ban hành Kết luận số 65-KL/TU, ngày 25-10-2016 về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề ra 10 nhiệm vụ trọng tâm và 9 giải pháp quan trọng, trong đó nhấn mạnh việc tập trung đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như giao thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, y tế, giáo dục, thương mại, dịch vụ, du lịch và hạ tầng khu - cụm công nghiệp. Để thực hiện được những vấn đề này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, từ các cấp ủy đảng, chính quyền, đến Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhằm huy động tối đa nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Triển khai thực hiện những chủ trương trên của Đảng bộ tỉnh, HĐND và UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp thực hiện hiệu quả.
HĐND tỉnh Tuyên Quang ban hành Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐND, ngày 13-7-2016, “Quy định mức hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương, bê tông hóa đường giao thông nội đồng, xây dựng nhà văn hóa thôn, bản, tổ dân phố gắn với sân thể thao, khuôn viên và một số công trình hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016-2020”. Nghị quyết quy định về bê tông hóa đường giao thông nội đồng và vùng sản xuất hàng hóa, với mức hỗ trợ 100% xi măng, ống cống và chi phí vận chuyển, bốc xếp đến chân công trình hoặc địa điểm thi công gần nhất ô tô vận chuyển đến được với mức hỗ trợ cho công tác quản lý 2 triệu đồng/1 km đường6.
Ngày 5-8-2016 của UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số 248/QĐ-UBND “Về việc phê duyệt Đề án bê tông hóa đường giao thông nội đồng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ bê tông hóa đạt trên 35% tổng số km đường nội đồng, trong đó ưu tiên thực hiện tại các xã đạt chuẩn nông thôn mới và các tuyến đường phục vụ các vùng sản xuất hàng hóa chủ lực của tỉnh7. UBND tỉnh chủ trương xây dựng KCHT giao thông nông thôn theo phương châm “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”. So với giai đoạn 2010-2015, khi tỉnh áp dụng phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, thì sự điều chỉnh sang phương châm mới thể hiện tư duy phát triển linh hoạt, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Nếu như trước đây, Nhà nước và nhân dân cùng chia sẻ trách nhiệm đầu tư, thì bước sang giai đoạn 2016-2020, người dân chủ động thực hiện, còn Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ về cơ chế, kỹ thuật và một phần kinh phí. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao tinh thần tự lực, tự quản trong nhân dân, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Việc thay đổi phương châm tổ chức thực hiện cũng phù hợp với trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, nhu cầu phát triển hạ tầng ngày càng gắn với chất lượng sống và sự tham gia chủ động của cộng đồng.
Giai đoạn 2016-2020, thực hiện chủ trương và chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Tuyên Quang đã thể hiện rõ vai trò điều hành, tổ chức thực hiện các giải pháp đồng bộ, toàn diện trong công tác huy động nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống KCHT giao thông. Tỉnh đã có nhiều chính sách thiết thực, huy động hiệu quả cả nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Trên phương diện chung, UBND tỉnh đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, đồng thời chủ động đề xuất Trung ương bố trí vốn ngân sách và vốn vay ODA cho các dự án hạ tầng giao thông quan trọng như đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ, cầu Tình Húc, cầu Bình Ca và các tuyến quốc lộ đi qua địa bàn. Đáng chú ý, tỉnh đã chủ động bố trí nguồn ngân sách địa phương để đối ứng với nguồn vốn Trung ương, đồng thời lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vốn hỗ trợ có mục tiêu, vốn từ các chương trình phát triển đô thị, chương trình giảm nghèo, phòng chống thiên tai... Việc đa dạng hóa các nguồn đầu tư được triển khai có hiệu quả, thể hiện tư duy chiến lược và sự linh hoạt trong chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh.
Một số kết quả nổi bật
Giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh đã huy động được 41.700 tỷ đồng của toàn xã hội cho KCHT, đặc biệt là hạ tầng giao thông; bê tông hóa trên 633 km đường nội đồng và vùng sản xuất hàng hóa, vượt chỉ tiêu đề ra (trên 35% tổng chiều dài). Nhiều công trình trọng điểm được triển khai; hoàn thành xây dựng cầu Tình Húc, cầu Bình Ca và một số công trình dự án quan trọng: tuyến đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ khởi công giai đoạn 1, tạo tiền đề kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai; các tuyến quốc lộ quan trọng (Quốc lộ 2, Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C) được nâng cấp, mở rộng, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, góp phần tăng năng lực vận tải hàng hóa, hành khách. Toàn tỉnh đã cứng hóa trên 88% đường huyện, 75% đường xã và 65% đường thôn, bản, vượt chỉ tiêu đề ra. Đến năm 2020, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa. Hệ thống cầu được chú trọng: hàng trăm cây cầu nhỏ và cầu treo dân sinh được xây mới, cải tạo góp phần bảo đảm an toàn giao thông và phục vụ phát triển sản xuất; giao thông đường thủy tiếp tục phát huy lợi thế của sông Lô và sông Gâm; nhiều bến thủy nội địa được quy hoạch, nâng cấp, tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, giảm chi phí logistics8. Kết quả này đã tạo ra động lực mới trong phát triển liên kết vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn diễn ra mạnh mẽ: đến năm 2020, toàn tỉnh xây dựng trên 3.890,94 km đường đường giao thông nông thôn (trong đó, 626,96 km đường trục xã, liên xã; 2.510,47 km đường trục thôn, xóm; 753,51 km đường nội đồng). Đến năm 2019, có 51 xã đạt tiêu chí về giao thông nông thôn (tăng 50 xã so với năm 2011)9 tạo thuận lợi cho đi lại và vận chuyển hàng hóa ở vùng sâu, vùng xa. UBND tỉnh lồng ghép các dự án giao thông vào kế hoạch phát triển chung, ví dụ gắn xây dựng đường giao thông với các dự án thủy lợi, điện, du lịch... để tối ưu hiệu quả đầu tư.
Nhờ sự phát triển của KCHT giao thông, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung được hình thành và từng bước kết nối với các trung tâm tiêu thụ lớn, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân (tính theo giá so sánh năm 2010) đạt 6,45%; năm 2020, tổng sản phẩm GRDP đạt 34.624 tỷ đồng, tăng 1,6 lần so với năm 2015, GRDP bình quân đầu người, đạt 44,57 triệu đồng (tăng 1,55 lần so với năm 2015); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hạ tầng giao thông nông thôn có những chuyển biến rõ nét, năm 2011 chỉ có 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới, giai đoạn 2010-2015 có 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đến hết năm 2020 đã có 47 xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt mục tiêu nghị quyết đề ra). Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 2.309 tỷ đồng (mục tiêu nghị quyết trên 2.300 tỷ đồng)10.
Thứ bậc xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tăng khá nhanh, năm 2015 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp thứ 58/63 tỉnh thành, năm 2019 xếp thứ 32/63 tỉnh, thành năm 2020, xếp thứ 31/63 tỉnh, thành phố. Môi trường đầu tư của tỉnh cũng có chuyển biến tích cực, số lượng nhà đầu tư, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, tổ chức trong và ngoài nước đến nghiên cứu, khảo sát để thực hiện các dự án đầu tư ngày càng tăng, đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Đến tháng 7-2020, có tổng số 1.823 doanh nghiệp với 298 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong đó có 12 nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 14 dự án với tổng số vốn đăng ký 4.268 tỷ đồng (Công ty cổ phần Woodslands, Tập đoàn dệt may Việt Nam, Tập đoàn DABACO)11. Trên phương diện xã hội, giao thông thuận lợi đã mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản của nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Việc đường đến trung tâm xã được cứng hóa giúp người dân dễ dàng đi lại, giao thương, tạo điều kiện để học sinh đến trường đầy đủ hơn, tỷ lệ học sinh bỏ học vì giao thông khó khăn giảm mạnh. Hệ thống hạ tầng được nâng cấp còn góp phần phát triển du lịch sinh thái, văn hóa, từng bước khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của tỉnh, qua đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân. Những kết quả đạt được trong phát triển giao thông không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường mà còn trực tiếp góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng, quá trình phát triển KCHT giao thông ở Tuyên Quang giai đoạn 2015-2020 vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Nguồn vốn đầu tư, đặc biệt cho các công trình trọng điểm chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Nhiều tuyến đường xuống cấp nhanh do tác động khắc nghiệt của khí hậu miền núi, thường xuyên bị mưa lũ, sạt lở, trong khi công tác duy tu, bảo trì chưa được quan tâm đúng mức. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa chưa đạt kết quả cao, chưa hình thành được cơ chế đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp tham gia đầu tư hạ tầng giao thông. Một số dự án chậm tiến độ vì khâu phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị còn thiếu đồng bộ. Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết xuất phát từ đặc thù địa hình đồi núi phức tạp, chi phí đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, trong khi nguồn lực của tỉnh còn hạn chế, phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ từ Trung ương. Bên cạnh đó, công tác quản lý, điều hành và năng lực của một số chủ đầu tư, đơn vị thi công chưa đồng đều, dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
Mặc dù còn khó khăn, song có thể khẳng định, giai đoạn 2010-2020 đánh dấu thành công của Đảng bộ tỉnh Tuyên quang trong lãnh đạo xây dựng KCHT, đặc biệt là đã tạo bước phát triển vượt bậc của hạ tầng giao thông tỉnh Tuyên Quang. Hệ thống đường bộ, đường thủy được mở rộng và nâng cấp đồng bộ, từng bước khắc phục tình trạng chia cắt, tạo sự gắn kết liên vùng, liên huyện, liên xã. Những thành quả đạt được là minh chứng sinh động cho sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời và quyết liệt của Đảng bộ tỉnh; là kết quả của sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân. Những đổi thay căn bản về hạ tầng giao thông đã tháo gỡ “nút thắt” lâu năm, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời củng cố quốc phòng - an ninh. Đây chính là nền tảng vững chắc để Tuyên Quang tiếp tục bứt phá trong giai đoạn sau năm 2020, khi nhiều dự án trọng điểm như cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ hoàn thành và các tuyến giao thông chiến lược khác được triển khai. Trên cơ sở đó, tỉnh có điều kiện thuận lợi hơn để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng nông thôn mới toàn diện và hội nhập ngày càng sâu rộng vào tiến trình phát triển chung của đất nước.

Ngày gửi: 22-10-2025; ngày thẩm định, đánh giá: 11-11-2025; ngày duyệt đăng: 17-11-2025
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 39
2. Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16-1-2012 Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”, http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-13-nqtw-ngay-16012012-hoi-nghi-lan-thu-4-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-he-thong-ket-575
3, 4, 5. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020, Tuyên Quang, 2015, tr. 47, 90, 94
6. HĐND tỉnh Tuyên Quang: Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐND, ngày 13-7-2016, “Quy định mức hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương, bê tông hóa đường giao thông nội đồng, xây dựng nhà văn hóa thôn, bản, tổ dân phố gắn với sân thể thao, khuôn viên và một số công trình hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016-2020”
8. Xem: Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang: Báo cáo Kết quả thực hiện Nghị quyết, chương trình, Đề án của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khóa XVI, Tuyên Quang, 2020
10. 11. Xem: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025, Tuyên Quang, 2020, tr. 43-44, 50-51.