Tóm tắt: Hệ thống chính trị cơ sở đóng vai trò quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương. Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở đạt được nhiều kết quả. Việc củng cố vững chắc hệ thống chính trị cơ sở không chỉ nâng cao niềm tin cho nhân dân mà còn tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đặc biệt tại các địa bàn trọng yếu. Bài viết phân tích quá trình lãnh đạo, kết quả và một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở những năm 2010-2020.

Từ khóa: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh; hệ thống chính trị cơ sở; 2010-2020
Ngày nhận: 11-12-2025; ngày thẩm định: 2-3-2025; ngày duyệt đăng: 21-3-2025

1. Đặt vấn đề
Hệ thống chính trị cơ sở là nền tảng của hệ thống chính trị Việt Nam, nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hệ thống chính trị cơ sở vững chắc là nền tảng quan trọng của chính quyền nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Giai đoạn 2010-2020 đánh dấu nhiều đổi mới và sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Thông qua việc ban hành các chủ trương, đề án và giải pháp đồng bộ, hệ thống chính trị cấp cơ sở từng bước được củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong bối cảnh mới.
Liên quan đến xây dựng hệ thống chính trị cơ sở đã có nhiều công trình nghiên cứu từ các góc độ như lý luận về hệ thống chính trị, xây dựng tổ chức đảng cơ sở, đổi mới bộ máy chính quyền và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2010-2020 còn chưa nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu mang tính hệ thống gắn với bối cảnh phát triển đặc thù của địa phương.
Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2010-2020; phân tích các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện và những kết quả đạt được. Trên cơ sở đó, bài viết đúc kết một số kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong giai đoạn hiện nay, đồng thời bổ sung tư liệu và luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Phương pháp logic được dùng để phân tích, khái quát những nội dung trong chủ trương lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, làm rõ kết quả đạt được, rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn.
Bên cạnh đó, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để xử lý và hệ thống hóa tư liệu, văn kiện của Đảng và các báo cáo của tỉnh Quảng Ninh; kết hợp phương pháp so sánh, thống kê nhằm làm rõ sự thay đổi về tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ và kết quả xây dựng hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn 2010-2020.

3. Nội dung
1. Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở
Hệ thống chính trị (HTCT) ở cơ sở là bộ phận của hệ thống chính trị Việt Nam, trực tiếp gắn bó với nhân dân, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương.
Quảng Ninh là địa phương ven biển, biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có vị trí địa chính trị, kinh tế, đối ngoại và đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, hội tụ đầy đủ các yếu tố địa hình: miền núi, đồng bằng, ven biển và hải đảo, đồng thời là tỉnh duy nhất có biên giới cả trên bộ và trên biển với Trung Quốc. Những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đó vừa tạo ra những thuận lợi quan trọng, vừa đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với quá trình xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trong điều kiện địa bàn có nhiều đặc thù, việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Trong giai đoạn 2010-2020, cùng với quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Quảng Ninh đã triển khai nhiều mô hình, cách làm sáng tạo nhằm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010-2015 xác định: “Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nghiên cứu ban hành chính sách cho cán bộ cơ sở nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ cơ sở nâng cao trình độ, yên tâm công tác”. (Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, 2010 tr. 71)
Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015-2020 nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở. (Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, (2015)
Cụ thể hóa các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành các Nghị quyết, Đề án, Chương trình quan trọng như: Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 9-6-2014, “về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, đề ra mục tiêu: “Đến năm 2015, 95% cán bộ, công chức cấp xã đạt tiêu chuẩn theo chức danh, năm 2020, 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2014. tr. 4”) Quyết định số 1873-QĐ/TU ngày 28-2-2015 về phê duyệt Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy biên chế” (Đề án 25) với mục tiêu: “xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh đạt 50%; chính quyền cơ sở tiên tiến đạt 75% trở lên, đoàn thể chính trị xã hội vững mạnh đạt 90% trở lên; phấn đấu đến năm 2020, có 75% cán bộ, công chức cấp xã có trình độ đại học trở lên về chuyên môn, 90% có trình độ trung cấp về lý luận chính trị; 100% cán bộ thôn, bản, khu phố được bồi dưỡng, tập huấn, học tập trao đổi kinh nghiệm; thực hiện bí thư cấp uỷ đồng thời là Chủ tịch UBND hoặc Chủ tịch HĐND cùng cấp, trong đó, kiêm nhiệm Chủ tịch UBND tại ít nhất 50% xã, phường, thị trấn”; (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2015 a. tr. 4) Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 3-3-2015, “về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; sắp xếp tổ chức bộ máy đảm bảo đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả; khắc phục tình trạng cồng kềnh, trùng chéo, nhiều tầng nấc trung gian. Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có kỹ năng thực tế, đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu đẹp, văn minh, hiện đại” (Tỉnh ủy Quảng Ninh 2015 b. tr. 3).
Triển khai thực hiện những chủ trương trên, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều chính sách, kế hoạch thực hiện cụ thể.  Ngày 27-5-2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành kế hoạch số 44/KH-UBND về “Triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế trên địa bàn tỉnh” xác định: Đến năm 2020, thực hiện tinh giản biên chế 10% so với biên chế được tỉnh được giao. Thực hiện nguyên tắc số công chức, viên chức được tuyển dụng mới không quá 50% số công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 2015 a); Ngày 31-12-2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Kế hoạch số 92/KH-UBND về “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”, trong đó nêu rõ biện pháp khoán biên chế cán bộ, công chức cấp xã, cấp thôn; khoán quỹ hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn. (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2015 b)
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW HNTƯ 6 khóa XII về “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Nghị quyết số 19-NQ/TW về “tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”, ngày 5-2-2018, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Chương trình hành động số 21-CTr/TU, xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đối với HTCT ở cơ sở như: Rà soát và xây dựng đề án để có lộ trình triển khai sắp xếp tổ chức lại một số đơn vị hành chính cấp xã và thôn, bản, khu phố chưa đạt 50% tiêu chuẩn theo quy định về quy mô dân số, diện tích tự nhiên theo lộ trình phù hợp. Năm 2017 sử dụng số lượng biên chế công chức theo đúng số lượng Trung ương giao; từ năm 2018, mỗi năm thực hiện giảm 2,5% bảo đảm đến 2021 giảm 10% so với số lượng biên chế được Trung ương giao năm. Điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện có chuyên môn phù hợp với tiêu chuẩn chức danh xuống làm việc tại các xã, phường có quy mô lớn, dân số đông để bảo đảm định mức tối đa theo quy định. Thực hiện khoán quỹ lương và chi quản lý hành chính đối với cán bộ, công chức cấp xã theo định biên và thực hiện tinh giản 10%. Thực hiện khoán số lượng chức danh phụ cấp của những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, bản, khu phố.
2. Một số kết quả
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh Quảng Ninh, HTCT cơ sở từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả vai trò trong lãnh đạo và quản trị địa phương. Điều đó được thể hiện ở một số lĩnh vực sau:
Một là, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng vững mạnh đủ sức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đặc biệt quan tâm đến việc củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt trong xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ cơ sở. Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy đảng trong tỉnh chú trọng rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức đảng cơ sở gắn với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc thành lập các chi bộ ở thôn, bản, khu phố được quan tâm thực hiện, góp phần bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội ở địa bàn dân cư. Năm 2010 toàn tỉnh có 186 đảng bộ xã, phường, thị trấn đến năm 2020, sau khi sắp xếp lại còn 177 đảng bộ xã, phường, thị trấn với 2.241 chi bộ trực thuộc (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2022 tr. 1).
Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp uỷ viên xã, phường, thị trấn từng bước được nâng lên rõ rệt. Năm 2020, có 2.281 người, trong đó trình độ học vấn: Trung học phổ thông là 2.253 người (chiếm 98,77%) tăng 9,98% so với năm 2010 (chiếm 88,79%); trình độ chuyên môn: đại học, cao đẳng có 1.857 người (chiếm 81,41%), tăng 40,23% so với năm 2010 (chiếm 41,18%); nếu năm 2010 chưa có cấp ủy viên có trình độ trên đại học, đến năm 2020, đã có 211 người (chiếm 9,25%). Về trình độ lý luận chính trị: sơ cấp và trung cấp có 1.973 người (chiếm 86,49%) tăng 15,02% so với năm 2010 (chiếm 71,47%). (Tỉnh ủy Quảng Ninh 2022. tr. 3).
Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn đạt trong sạch vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng từ 94,07% năm 2010 lên 95,48% năm 2020. Số lượng đảng viên tăng mạnh, từ 33.161 người năm 2010 lên 54.708 người năm 2020, tăng 21.547 người sau 10 năm. Chất lượng đảng viên được cải thiện, tỷ lệ đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng từ 10,87% năm 2010 lên 14,87% năm 2020; đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ giảm từ 0,47% năm 2010 xuống còn 0,43% năm 2020 (Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2011. tr. 3)
Một trong những điểm nổi bật trong quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở Quảng Ninh là việc triển khai chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn với thực hiện các đề án của Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế. Có nhiều mô hình mới được thực hiện như bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân ở một số địa phương; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố. Những mô hình này góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Năm 2020, tỷ lệ Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cấp xã đạt 67,2%, tăng so với năm 2015 (30,63%), Bí thư đồng thời là Chủ tịch HĐND cấp xã đạt 13,57%. (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2022. tr. 5.)
Các cấp ủy đảng ở cơ sở chú trọng đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương và những vấn đề mà nhân dân quan tâm. Việc thực hiện các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền ở cơ sở được tăng cường, qua đó góp phần nâng cao uy tín của tổ chức đảng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Các đảng bộ, chi bộ cơ sở đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII); tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền ở cơ sở. Giai đoạn 2010-2020, cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra 2.644 tổ chức cơ sở đảng với 7.462 đảng viên ở cơ sở, đã phát hiện và thi hành xử lý kỷ luật Đảng đối với 11 tổ chức đảng và 397 đảng viên. (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2024. tr. 8).
Năm 2020, toàn tỉnh có 1.565/1.565 thôn, khu phố thực hiện mô hình bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố theo phương châm “Dân tin, Đảng cử” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2022. tr. 5). Việc thực hiện mô hình kiêm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý không chỉ góp phần tinh gọn bộ máy mà còn bảo đảm sự thống nhất giữa nghị quyết của chi bộ với tổ chức thực hiện ở cơ sở, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền địa phương.
Nhờ những chủ trương và giải pháp đồng bộ trên, tổ chức cơ sở đảng ở Quảng Ninh trong giai đoạn 2010-2020 từng bước được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở cơ sở được tăng cường, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh trên địa bàn tỉnh.
Hai là, hệ thống chính quyền cơ sở ngày càng vững mạnh, năng lực quản lý, điều hành từng bước được nâng lên
Cùng với việc củng cố tổ chức cơ sở đảng, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chú trọng lãnh đạo kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã, đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước và cải cách hành chính ở địa phương. Nhờ đó, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từng bước đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Tổ chức HĐND cấp xã được kiện toàn theo quy định của Trung ương. Thường trực HĐND gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch chuyên trách; Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm với từ 3-5 thành viên, bảo đảm phù hợp với đặc thù cấp cơ sở. Chất lượng đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021 được nâng lên rõ rệt: có 81 đại biểu trình độ trên đại học (1,75%), 2.422 đại biểu trình độ đại học, cao đẳng (52,24%), tăng 14,03% so với nhiệm kỳ trước; 3.403 đại biểu (73,40%) được đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tăng 6,68% so với nhiệm kỳ 2011-2016. (Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, 2020. tr. 2) Hoạt động của HĐND từng bước đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng các kỳ họp, tăng cường thảo luận, chất vấn và ban hành nghị quyết sát thực tiễn địa phương.
Hoạt động của UBND cấp xã được đổi mới theo hướng chủ động, bám sát nghị quyết của HĐND và yêu cầu quản lý ở cơ sở. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh, tỷ lệ thủ tục hành chính giải quyết đúng hạn tăng từ 91,06% năm 2015 lên 97,16% năm 2020; mức độ hài lòng của người dân tăng từ 89,4% lên 95,26% (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2020. tr. 7.) Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và đối thoại giữa chính quyền với nhân dân được duy trì, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cơ sở.
Việc thực hiện tinh giản biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt được nhiều kết quả tích cực. Giai đoạn 2015-2020, toàn tỉnh đã tinh giản 372 cán bộ, công chức cấp xã; 2.178 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và 597 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, khu phố (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2020. tr. 9). Giai đoạn 2010-2020, toàn tỉnh có 38.512 lượt cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Đến năm 2020, trong tổng số 1.815 công chức cấp xã, 92 có trình độ trên đại học, chiếm 5,07%, 1.502 người có trình độ đại học chiếm 82,75%; tỷ lệ công chức được bồi dưỡng lý luận chính trị tăng từ 40,97% năm 2010 lên 84,46% năm 2020; 1.405 công chức được bồi dưỡng quản lý nhà nước chiếm tỷ lệ 77,41%. Nhờ đó, tỷ lệ công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng từ 4,71% năm 2010 lên 24,22% năm 2020 (Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, 2020. tr. 5.)
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở
Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã được kiện toàn theo đúng chức năng, nâng cao tính chuyên trách và tăng cường sự phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương. Đến năm 2020, toàn tỉnh có 4.647 Ủy viên Ủy ban MTTQ cấp xã (so với 4.088 người năm 2010); 78,8% cán bộ Thường trực Ủy ban MTTQ cấp xã có trình độ đại học; 79% Chủ tịch MTTQ cấp xã tham gia cấp ủy (Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh, 2024. tr. 9.) Những chuyển biến này tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đối với công tác Mặt trận, đồng thời gắn kết chặt chẽ hoạt động của MTTQ với nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Trên cơ sở kiện toàn tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội được đổi mới, lấy khu dân cư làm địa bàn trọng tâm và lấy hiệu quả thực chất làm tiêu chí đánh giá. Trong đó, vai trò giám sát và phản biện xã hội từng bước được phát huy thông qua việc xây dựng các chương trình giám sát theo chuyên đề, tập trung vào những lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống nhân dân như cải cách thủ tục hành chính, thực hiện chính sách an sinh xã hội, quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng nông thôn mới. Hoạt động giám sát được tổ chức có kế hoạch, có tổng hợp kiến nghị gửi cấp ủy, chính quyền và theo dõi việc giải quyết sau giám sát, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý ở cơ sở.
Phương thức vận động quần chúng được đổi mới theo hướng phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư. Nhiều mô hình tự quản ở khu dân cư được hình thành và duy trì hiệu quả như “khu dân cư tự quản”, “tổ hòa giải”, “dòng họ tự quản về an ninh trật tự”, “tuyến đường sáng - xanh - sạch - đẹp”. Thông qua hệ thống ban công tác Mặt trận ở thôn, bản, khu phố, việc nắm bắt dư luận xã hội và tập hợp ý kiến nhân dân được thực hiện thường xuyên, góp phần phản ánh kịp thời với cấp ủy, chính quyền những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động do MTTQ và các đoàn thể phát động được triển khai theo hướng gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được lồng ghép với chương trình xây dựng nông thôn mới; phong trào “Ngày vì người nghèo” gắn với các hoạt động hỗ trợ sinh kế, xây dựng nhà ở cho hộ khó khăn; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với phát triển sản phẩm OCOP của tỉnh. Thông qua đó, các phong trào thi đua không chỉ dừng ở vận động mà từng bước trở thành kênh huy động nguồn lực xã hội quan trọng cho phát triển kinh tế -xã hội ở cơ sở.
Bên cạnh những kết quả đạt được, qua thực tiễn triển khai xây dựng HTCT ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Một số cấp ủy cơ sở chưa thật sự gương mẫu trong chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Công tác tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức, nể nang, ngại va chạm, chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số nơi còn biểu hiện hành chính hóa, tính chiến đấu chưa cao. Qua công tác kiểm tra, giám sát, số lượng đảng viên cấp cơ sở bị kỷ luật còn tương đối cao, trong đó tỷ lệ cấp ủy viên chiếm tỷ lệ đáng kể. Trong 10 năm (2010 - 2020) có 397 đảng viên cấp cơ sở bị xử lý kỷ luật trong đó, 184 đảng viên là cấp ủy viên cơ sở (chiếm 46,35%) (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2024. tr. 8.). Hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đồng đều, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ đại biểu HĐND xã chưa qua đào tạo chuyên môn vẫn ở mức khá cao 19,63%; số đại biểu chưa được bồi dưỡng lý luận chính trị chiếm 26,60%; chưa qua bồi dưỡng về quản lý nhà nước lên tới 61,99% (Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, 2020. tr. 2). Hạn chế này tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở “Hoạt động quản lý hành chính ở một số xã, phường, thị trấn còn yếu; việc tổ chức điều hành thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội còn lúng túng. Tình trạng cán bộ né tránh trách nhiệm, đùn đẩy, quan liêu, tiêu cực vẫn còn tồn tại” (Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, 2022. tr. 6).
3. Một số kinh nghiệm
Từ kết quả trong lãnh đạo xây dựng HTCT cơ sở của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2020 có thể đúc kết một số kinh nghiệm sau:
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng đối với nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Thực tiễn cho thấy, khi cấp ủy các cấp nhận thức đầy đủ vai trò nền tảng của cơ sở trong hệ thống chính trị, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài thì công tác lãnh đạo, chỉ đạo sẽ được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả hơn. Trong quá trình đó, cấp ủy phải thường xuyên quan tâm củng cố tổ chức cơ sở đảng, tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn. Việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.
Hai là, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở phải gắn với quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tiễn ở Quảng Ninh cho thấy, việc thực hiện đồng bộ các chủ trương về cải cách hành chính, tinh giản biên chế, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Tuy nhiên, việc tinh gọn bộ máy cần được tiến hành trên cơ sở đánh giá đúng chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị. Đồng thời, phải phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền và tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Ba là, coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Thực tiễn cho thấy, nơi nào đội ngũ cán bộ cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân thì ở đó việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đạt hiệu quả cao. Vì vậy, cần chú trọng cả ba khâu: tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Trong đó, việc đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý nhà nước ở cơ sở, đồng thời tăng cường rèn luyện kỹ năng vận động quần chúng, kỹ năng xử lý tình huống và khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý, điều hành.
Bốn là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Đây vừa là nguyên tắc cơ bản, vừa là điều kiện bảo đảm cho sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở. Thực tiễn cho thấy, khi các chủ trương, chính sách được triển khai trên cơ sở tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia bàn bạc, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển thì sẽ tạo được sự đồng thuận xã hội cao. Do đó, cần tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, duy trì các hình thức đối thoại trực tiếp giữa chính quyền với nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Năm là, gắn việc xây dựng hệ thống chính trị cơ sở với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cho thấy, khi hệ thống chính trị ở cơ sở hoạt động hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi để huy động và phát huy các nguồn lực của địa phương cho phát triển. Ngược lại, những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân cũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, từ đó tăng cường sự ổn định chính trị - xã hội ở địa phương.
Những kinh nghiệm trên không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở của tỉnh Quảng Ninh mà còn có giá trị tham khảo đối với nhiều địa phương khác trong quá trình nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Kết luận
Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng sáng tạo, phù hợp chủ trương của Đảng về xây dựng HTCT ở cơ sở. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, các tổ chức trong HTCT ở cơ sở được kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng HTCT ở cơ sở là minh chứng cho sự chủ động và quyết liệt của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong hiện thực hóa quan điểm của Đảng tại địa phương. Những kết quả đạt được và kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng HTCT cơ sở giai đoạn 2010-2020 là kinh nghiệm quý cho việc xây dựng HTCT ở cơ sở tại Quảng Ninh trong những giai đoạn tiếp theo.
 



Tài liệu tham khảo
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011). “Báo cáo số 56-BC/BTC ngày 15-01-2011 Báo cáo Xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên năm 2010”.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh (2021). “Báo cáo số 103-BC/BTC ngày 26-01-2021 Báo cáo Xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên năm 2020”.
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010). “Văn kiện Đại hôi đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 – 2015”.
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2015). “Văn kiện Đại hôi đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIV nhiệm kỳ 2015 – 2020”.
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2020). “Văn kiện Đại hôi đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV nhiệm kỳ 2020 – 2025”.
Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ninh (2024). “Báo cáo chính trị Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2019 – 2024”.
Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh (2020). “Báo cáo số 1794/SNV-VP, ngày 28-8-2020 Báo cáo Công tác đào tạo, bồi dưỡng trong việc triển khai thực hiện Đề án Xã hội hợp tập giai đoạn 2010 - 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”.
Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh (2020). “Báo cáo số 105/BC-SNV ngày 23-12-2010 Báo cáo Đánh giá, phân loại cán bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh năm 2010”.