Tóm tắt: Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của địa bàn chiến lược quan trọng của vùng, đồng thời thu hẹp dần khoảng cách, “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”. Trong giai đoạn 2010-2020, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều chủ trương phù hợp với thực tiễn, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bài viết làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi của tỉnh từ năm 2010 đến năm 2020; chỉ rõ một số thành tựu, hạn chế và đúc rút kinh nghiệm nhằm góp phần vào công tác tổng kết một số chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở địa phương.

Từ khóa: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; kinh tế - xã hội; huyện miền núi; 2010-2020

1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
Ngày 1-7-2004, Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1-7-2004 “về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010”, nêu rõ quan điểm: “Phát huy cao độ nội lực của vùng, đi đôi với việc gia tăng đầu tư và hỗ trợ của Trung ương, thu hút mạnh các nguồn lực từ các vùng khác và các nguồn tài trợ quốc tế để đưa kinh tế của vùng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”1. Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu, cần tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế so sánh của vùng và từng tiểu vùng, tạo ra các mũi đột phá làm điểm tựa để phát triển những nơi có ít lợi thế. Đặc biệt coi trọng bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái. Nghị quyết xác định: “Phát triển kinh tế đi liền với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng kháng chiến cũ, vùng nghèo, vùng khó khăn, bảo đảm công bằng xã hội; từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống của nhân dân trong vùng so với các vùng khác trong cả nước”2. Để thực hiện mục tiêu đó, cần coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg, ngày 15-4-2005 “về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010”. Chương trình hành động xác định bốn nhiệm vụ chính: rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; phát triển đầu tư các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; phát triển dự án sản xuất sản phẩm chủ yếu; hoàn thiện cơ chế chính sách3.
Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 2-8-2012, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 26-KL/TW “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020”, với mục tiêu tổng quát: Tiếp tục duy trì nhịp độ phát triển kinh tế-xã hội vùng trung du và miền núi Bắc Bộ cao hơn nhịp độ phát triển chung của cả nước; cải thiện rõ rệt và đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế…, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của người dân trong vùng so với mức bình quân chung của cả nước4.
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, từ năm 2010 đến năm 2020, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chương trình trọng tâm để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2010-2015) xác định phương hướng đến năm 2015: “Huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng để đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, gắn với công nghiệp chế biến; khuyến khích phát triển dịch vụ thương mại, tạo bước đột phá về tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn với phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống của nhân dân miền núi so với miền xuôi”5. Với mục tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 17%-18%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 1.300 USD..., phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo khoảng 5% trở lên6. Đại hội cũng đặt ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng miền núi; đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực; huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển; đẩy mạnh đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng; khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên; chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ thiên tai.
Nhằm tạo sự chuyển biến trong công tác giảm nghèo, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 4-11-2013 “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, đến năm 2020”. Đây là nghị quyết chuyên đề về định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở các huyện miền núi, nhất là 7 huyện miền núi nghèo, trong đó xác định đến năm 2020 ở các huyện miền núi “cơ bản không còn hộ nghèo ở nhà tạm, thôn, bản không có điện và hộ gia đình không được sử dụng nước hợp vệ sinh”7. Tỉnh ủy giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực giảm nghèo bền vững toàn tỉnh; Ban Dân tộc là cơ quan chủ trì thực hiện công tác giảm nghèo bền vững ở các huyện miền núi. Đặc biệt, Tỉnh ủy giao UBND tỉnh Thanh Hóa phân công các huyện miền xuôi kết nghĩa, hợp tác các huyện miền núi, các sở, ban, ngành giúp đỡ các xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 30% để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội khu vực miền núi.
Năm 2015, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2015-2020) tiếp tục nhấn mạnh phương hướng: “Tập trung ưu tiên, quan tâm hỗ trợ giảm nghèo ở các huyện miền núi,... thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng miền của tỉnh”8.
Với trọng tâm giảm nghèo bền vững, ngày 27-5-2016, Tỉnh ủy Thanh Hóa ban hành Quyết định số 289-QĐ/TU về “phê duyệt Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020”. Chương trình đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của 11 huyện miền núi nghèo từ 4,6%/năm trở lên (4 huyện miền núi thấp giảm từ 3,6%/năm trở lên; 7 huyện nghèo giảm từ 5,8%/năm trở lên)9. Đồng thời, xác định giải pháp then chốt, đột phá là công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong việc khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của hộ nghèo, hộ cận nghèo; giải pháp trọng tâm, quan trọng nhất để giảm nghèo nhanh và bền vững là phát triển sản xuất, dạy nghề và giải quyết việc làm.
Thực hiện những chủ trương trên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa cùng các sở, ban, ngành của tỉnh đã triển khai nhiều nội dung, biện pháp cụ thể như sau:  
Về Thành lập Ban Chỉ đạo, ngày 19-3-2009, UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 846/QĐ-UBND, “về kiện toàn Ban Chỉ đạo Chương trình giảm nghèo tỉnh Thanh Hóa”; tiếp đó, ngày 7-3-2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 134-QĐ/TU về việc “thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền Tây”, phân công nhiệm vụ cho các ban, sở, ngành và thành viên theo dõi, chỉ đạo các huyện miền núi nghèo; thành lập đoàn công tác liên ngành cấp tỉnh hướng dẫn các huyện nghèo xây dựng Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2010-2020.
Giai đoạn 2016-2020, Thanh Hóa hiện thực hóa chủ trương đẩy mạnh giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới theo các chương trình mục tiêu quốc gia của Trung ương. Theo đó, ngày 29-11-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định số 1149-QĐ/TU về việc “thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia” trên cơ sở hợp nhất Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo phân công nhiệm vụ cho các sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo dõi, giúp đỡ các huyện miền núi, các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trong quá trình thực hiện các chương trình. Đặc biệt, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm và làm việc với huyện Mường Lát từ ngày 2 đến 3-9-2011,10 UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế -xã hội huyện Mường Lát để tập trung lãnh đạo theo Công văn số 1546-CV/VPTW, ngày 19-9-2011 của Văn phòng Trung ương Đảng “về việc xây dựng xã điểm thoát nghèo ở xã Mường Chanh, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa”.
Về kế hoạch thực hiện cụ thể, UBND tỉnh ban hành nhiều quyết định, kế hoạch, trong đó có: Quyết định số 2253/QĐ-UBND, ngày 13-7-2011 “về việc phê duyệt Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi đến năm 2020” với quan điểm “Thực hiện phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái”11 cùng tổng vốn đầu tư cần huy động giai đoạn 2011-2020 là 180-190 nghìn tỷ đồng. Trong đó, lĩnh vực nông, lâm, thủy sản 19-20 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội); công nghiệp - xây dựng khoảng 94-95 nghìn tỷ đồng (chiếm 52%); dịch vụ 68-69 nghìn tỷ đồng (chiếm 38%)12. Quyết định số 2348/QĐ-UBND, ngày 8-7-2013 của UBND tỉnh Thanh Hóa “về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013-2015”, với phạm vi thực hiện toàn tỉnh song ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn trọng điểm là 7 huyện nghèo thuộc vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh, Bá Thước, Như Xuân và Thường Xuân) theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ “về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”, trong đó phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành, các địa phương, đồng thời yêu cầu quán triệt, tuyên truyền sâu rộng tới hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số.
Để thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi; phát triển du lịch các huyện miền núi trên cơ sở “khai thác thế mạnh về tài nguyên văn hóa - du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho người dân các huyện miền núi”13; cùng nhiều kế hoạch về thông tin tuyên truyền, nâng cao năng lực và kiểm tra, giám sát việc thực hiện phát triển kinh tế-xã hội toàn tỉnh nói chung và các huyện miền núi nói riêng.
Về cơ chế, chính sách đặc thù, UBND tỉnh ban hành nhiều đề án với các cơ chế, chính sách đặc thù để tập trung phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi14, trong đó tập trung vào một số nội dung lớn, như: hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; hỗ trợ phát triển dạy nghề, nâng cao dân trí; đào tạo cán bộ; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Nổi bật là “Đề án Phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế phát triển trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020” theo Quyết định số 4438/QD-UBND, ngày 11-12-2014, với tổng kinh phí thực hiện là 814 tỷ đồng. Đề án xác định phát triển 7 loại cây trồng đặc sản có lợi thế: Quế, Khoai sọ vàng (khoai Mán), Lúa nếp hạt cau (lúa nếp hoa vàng), Lúa nếp nương, các loại cây dược liệu, cây Đào cảnh, cây Thanh long với tổng diện tích 10.370 ha15. “Đề án nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo miền núi Thanh Hóa giai đoạn 2013-2020” theo Quyết định số 1438/QĐ-UBND, ngày 6-5-2013, với tổng kinh phí thực hiện 907.789 triệu đồng; trong đó yêu cầu “tập trung mọi nỗ lực và điều kiện để giảm nhanh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục, đào tạo các cấp học, bậc học ở 11 huyện miền núi so với mặt bằng chung toàn tỉnh”16. Từ các đề án, cơ chế, chính sách đã ban hành, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình khu vực miền núi để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế-xã hội các huyện miền núi phát triển.

2.  Kết quả và một số kinh nghiệm
Trong 10 năm (2010-2020), công tác phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa đạt được một số kết quả quan trọng, một số chỉ tiêu vượt mức so với mục tiêu đề ra, cụ thể:
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm trên địa bàn các huyện miền núi đạt 8,7% (trong đó: giai đoạn 2011-2015 tăng 8,5%, giai đoạn 2016-2020 đạt 8,8%); quy mô kinh tế năm 2020 đạt 36.896 tỷ đồng, chiếm 17,2% quy mô GRDP của tỉnh, gấp 4,1 lần năm 201017. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng và vượt chỉ tiêu, trong đó tỷ trọng nông nghiệp giảm mạnh từ 44,0% xuống còn 34,4% (chỉ tiêu: 37,7%); công nghiệp - xây dựng tăng từ 25,7% lên 34,0% (chỉ tiêu: 31,5%); dịch vụ tăng từ 30,3% lên 32,6% (chỉ tiêu: 30,8%)18. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn các huyện miền núi đạt 38,0 triệu đồng, bằng 76% thu nhập bình quân đầu người chung của tỉnh, vượt nghị quyết đặt ra19.
Về xã hội, điều kiện sống của các huyện miền núi được cải thiện rõ rệt, trước hết là việc làm, y tế, giáo dục, văn hóa... ngày càng được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản. Từ năm 2011 đến năm 2020, các huyện miền núi đã giải quyết việc làm cho 153.800 lao động, trong đó có khoảng 25.200 lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 26,5% lên 53%20. Đến hết năm 2020, 100% xã thuộc khu vực miền núi có điện lưới quốc gia; 99,78% hộ dân miền núi được dùng điện lưới quốc gia21. Các huyện đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp 11/11 bệnh viện đa khoa đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân; 100% trạm y tế xã, y tế thôn bản thuộc 11 huyện miền núi được hỗ trợ trang thiết bị y tế22; 155/175 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (đạt tỷ lệ 88,6%), trong đó tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ đạt 94,9% (9 bác sĩ/10.000 dân) 23. Năm 2020, 11 huyện miền núi có 672 trường, trong đó 391 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 58,1% tăng 43,5% so với năm 2010; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 80,4%, tăng 13,4% so với năm 201024. 7/11 huyện có thiết chế văn hóa, thể thao cấp huyện; 133/175 xã, thị trấn có trung tâm văn hóa xã và hội trường đa năng; 55% thôn, bản có nhà văn hóa, khu thể thao. 100% trung tâm các xã có hệ thống truyền dẫn cáp quang và được phủ sóng thông tin di động; 98% hộ đồng bào được xem truyền hình; 95% được nghe đài phát thanh25. Riêng công tác giảm nghèo bền vững có chuyển biến mạnh mẽ: giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ hộ nghèo các huyện giảm mạnh, bình quân hằng năm giảm 5,91%; giai đoạn 2016-2020, giảm bình quân 6,39% (vượt chỉ tiêu giảm 4,6%/năm); đặc biệt, Như Xuân là huyện miền núi duy nhất khu vực Bắc Trung Bộ thoát khỏi diện huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ  và 72 xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn26.
Giai đoạn 2010-2020, mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế -xã hội, song đến năm 2020, vùng miền núi “vẫn là khu vực khó khăn nhất của tỉnh”27. Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, thế mạnh chăn nuôi chưa được phát huy, chưa có nhiều mô hình tiêu biểu; sản xuất công nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, sản phẩm còn hạn chế về chủng loại và sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu kém, chưa hấp dẫn thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Về xã hội, nhà nội trú cho học sinh còn thiếu; cơ sở y tế, vật chất chưa đạt chuẩn còn cao; mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào dân tộc còn thấp; kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, như: Mường Lát, Quan Sơn, Lang Chánh.
Từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế -xã hội các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2020, có thể đúc rút một số kinh nghiệm:
Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chủ trương phát triển kinh tế -xã hội khu vực miền núi của Đảng. Công tác tuyên truyền là quá trình vận động, thuyết phục, làm cho người dân hiểu rõ và đồng thuận với các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Việc tuyên truyền hiệu quả đã góp phần thay đổi căn bản tư duy phát triển của người dân miền núi từ chỗ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, sang tư duy chủ động phát triển sản xuất, thoát nghèo bằng chính nội lực của mình. Công tác này được tiến hành đồng bộ, có trọng tâm, thông qua nhiều kênh, gồm: hệ thống truyền thanh cơ sở, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ, đảng viên sinh hoạt tại thôn, bản, kết hợp với hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, như; Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…
Đặc biệt, công tác tuyên truyền còn gắn liền với việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở - những người trực tiếp “cầm tay chỉ việc” cho nhân dân. Nhờ đó, chất lượng đội ngũ cán bộ miền núi từng bước được nâng lên, tạo được niềm tin và sự đồng thuận trong quần chúng nhân dân, quyết định sự thành công trong triển khai các nghị quyết, chính sách phát triển kinh tế -xã hội các huyện miền núi Thanh Hoá.
Hai là, xác định đúng khâu trọng tâm, đột phá. Nhờ sự chỉ đạo có trọng tâm và đột phá của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2010-2020, nhiều huyện miền núi của tỉnh đã có chuyển biến rõ rệt, đặc biệt là phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu, giảm nghèo bền vững, phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp hàng hóa gắn với lợi thế địa phương, xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng nhiều nguồn vốn từ các chương trình, đề án, chính sách bảo đảm yêu cầu cấp thiết cho phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Trong triển khai thực hiện, tổ chức điều tra, khảo sát nắm vững địa bàn, đánh giá đúng tiềm năng và điểm nghẽn của từng địa phương để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí nguồn lực. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp liên ngành, liên vùng và huy động sự tham gia của các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức xã hội vào thực hiện các nhiệm vụ đột phá. Kinh nghiệm cho thấy, nơi nào có sự đồng thuận giữa cấp ủy, chính quyền và nhân dân, nơi đó việc lựa chọn trọng tâm phát triển sẽ có hiệu quả rõ rệt, góp phần thực hiện thành công mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Ba là, quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là phương pháp lãnh đạo, mà còn là nguyên tắc hành động của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi giai đoạn 2010-2020. Tính quyết liệt trong chỉ đạo thể hiện ở sự vào cuộc đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở với quyết tâm chính trị cao, thống nhất; sự linh hoạt và sáng tạo thể hiện ở việc không áp dụng máy móc các mô hình mà luôn điều chỉnh phù hợp với từng địa bàn, từng thời điểm. Sự chỉ đạo quyết liệt còn thể hiện ở việc tháo gỡ kịp thời những “điểm nghẽn” như giao thông, thủy lợi, vốn vay, đất sản xuất... Trong giai đoạn 2010-2020, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên và dân tộc khác nhau của các huyện miền núi. Những định hướng đó gắn với chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của các ban chỉ đạo, các đoàn công tác cấp tỉnh, sự chủ động của chính quyền cấp huyện, đã giúp địa phương phát huy được tiềm năng sẵn có và tạo ra chuyển biến rõ nét.
Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh luôn đề cao sự linh hoạt và sáng tạo dựa trên đặc thù của từng địa phương. Mỗi địa phương chủ động đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế của mình để đề xuất các mô hình phát triển phù hợp, không trông chờ, ỷ lại. Luôn tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp cơ sở đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Việc bám sát thực tiễn trở thành nguyên tắc trong xây dựng và thực thi các chương trình phát triển miền núi. Đặc biệt, phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, những người am hiểu địa bàn và gần dân nhất trong việc phát hiện vấn đề, tham mưu giải pháp và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, do đó tong những năm 2010- 2020, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã xác định rõ: Phát triển kinh tế phải đồng hành với giải quyết các vấn đề xã hội, như: nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế, xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn bản sắc dân tộc và giữ gìn an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội... Trong quá trình thực hiện các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương luôn chú trọng tính toàn diện giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển con người với gìn giữ bản sắc văn hóa. Các chương trình phát triển kinh tế lồng ghép với đào tạo nghề, phổ cập giáo dục, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số và bảo vệ môi trường. Đồng thời, có các chính sách khuyến khích phát triển mô hình kinh tế cộng đồng, như: hợp tác xã, tổ hợp tác gắn với trách nhiệm xã hội; đẩy mạnh các hoạt động giáo dục chính trị, pháp luật, phòng chống tệ nạn; mở rộng mạng lưới an sinh xã hội... huy động nguồn lực xã hội hóa, nhất là từ doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, để hỗ trợ những địa bàn đặc biệt khó khăn.
Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2020 đã đạt nhiều kết quả tốt đẹp, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương, chính sách cũng như tính ưu việt của chế độ XHCN ở Việt Nam. Để thực hiện chủ trương miền núi tiến kịp miền xuôi, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiều giải pháp phát triển kinh tế- xã hội đồng bộ, tập trung phát huy nội lực, gắn giảm nghèo với phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới.


 
Ngày gửi: 18-8-2025; ngày thẩm định, đánh giá: 24-2-2026; ngày duyệt đăng: 10-3-2026
Email: [email protected]
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2016, T. 63, tr. 358, 359
3. Xem: Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg, ngày 15-4-2005 ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010”, tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa
4. Xem: Ban Chấp hành Trung ương: Kết luận số 26-KL/TW, ngày 2-8-2012 của Bộ Chính trị “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng Sở Dân tộc và Tôn giáo Thanh Hóa
5. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVII, Thanh Hóa, 2010, tài liệu lưu tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa tr. 40-41
6. Xem: Tỉnh ủy Thanh Hóa: Quyết định số 196-QĐ/TU ngày 27-4-2011 về “Ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015”, tr. 6, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa
7. Tỉnh ủy Thanh Hóa: Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 4-11-2013 “về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, đến năm 2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, tr. 3
8. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVIII, Thanh Hóa, 2015, tài liệu lưu tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa, tr. 62
9. Xem: Tỉnh ủy Thanh Hóa: Quyết định số 289-QĐ/TU, ngày 27-5-2016 “phê duyệt Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, tr. 1
10. Xem: Tỉnh ủy Thanh Hóa: Biên niên những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 2006-2015, Nxb Thanh Hóa, H, 2015, tr. 297-298
11, 12. Xem: UBND tỉnh Thanh Hóa: Quyết định số 2253/QĐ-UBND, ngày 13-7-2011 “về việc phê duyệt Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi đến năm 2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, tr. 2, 12
13. Xem: UBND tỉnh Thanh Hóa: Kế hoạch số 13/KH-UBND, ngày 6-2-2015 về “triển khai Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về lĩnh vực du lịch”, tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, tr. 1
14. Các đề án do UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành: “Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo miền núi tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2013-2020”; “Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”; “Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ vùng đồng bào Mông tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”; “Phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế phát triển trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”; “Giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2020”; “Bảo tồn, phát triển nghề, làng nghề truyền thống vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016-2020”; “Ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế - xã hội các bản dân tộc Mông huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016-2020”; “Ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội đồng bào Khơ Mú tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”; “Điểm điển hình giảm nghèo bền vững 7 huyện nghèo (mỗi huyện chọn 1 xã điểm)”; “Thực hiện chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2018-2020”
15. Xem: UBND tỉnh Thanh Hóa: Quyết định số 4438/QĐ-UBND, ngày 11-12-2014 của UBND tỉnh Thanh Hóa về “phê duyệt Đề án: Phát triển cây trồng, vật nuôi có lợi thế phát triển trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, tr. 4
16. Xem: UBND tỉnh Thanh Hóa: Quyết định số 1438/QĐ-UBND, ngày 6-5-2013 “về việc phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo miền núi Thanh Hóa giai đoạn 2013-2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Thanh Hóa, tr. 2
17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27. Xem: Tỉnh ủy Thanh Hóa: Báo cáo số 86-BC/TU ngày 20-8-2021 “tổng kết thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020”, tài liệu lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, tr. 3, 26, 26, 27, 12, 12, 8, 6, 11, 7, 15.