Tóm tắt: Phát triển nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống và sinh kế của một bộ phận nhân dân, tạo nguồn hàng xuất khẩu. Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên quán triệt, vận dụng chủ trương của Đảng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp đạt được nhiều kết quả nổi bật. Bài viết làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển nông nghiệp, kết quả đạt được và một số bài nghiệm.
Từ khóa: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên; phát triển nông nghiệp; (2010 - 2020); kinh tế nông nghiệp.
Ngày nhận: 3-7-2026; Ngày thẩm định, đánh giá: 31-7-2026; Ngày duyệt đăng: 19-8-2026

THAI NGUYEN PROVINCIAL PARTY COMMITTEE LEADS AGRICULTURAL DEVELOPMENT (2010 - 2020)

Abstract: Agricultural development is crucial to economic growth, social security, and the stability of rural livelihoods in Thai Nguyen Province. Between 2010 and 2020, the Thai Nguyen Provincial Party Committee adopted and adapted the Communist Party of Vietnam’s guidelines, progressively refining local development orientations and directing the implementation of policies suited to the province’s conditions and advantages. This article examines the Provincial Party Committee’s leadership of agricultural development, focusing on structural shifts, agricultural restructuring, the development of key agricultural products, the application of science and technology, infrastructure improvement, and innovations in production organization. The findings indicate that the province’s agricultural sector sustained growth, experienced positive shifts in its internal structure, increased product value, strengthened value-chain linkages, and made significant progress in new-style rural development. By analyzing the remaining limitations, the article draws lessons on adapting the Party’s guidelines to local conditions, leveraging local advantages, and safeguarding farmers’ interests.
Keywords: Thai Nguyen Provincial Party Committee; agricultural development; agricultural economy.

1. Đặt vấn đề
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nông nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Cùng với quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, yêu cầu phát triển nông nghiệp không chỉ hướng tới gia tăng sản lượng mà ngày càng chú trọng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và tính bền vững.
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp, với nhiều sản phẩm gắn với lợi thế địa phương như chè, chăn nuôi gia súc, lâm sản. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của Thái Nguyên cũng gặp phải nhiều khó khăn, thách thức như: quá trình đô thị hóa làm thu hẹp diện tích đất sản xuất, chuyển dịch lao động; quy mô sản xuất nhỏ lẻ; liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ chưa bền vững; ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển vùng hàng hóa tập trung chưa đồng đều,... đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản lý và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với phát triển nông nghiệp (2010-2020), kết quả đạt được và đúc rút một số kinh nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và logic. Phương pháp lịch sử tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển nông nghiệp giai đoạn 2010-2020. Phương pháp logic phân tích chủ trương, kết quả, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm. Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê để nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Đảng bộ và chính quyền tỉnh.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế-xã hội, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương lớn nhằm phát triển nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước. Đặc biệt, Đại hội X (2006) của Đảng xác định nhiệm vụ xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.191). Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội X, ngày 5-8-2008, HNTƯ 7, khoá X thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2008).
Quán triệt các chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015 xác định phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình CNH, HĐH của tỉnh. Đại hội chủ trương: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Phấn đấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp tăng bình quân hằng năm trên 6%” (Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2010, tr.34). Trọng tâm là quản lý, sử dụng hiệu quả đất trồng lúa; mở rộng diện tích đất trồng chè giống mới gắn với chế biến; phát triển rau an toàn, hoa, cây cảnh; chuyển chăn nuôi theo hướng tập trung, an toàn sinh học, gắn với giết mổ, chế biến và tiêu thụ. Đại hội đặt mục tiêu đến năm 2015, giá trị sản xuất đạt trên 85 triệu đồng/ha đất trồng trọt; tiếp tục đầu tư thủy lợi, đê, kè và công trình phòng, chống thiên tai (Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2010, tr.34-35).
Trên cơ sở chủ trương của Đại hội, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành nhiều văn bản quan trọng chỉ đạo phát triển nông nghiệp. Đặc biệt, ngày 6-12-2010, Tỉnh ủy thông qua Nghị quyết số 01-NQ/TU về “mục tiêu, nhiệm vụ năm 2011”, yêu cầu sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn; đồng thời tiến hành rà soát quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ để nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2010, tr.4). Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, vấn đề tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản được xác định là một nội dung quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Ngày 4-12-2014, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU “về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị năm 2015”. Nghị quyết yêu cầu: “Xây dựng được một số đơn vị doanh nghiệp, hợp tác xã, nhóm sản xuất sản phẩm tạo thành chuỗi hàng hóa cung cấp cho thị trường, đồng thời có cơ chế, giải pháp hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho người dân” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 4-12-2014, tr.3). Nghị quyết số 09-NQ/TU cho thấy sự đổi mới trong tư duy lãnh đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, từ chú trọng phát triển sản xuất sang tổ chức lại sản xuất, theo chuỗi liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa trong giai đoạn mới.
Cụ thể hóa những chủ trương của Trung ương Đảng và của Đảng bộ tỉnh, ngày 10-12-2010, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 34/2010/NQ-HĐND về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015”, trong đó xác định rõ các chỉ tiêu phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới (HĐND tỉnh Thái Nguyên, 10-12-2010). Để tạo cơ chế huy động nguồn lực đầu tư cho khu vực nông thôn, ngày 19-7-2012, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐND “Quy định hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”; Quyết định số 29/2012/QĐ-UBND ngày 13-9-2012 ban hành “Quy định hỗ trợ đầu tư và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”. Những chính sách trên đã tạo cơ sở để huy động và lồng ghép các nguồn lực đầu tư, phát huy sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với các công trình hạ tầng thiết yếu, giao thông, thủy lợi và các công trình phục vụ sản xuất, đời sống của người dân nông thôn,…
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ (2015-2020) chủ trương: “Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp; khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn, đảm bảo an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường; phát triển mạnh hệ thống sản xuất, kinh doanh và dịch vụ theo chuỗi giá trị sản phẩm hàng hoá từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm” (Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2015, tr.109). So với nhiệm kỳ trước, chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần này vừa kế thừa định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, vừa nhấn mạnh hơn yêu cầu ứng dụng khoa học-công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, quy mô sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường.
Ngày 27-6-2016, Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 29-KL/TU về “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020” xác định: “Tái cơ cấu nông nghiệp là một phần của tái cơ cấu nền kinh tế, phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2016b, tr.1). Kết luận nhấn mạnh phải tuân theo cơ chế thị trường, bảo đảm lợi ích của nông dân và người tiêu dùng; phát huy vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã và xác định vai trò của Nhà nước trong quy hoạch, xây dựng, phát triển hạ tầng, khoa học - công nghệ và thị trường; Kết luận số 26-KL/TU của Tỉnh ủy Thái Nguyên về “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020”, nêu rõ yêu cầu gắn ứng dụng công nghệ với vùng sản xuất, hạ tầng và đào tạo nhân lực (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2016a, tr.1). Riêng đối với cây chè, sản phẩm nông nghiệp có lợi thế nổi bật của tỉnh, ngày 19-4-2017, Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 123-KL/TU về “Đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè và thương hiệu sản phẩm trà Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”, yêu cầu: “Khuyến khích phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, các mô hình liên kết trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm trà trong và ngoài nước. Chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ giới hóa, đầu tư trang thiết bị chế biến công nghiệp tiên tiến, quy mô công suất phù hợp” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2017, tr.2). Ngày 21-10-2019, Tỉnh ủy tiếp tục ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 21-10-2019 về “phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025, định hướng đến năm 2030”, nhấn mạnh: “Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh của địa phương, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, thích ứng với cơ chế thị trường, biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Phát triển đồng bộ nông nghiệp với công nghiệp, thương mại, dịch vụ để nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2019, tr.2). Nghị quyết xác định chuyển quy mô phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm, hợp tác xã là đầu mối liên kết doanh nghiệp với nông dân (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2019, tr.4-5).
Những chủ trương trên đã được chính quyền tỉnh Thái Nguyên cụ thể hóa bằng những chính sách cụ thể. HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 13/NQ-HĐND ngày 18-5-2017, thông qua “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020” và Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐND thông qua “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”, trong đó, Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐND đặt mục tiêu xây dựng ít nhất hai mô hình điểm đối với chè và rau, phấn đấu giá trị sản xuất ứng dụng công nghệ cao chiếm từ 20% trở lên trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh (HĐND tỉnh Thái Nguyên, 2017a, tr.1-2). Tiếp đó, ngày 24-7-2017, UBND tỉnh ra Quyết định số 2200/QĐ-UBND phê duyệt “Đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè và thương hiệu sản phẩm trà Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020” nhằm tổ chức thực hiện theo hướng kết hợp vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, đổi mới chế biến, xây dựng thương hiệu và thị trường cho cây chè (UBND tỉnh Thái Nguyên, 2017). Ngày 31-12-2019, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch số 151/KH-UBND về “thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 21-10-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó, phân công nhiệm vụ cho các ngành, địa phương, nhấn mạnh yêu cầu tổ chức sản xuất gắn với 9 nhóm sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh (UBND tỉnh Thái Nguyên, 31-12-2019, tr.1-7).
Như vậy, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2010-2020 từng bước được bổ sung, hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
2.2. Một số kết quả
Giai đoạn 2010-2020, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, nông nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, cụ thể như sau:
Một là, nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng và phát huy lợi thế của các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Đảng bộ tỉnh tập trung chỉ đạo rà soát quy hoạch, điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả và phát triển vùng hàng hóa. Nhờ đó, giai đoạn 2010-2020, nông nghiệp Thái Nguyên tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá ổn định, đồng thời có sự chuyển biến trong quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát huy lợi thế của từng ngành. Năm 2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 7.604,9 tỷ đồng, tăng lên 11.253,7 tỷ đồng năm 2015 và 14.060,1 tỷ đồng năm 2020; tốc độ tăng bình quân của hai giai đoạn 2010-2015 và 2015-2020 lần lượt đạt khoảng 8,2%/năm và 4,6%/năm. Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 59,7% xuống 48%, chăn nuôi tăng từ 32,1% lên 45,8% (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2021, tr.240-241). Những kết quả trên cho thấy chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh đã từng bước đi vào thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng nông sản và giá trị sản phẩm.
Trong trồng trọt, tỉnh tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển giống chất lượng cao và hình thành các vùng sản xuất tập trung. Giá trị sản phẩm thu được trên một ha đất trồng trọt tăng từ 84,8 triệu đồng năm 2015 lên 110 triệu đồng năm 2020 (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2021, tr.247); 5.320 ha đất lúa một vụ kém hiệu quả được chuyển đổi. Diện tích lúa năng suất, chất lượng cao, đặc sản và hữu cơ đạt 24.187 ha, chiếm khoảng 35% diện tích gieo cấy; một số vùng sản xuất gắn với các sản phẩm đặc trưng của địa phương như: nếp Thầu Dầu Phú Bình, nếp Vải Phú Lương và gạo bao thai Định Hóa từng bước được hình thành (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.5-6). Đối với cây chè, trọng tâm phát triển là nâng cao chất lượng giống, quy trình canh tác, chất lượng và giá trị sản phẩm. Năm 2020, toàn tỉnh có 22.399 ha chè, trong đó 19.754 ha cho sản phẩm; diện tích chè giống mới đạt 18.305 ha, chiếm 82%; khoảng 2.600 ha được chứng nhận VietGAP và 127 ha sản xuất hữu cơ (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.6).
Chăn nuôi từng bước chuyển từ quy mô hộ nhỏ lẻ sang trang trại, sản xuất an toàn và liên kết với doanh nghiệp. Năm 2020, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 147,7 nghìn tấn; toàn tỉnh có 738 trang trại chăn nuôi, trong đó 66 trang trại được chứng nhận VietGAHP, 56 trang trại an toàn dịch bệnh; trên 70% trang trại tham gia các hình thức hợp tác, gia công hoặc liên kết tiêu thụ sản phẩm (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.7). Một số mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao được hình thành tại các xã Tân Thành, Tân Kim, Tân Khánh và Bàn Đạt.
Lâm nghiệp và thủy sản được phát triển theo hướng khai thác lợi thế đồi rừng và mặt nước. Năm 2010, tổng diện tích rừng của Thái Nguyên là 175.071 ha, đến năm 2020 đạt 187.454 ha, tăng 12.383 ha (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2021, tr.285), trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 5.975 ha, sản lượng 14,9 nghìn tấn (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.8-9). Các mô hình nuôi cá lồng, nuôi trai lấy ngọc đã góp phần nâng cao hiệu quả khai thác mặt nước.
Hai là, kết cấu hạ tầng và ứng dụng khoa học-công nghệ được tăng cường, tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn 2010-2020, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tiếp tục được quan tâm đầu tư, góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và nâng cao khả năng phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại. Năm 2010, toàn tỉnh chỉ có 1/143 xã đạt tiêu chí giao thông và 24/143 xã đạt tiêu chí thủy lợi. Đến năm 2020, sau một số lần điều chỉnh địa giới, chuyển xã thành phường và sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh còn 137 xã, trong đó, 119 xã đạt tiêu chí giao thông và 98,5% số xã đạt tiêu chí thủy lợi; xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp 10.794 km đường giao thông nông thôn. Hệ thống điện và thủy lợi được củng cố với 551 trạm điện, 2.366km đường dây và 645,6km kênh mương (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.10-13), góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt và mở rộng khả năng tưới tiêu, cơ giới hóa, vận chuyển và kết nối vùng sản xuất với thị trường.
Cùng với đầu tư hạ tầng, việc ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ trong nông nghiệp có bước phát triển. Đến năm 2020, tỉnh đã triển khai 213 nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất an toàn, bảo quản, chế biến và phát triển vùng hàng hóa. Năm 2016, toàn tỉnh có 13.614 máy cày, bừa, 440 máy gặt đập liên hợp và 460 máy hái chè; tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất và tưới đạt khoảng 60%, vận chuyển vật tư và nông sản đạt khoảng 90% (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.16-17). Các giống chè mới như LDP1, TRI777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc cùng mô hình nhà kính, nhà lưới và chế phẩm sinh học từng bước được đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Ba là, tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới theo hướng phát triểm kinh tế hợp tác, liên kết chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu nông sản.
Đến năm 2020, toàn tỉnh có 400 hợp tác xã nông nghiệp, 215 tổ hợp tác với 4.326 thành viên, 761 trang trại và 112 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Số xã đạt tiêu chí tổ chức sản xuất tăng từ 31/143 xã năm 2010 lên 120/137 xã năm 2020. Trong chăn nuôi, 13 doanh nghiệp thực hiện liên doanh, gia công với 416 trang trại, qua đó hình thành rõ hơn mối liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
Việc xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm nông nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã góp phần tiêu chuẩn hóa, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường đối với các sản phẩm đặc trưng. Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 76 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao, doanh số của nhiều chủ thể tăng từ 20% đến 50%, một số trường hợp tăng từ 70% đến 100% (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.7, 14-15). Nhiều sản phẩm OCOP tiêu biểu gắn với lợi thế địa phương từng bước được xây dựng và khẳng định thương hiệu trên thị trường, tiêu biểu như: chè Tân Cương Hoàng Bình, chè Tân Cương Hảo Đạt,  miến dong Việt Cường, gạo bao thai Định Hóa,…
Bốn là, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đã góp phần quan trọng trong cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân và bảo đảm an sinh xã hội. Đến năm 2020, toàn tỉnh có 108/137 xã đạt chuẩn nông thôn mới; thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 42,49 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn giảm còn 3,71%; tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 95%. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm triển khai. Giai đoạn 2011-2020, tỉnh đào tạo nghề cho 46.336 lao động trong đó 36.224 người có việc làm sau đào tạo, đạt 78,18% (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2021, tr.10-17).
Bên cạnh những kết quả đạt được, sự phát triển của nông nghiệp Thái Nguyên vẫn còn những mặt hạn chế. Sản xuất quy mô hộ còn phổ biến, đất đai phân tán; vùng nguyên liệu tập trung, diện tích được chứng nhận VietGAP, hữu cơ và các mô hình ứng dụng công nghệ cao chưa nhiều. Năng lực quản trị, chế biến và phát triển thị trường của một bộ phận hợp tác xã còn yếu; số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ thiếu ổn định.
2. 3. Một số kinh nghiệm
Một là, Đảng bộ tỉnh vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, xác định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển nông nghiệp sát thực tiễn địa phương
Trong giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh đã quán triệt và cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lợi thế của tỉnh. Đảng bộ tỉnh xác định phát triển nông nghiệp không theo hướng mở rộng quy mô bằng mọi giá mà tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích, phát huy lợi thế các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, phát triển chăn nuôi hàng hóa, đồng thời từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung. Các chủ trương phát triển nông nghiệp tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo hướng coi trọng tái cơ cấu ngành, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ và xây dựng thương hiệu nông sản. Cách vận dụng này phù hợp với điều kiện quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình CNH, HĐH, đồng thời khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương.
Hai là, coi trọng quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu và phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo lợi thế của địa phương
Trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn chế và diện tích đất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp, Đảng bộ tỉnh chú trọng lãnh đạo công tác quy hoạch vùng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa gắn với liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, ưu tiên sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như cây chè, chăn nuôi và một số nông sản đặc trưng; quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng, cây, con giống, ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng hợp tác xã và thương hiệu nông sản.
Ba là, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và huy động sự tham gia của các chủ thể trong tổ chức thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp.
Đảng bộ tỉnh xác định đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp. Tỉnh ủy giữ vai trò lãnh đạo, ban hành các chủ trương phát triển nông nghiệp; trên cơ sở đó, HĐND, UBND tỉnh cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách phù hợp để tổ chức thực hiện. Việc huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực xã hội, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững.

3. Kết luận
Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã vận dụng chủ trương của Đảng phù hợp với thực tiễn địa phương, đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng tái cơ cấu ngành, ứng dụng khoa học-công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng liên kết thị trường, Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nông nghiệp Thái Nguyên đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Trung ương. (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thư viện pháp luật, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Nghi-quyet-26-NQ-TW-nong-nghiep-nong-dan-nong-thon-69455.aspx
Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên. (2021). Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2020. Nxb. Thống kê
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên. (2010). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên. (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị quốc gia
Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2010). Nghị quyết số 34/2010/NQ-HĐND ngày 10-12-2010 về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015
Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2012). Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐND ngày 19-7-2012 “quy định hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2017a). Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐND ngày 18-5-2017 thông qua “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”
Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2017b). Nghị quyết số 13/NQ-HĐND ngày 18-5-2017 thông qua “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2010). Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 6-12-2010 về mục tiêu, nhiệm vụ năm 2011
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2014). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 4-12-2014 về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị năm 2015”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2016a). Kết luận số 26-KL/TU ngày 27-6-2016 về “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2016b). Kết luận số 29-KL/TU ngày 27-6-2016 về “Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2017). Kết luận số 123-KL/TU ngày 19-4-2017 về “Đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè và thương hiệu sản phẩm trà Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2019). Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 21-10-2019 về “phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025, định hướng đến năm 2030”
Tỉnh ủy Thái Nguyên. (2021). Báo cáo số 105-BC/TU ngày 29-7-2021 “tổng kết thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2012). Quyết định số 29/2012/QĐ-UBND ngày 13-9-2012 “ban hành Quy định hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2017). Quyết định số 2200/QĐ-UBND ngày 24-7-2017 “phê duyệt Đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè và thương hiệu sản phẩm trà Thái Nguyên giai đoạn 2017-2020”
Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. (2019). Kế hoạch số 151/KH-UBND ngày 31-12-2019 “thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 21-10-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2019-2025, định hướng đến năm 2030”.