Tóm tắt: Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như trong đời sống của nhân dân. Đại hội VIII (1996) của Đảng đã xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.391). Với ý nghĩa đó, bài viết tập trung phân tích làm rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy nguồn lực văn hóa nhằm thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển và việc vận dụng chủ trương này trong phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ quá trình chuyển hóa quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa thành những chủ trương và hoạt động cụ thể ở cơ sở, đồng thời gợi mở một số kinh nghiệm trong phát huy nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Từ khóa: Văn hóa; nguồn lực văn hóa; du lịch cộng đồng; Sơn La
Ngày nhận bài:25-8-2026; Ngày thẩm định, đánh giá: 25-9-2026; Ngày duyệt đăng: 29-10-2026

THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM’S PERSPECTIVES ON CULTURE AND THEIR APPLICATION TO COMMUNITY-BASED TOURISM DEVELOPMENT IN SON LA PROVINCE
Abstract: Culture plays a particularly important role in the historical process of national construction and defense, as well as in the social life of the people. At its Eighth National Congress (1996), the Communist Party of Vietnam affirmed that “Culture is the spiritual foundation of society, serving as both a goal and a driving force for socio-economic development” (Communist Party of Vietnam, 2015, Vol. 55, p. 391). Against this background, this article examines the Communist Party of Vietnam’s perspectives and policy orientations on mobilizing cultural resources to promote socio-economic development, with particular emphasis on their application to community-based tourism development in Son La Province. The findings contribute to a deeper understanding of how the Party’s perspectives on cultural development are translated into concrete policies and practices at the local level. They also offer insights into the effective mobilization of cultural resources to support sustainable development in ethnic minority areas.
Keywords: Culture; Cultural Resources; Community-Based Tourism; Son La.

1. Đặt vấn đề
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm chủ trương của Đảng về văn hóa và phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước luôn được bổ sung phát triển. Trong đó, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ với tư cách là lĩnh vực cần bảo tồn, gìn giữ và hưởng thụ, mà còn như một nguồn lực nội sinh của phát triển.
Đại hội VIII (1996) của Đảng chủ trương “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.391). Nghị quyết Đại hội xác định cần phải củng cố, tăng cường mạng lưới văn hoá cơ sở. Quản lý tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ. Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta; tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hoá Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.392). 
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nêu rõ: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 9-6-2014).
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” tiếp tục khẳng định văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình lịch sử lâu dài, đồng thời xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh con người Việt Nam.
Với những quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung, văn hóa của các dân tộc thiểu số nói riêng không chỉ được bảo tồn tốt hơn mà còn được phát huy thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số mô hình du lịch cộng đồng chỉ hoạt động cầm chừng, mang tính mùa vụ hoặc lợi ích kinh tế tập trung vào một số ít hộ dân có điều kiện về vốn, vị trí hoặc khả năng kết nối thị trường. Ở một số địa bàn, việc gia tăng lượng khách đã làm gia tăng sức ép đối với môi trường, cảnh quan và không gian văn hóa. Điều đó cho thấy, nếu chỉ xem văn hóa như một “tài nguyên du lịch” để khai thác thì chính hoạt động du lịch có thể làm suy giảm những tài nguyên và giá trị mà vốn là nguồn mạch để ngành du lịch phát triển.
Sơn La là địa phương có truyền thống văn hóa với sự đa dạng và đặc sắc của 12 dân tộc thiểu số: Thái, Hmông, Dao, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày,…, trong đó nổi bật là văn hóa của đồng bào Thái và Hmông. Sự đa dạng về phong tục, tập quán, trang phục, kiến trúc, nghệ thuật dân gian, ẩm thực và tri thức địa phương, tạo nên nguồn tài nguyên quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Từ thực trạng trên, bài viết tập trung phân tích làm rõ những quan điểm, chủ trương chủ yếu của Đảng về phát triển văn hóa và việc vận dụng những quan điểm này vào phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Sơn La, nhất là vùng dân tộc thiểu số (DTTS) của tỉnh. Bài viết hướng tới luận giải rằng việc phát triển du lịch cộng đồng ở vùng DTTS không nên hiểu đơn thuần là khai thác các giá trị văn hóa để phục vụ khách du lịch, mà cần được đặt trong một chiến lược rộng hơn: phát huy nội lực cộng đồng, củng cố chủ thể văn hóa, tạo sinh kế, tăng cường liên kết xã hội, bảo vệ môi trường và từng bước nâng cao năng lực tự quản trị của cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh và tổng kết thực tiễn. Trong đó, phương pháp lịch sử và logic được sử dụng làm chủ đạo nhằm hệ thống hóa quá trình hình thành, bổ sung và phát triển quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa, đặc biệt là nhận thức về vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội. Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh được vận dụng để làm rõ nội dung các văn kiện của Đảng, đồng thời đối chiếu với những chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Sơn La về phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Phương pháp tổng kết thực tiễn được sử dụng nhằm làm rõ việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng trong phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương, những kết quả đạt được và một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy nguồn lực văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa và phát huy giá trị văn hóa
 Xác lập nền tảng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943 đặt ra ba nguyên tắc lớn của nền văn hóa mới Việt Nam là dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới tiếp tục được bổ sung và phát triển trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã tạo một dấu mốc quan trọng trong nhận thức quan điểm của Đảng về văn hóa. Đồng thời, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ “bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”, trong đó đề cập đến bảo tồn các giá trị truyền thống, phát triển ngôn ngữ và chữ viết, phát huy tài năng của nghệ nhân, điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật của các DTTS (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 16-7-1998). Một điểm đáng chú ý khác của nghị quyết này là quan điểm bảo vệ bản sắc không đồng nghĩa với bảo lưu nguyên trạng mọi yếu tố truyền thống.
Nhấn mạnh việc bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc xác định Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống; mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất. Điểm quan trọng của Nghị quyết 24-NQ/TW là vấn đề văn hóa được đặt trong một chỉnh thể phát triển rộng hơn, bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 12-3-2003). Nghị quyết 24-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách, chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Quan điểm này gợi mở một nguyên tắc quan trọng đối với du lịch cộng đồng, đó là cộng đồng chỉ thực sự trở thành chủ thể khi họ tham gia vào quá trình ra quyết định, chứ không chỉ tham gia ở khâu thực hiện các dự án đã được thiết kế từ bên ngoài.
Văn hóa là sức mạnh nội sinh và động lực phát triển.
Tư duy về vai trò của văn hóa tiếp tục được phát triển trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đại hội xác định nhiệm vụ phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa “thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 116). Đại hội XIII (2021) của Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa, môi trường văn hóa và đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, đồng thời phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 47).
Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng khi xem xét văn hóa DTTS trong phát triển du lịch cộng đồng. Những giá trị như kiến trúc truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, lễ hội, tri thức địa phương, cảnh quan văn hóa và phương thức ứng xử với tự nhiên có thể tạo ra những sản phẩm và trải nghiệm du lịch khác biệt. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa văn hóa là nguồn lực và văn hóa là tài nguyên để khai thác. Nếu chỉ xem văn hóa như một tài nguyên để phục vụ thị trường, cộng đồng rất dễ trở thành người cung cấp nguyên liệu văn hóa trong khi giá trị kinh tế lớn hơn được tạo ra và kiểm soát bởi các chủ thể bên ngoài. Ngược lại, nếu văn hóa được xem là nguồn lực nội sinh, mục tiêu phải là nâng cao năng lực của chính cộng đồng trong việc nhận diện, tổ chức, sáng tạo, chuyển hóa và tái đầu tư vào các giá trị văn hóa của mình.
Văn hóa trở thành nền tảng, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển
Từ Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Đảng đã nhấn mạnh việc “Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2014). Đối với các DTTS, quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt bởi văn hóa trước hết được hình thành, duy trì và trao truyền trong chính đời sống cộng đồng. Nhà nước không thay thế cộng đồng trong việc thực hành, tái tạo và trao truyền văn hóa. Đến Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí và vai trò của văn hóa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước khi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự thúc đẩy của chiến lược chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”; đồng thời khẳng định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng. Tại Mục III, nhiệm vụ và giải pháp 5 đã xác định rõ cần “Xây dựng hệ sinh thái văn hoá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hoá” (Bộ Chính trị, 7-1-2026).
Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, đồng thời chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS. Nghị quyết cũng đặt vấn đề xây dựng không gian văn hóa số và thúc đẩy số hóa di sản văn hóa, qua đó mở rộng không gian tồn tại, sáng tạo và tiếp cận văn hóa trong điều kiện phát triển mới (Bộ Chính trị, 7-1-2026). Đối với vùng DTTS, quan điểm này có thể được hiểu theo hai phương diện. Một mặt, các giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục cần được bảo vệ, trao truyền và phát huy. Mặt khác, cộng đồng cần có khả năng đưa những giá trị đó tham gia vào những không gian phát triển mới, bao gồm thị trường du lịch, kinh tế sáng tạo và không gian số. Điều này đặc biệt phù hợp với du lịch cộng đồng. Khi một cộng đồng sử dụng nghề dệt truyền thống để sản xuất hàng lưu niệm, sử dụng ẩm thực truyền thống để xây dựng trải nghiệm du lịch, phục hồi kiến trúc nhà ở để phát triển homestay hoặc tổ chức các hoạt động trải nghiệm dựa trên tri thức địa phương, quá trình đó vừa có thể tạo ra giá trị kinh tế vừa tạo động lực để duy trì các thực hành văn hóa.
2.2. Vận dụng quan điểm của Đảng về văn hóa và phát huy giá trị văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Sơn La
Chủ trương, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh thuộc vùng Tây Bắc có diện tích tự nhiên là 1.410.983 ha, chiếm 4,27% diện tích cả nước. Toàn tỉnh có 1,3 triệu người, gồm 12 dân tộc Thái, Kinh, Mông, Mường, Xinh Mun, Dao, Khơ Mú, Kháng, La Ha, Lào, Tày, Hoa cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, trang phục, kiến trúc, nghệ thuật dân gian, ẩm thực và tri thức địa phương riêng, tạo nên nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng của văn hóa tỉnh Sơn La nói riêng, văn hóa vùng Tây Bắc nói chung. Trong đó, Di sản Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; 16 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc trên địa bàn tỉnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cùng với 64 di tích được xếp hạng các cấp (Báo Sơn La, 15-11-2024). Đây là tiềm năng to lớn đối với việc phát triển du lịch, trong đó có du lịch cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của tỉnh, góp phần thúc đẩy kinh tế -xã hội trên địa bàn phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; phát huy cao nhất tiềm năng, lợi thế, nhất là điều kiện tự nhiên, bản sắc văn hóa, con người; phát triển các ngành kinh tế trong đó có du lịch. Đại hội đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thứ 8 là: “Tiếp tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc Sơn La và vùng Tây Bắc, xây dựng con người phát triển toàn diện. Lấy phát triển văn hóa, xây dựng con người làm yếu tố cốt lõi để phát triển kinh tế - xã hội”. (Đảng bộ tỉnh Sơn La, 2020).
Triển khai thực hiện những chủ trương trên, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thông qua Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La gắn với phát triển du lịch”. Đặc biệt, ngày 23-1-2021, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thông qua Kết luận số 94-KL/TU “về phát triển du lịch tỉnh Sơn La đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó xác định gắn du lịch với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số; đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng (Tỉnh ủy Sơn La, 2021).
Đến tháng 9-2025, Đại hội lần thứ XVI Đảng bộ tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2025-2030 tiếp tục đề ra chủ trương rõ ràng hơn: Phát huy tiềm năng, lợi thế, truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa các dân tộc; xây dựng tỉnh Sơn La thành trọng điểm du lịch của vùng trung du và miền núi phía Bắc và vùng biên giới Việt Nam - Lào; phấn đấu đến năm 2030 tổng lượt khách du lịch đạt 9 triệu lượt/năm, tổng thu từ khách du lịch đạt 12.420 tỷ đồng (Đảng bộ tỉnh Sơn La, 15-1-2026).
Sau Đại hội lần thứ XVI, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30-12-2025 “về phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030”, tiếp tục xác định chủ trương: “Du lịch góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, tạo sinh kế cho cộng đồng, góp phần thực hiện thắng lợi các chương trình mục tiêu quốc gia; nâng cao dân trí và đời sống tinh thần của người dân”; “Phát triển du lịch gắn với bảo vệ, phát huy giá trị cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái, hướng tới phát triển bền vững và tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế” (Tỉnh ủy Sơn La, 30-12-2025).
Về xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch, Nghị quyết nêu rõ: “Tập trung khai thác giá trị văn hóa các dân tộc, xây dựng và hoàn thiện sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với giáo dục truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc: Thái, Mông, Dao, Mường; bảo tồn, phục dựng không gian văn hóa bản làng, kiến trúc nhà sàn, làng nghề truyền thống, ẩm thực, trang phục, dân ca, dân vũ và các lễ hội đặc sắc… Hướng dẫn các địa phương lựa chọn, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với lợi thế từng vùng; khuyến khích phát triển các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm văn hóa và du lịch làng nghề gắn với bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, tạo sinh kế ổn định cho người dân bản địa” (Tỉnh ủy Sơn La, 30-12-2025).
Cụ thể hóa những chủ trương trên, chính quyền tỉnh đã ban hành nhiều chính sách phát triển du lịch gắn liền với bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa. Ngày 31-8-2022, Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số 41/2022/NQ-HĐND “về quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2022 - 2026”, trong đó xác định rõ điều kiện hỗ trợ đầu tư phát triển sản phẩm du lịch: “Cộng đồng dân cư tại các thôn, xóm, bản, tiểu khu, tổ dân phố… có tài nguyên, tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch cộng đồng đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch, dự án, đề án phát triển du lịch của tỉnh”. Nghị quyết nêu rõ “chỉ áp dụng đối với đối với phát triển sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc” (Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La, 2022). Về mức hỗ trợ cho vay, Nghị quyết quy định nhiều mức hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch cộng đồng, du lịch gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc: Đối với khu du lịch, điểm du lịch, cộng đồng dân cư tại các bản có tiềm năng phát triển du lịch xây dựng chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian (dân ca, dân vũ, dân nhạc) phục vụ khách du lịch thường xuyên tại điểm, mức hỗ trợ đầu tư: 70 triệu đồng/khu, điểm, bản; đối với khu du lịch, điểm du lịch, cộng đồng dân cư tại các bản có tiềm năng phát triển du lịch xây dựng trích đoạn lễ hội truyền thống dân tộc phục vụ khách du lịch thường xuyên tại điểm, mức hỗ trợ đầu tư: 90 triệu đồng/khu, điểm; đối với khu du lịch, điểm du lịch, cộng đồng dân cư tại các bản có tiềm năng phát triển du lịch khôi phục, phát triển nghề truyền thống phục vụ phát triển du lịch, mức hỗ trợ: 90 đầu tư đồng/khu, điểm, bản. Ngoài ra, Nghị quyết còn quy định mức hỗ trợ tới từng đối tượng hộ gia đình tham gia phát triển du lịch cộng đồng với mức hỗ trợ vay vốn đầu tư từ 15 triệu đồng đến 50 triệu đồng/hộ (Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La, 2022).
Ngày 21-3-2023, UBND tỉnh Sơn La ban hành Quyết định số 399/QĐ-UBND nêu rõ: “Nghiên cứu, khảo sát thực địa lựa chọn các bản có tiềm năng, lợi thế: kiến trúc nhà ở truyền thống, văn hóa bản địa, làng nghề truyền thống, phong cảnh thiên nhiên, sản vật địa phương, ẩm thực truyền thống... để xây dựng mô hình điểm phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Sơn La” (Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La, 21-3-2023). Như vậy, có thể thấy rằng, du lịch cộng đồng không chỉ được xem là một loại hình kinh doanh du lịch mà còn là phương thức kết hợp giữa bảo tồn, phát huy giá trị của văn hóa, tạo sinh kế và khai thác các nguồn lực đặc thù của cộng đồng địa phương.
Quyết định số 954/QĐ-UBND ngày 17-4-2026 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 30/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030 nhằm “phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa của tỉnh Sơn La”, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu huy động các nguồn lực để phát triển hạ tầng, sản phẩm và dịch vụ du lịch. Đặc biệt, kế hoạch xác định mục tiêu về văn hóa - xã hội là: “Du lịch góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, tạo sinh kế cho cộng đồng…” (Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La, 17-4-2026).
Một số kết quả
Một là, phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa. Thực hiện chủ trương của Đảng bộ và sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền, ngành du lịch tỉnh Sơn La phát triển mạnh, đến đầu năm 2026, toàn tỉnh đã có 15 khu, điểm du lịch được công nhận, gồm một khu du lịch quốc gia, một khu du lịch cấp tỉnh và 13 điểm du lịch cấp tỉnh (Như Thuỷ, 18-7-2025). Trong đó, du lịch cộng đồng nhằm phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc mở rộng từ một số địa bàn có điều kiện thuận lợi như Mộc Châu sang nhiều khu vực khác của tỉnh. Các bản Bó, Hùn, Hụm ở khu vực thành phố Sơn La; bản Áng, bản Dọi ở Mộc Châu; bản Lướt, Nà Tâu và xã Ngọc Chiến ở Mường La; bản Bon ở Quỳnh Nhai; Hua Tạt, Nà Bai, Phụ Mẫu ở Vân Hồ. Tỉnh đã lập danh mục riêng về các điểm du lịch cộng đồng, trong đó ghi nhận các điểm như cộng đồng tổ dân phố Na Áng, bản Hua Tạt, bản Chiềng Đi 1, Hang Táu, bản Hùn, bản Bon và bản Bướt, cho thấy không gian du lịch cộng đồng tiếp tục được mở rộng và đa dạng hóa. Ngọc Chiến ở Mường La lại cho thấy một hướng phát triển khác, trong đó du lịch cộng đồng được kết hợp với cảnh quan vùng núi cao, kiến trúc nhà ở truyền thống, văn hóa Thái và đặc biệt là nguồn nước khoáng nóng. Tại điểm du lịch xã Ngọc Chiến có 35 homestay và nhà nghỉ, có khả năng phục vụ khoảng 120.000 lượt khách/năm, với doanh thu du lịch khoảng 10 tỷ đồng (Thu Huyền, 23-4-2026). Các cơ sở lưu trú ở đây vẫn duy trì kiến trúc truyền thống, trong khi sản phẩm được mở rộng sang tắm khoáng nóng, ẩm thực dân tộc, nghề truyền thống và trải nghiệm đời sống cộng đồng.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh cũng thể hiện rõ sự chuyển biến rõ tư duy chuyển từ “bảo tồn văn hóa” sang “bảo tồn gắn với phát triển”. Thực tế, trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng, văn hóa dân tộc thiểu số ngày càng được định vị như một nguồn lực quan trọng của phát triển du lịch, theo đó văn hóa địa phương có thể trở thành nguồn lực kinh tế nếu cộng đồng kiểm soát được quá trình khai thác và nhận được phần lợi ích tương xứng (Pham & Nguyen, 2019). Việc xây dựng các bản du lịch cộng đồng dựa trên nhà ở truyền thống, ẩm thực, lễ hội, trang phục, nghệ thuật biểu diễn và các hoạt động sản xuất của cộng đồng tạo ra một cơ chế trong đó các giá trị văn hóa có thể trở thành một bộ phận của sinh kế. Mặt khác, việc thương mại hóa văn hóa có khả năng tạo nguồn lực cho bảo tồn, nhưng cũng có thể dẫn tới việc tái cấu trúc hoặc “sân khấu hóa” các hoạt động thực hành văn hóa theo nhu cầu của khách du lịch.
Hai là, người dân vào chuỗi hoạt động du lịch cộng đồng, không gian du lịch cộng đồng được mở rộng. Mộc Châu là một trong những địa bàn tiêu biểu cho quá trình hình thành và mở rộng du lịch cộng đồng ở tỉnh Sơn La. Quá trình này bắt đầu từ bản Áng, xã Đông Sang, sau đó từng bước mở rộng sang bản Dọi, xã Tân Lập; bản Vặt, xã Mường Sang; và Tà Số 1, Tà Số 2, xã Chiềng Hắc. Nếu bản Áng phát triển dựa khá rõ vào không gian văn hóa và kiến trúc nhà sàn của cộng đồng Thái Trắng, thì Tà Số lại khai thác mạnh các giá trị văn hóa, cảnh quan và sinh kế truyền thống của cộng đồng người Hmông (Phong Lưu, 14-11-2022; Duy Tùng, 2-12-2024). Các điểm đến này từng bước được kết nối với thị trường du lịch thông qua hệ thống homestay, ẩm thực địa phương, biểu diễn văn nghệ, trải nghiệm văn hóa, nghề thủ công và các hoạt động tìm hiểu đời sống, sản xuất của cư dân địa phương. Trong chuỗi hoạt động du lịch, người dân địa phương không chỉ tham gia vào khâu cung cấp dịch vụ mà còn liên quan đến việc hình thành và duy trì sản phẩm du lịch. Sự tham gia của người dân là một thành tố quan trọng của phát triển du lịch cộng đồng và có liên hệ với cả mục tiêu cải thiện đời sống và bảo tồn văn hóa địa phương.
Quá trình phát triển du lịch cộng đồng ở Sơn La là sự mở rộng không gian địa lý. Nếu Mộc Châu là một trong những trung tâm đầu tiên và nổi bật nhất, các mô hình cộng đồng sau đó phát triển tại Vân Hồ, Mường La và khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La. Ở Ngọc Chiến (Mường La) các yếu tố văn hóa Thái, kiến trúc nhà sàn, cảnh quan nông nghiệp, nguồn nước khoáng và đời sống cộng đồng được kết hợp thành sản phẩm du lịch. Chính sự đa dạng văn hóa và cấu trúc xã hội làm du lịch cộng đồng mang lại những kết quả rất khác nhau ở các cộng đồng khác nhau. Do đó, trong chủ trương, giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở các địa phương cần có hướng mở để cộng đồng lựa chọn và định hình sản phẩm thay vì áp dụng một “mẫu bản du lịch cộng đồng” thống nhất.

3. Kết luận
 Quá trình phát triển du lịch cộng đồng ở Sơn La có thể được xem là sự chuyển đổi từ những thực hành du lịch ở quy mô cộng đồng sang một chiến lược phát triển được nhà nước thể chế hóa. Quá trình này diễn ra đồng thời trên ba phương diện: Thư nhất: các không gian cư trú của cộng đồng ngày càng được tích hợp vào hệ thống điểm đến của tỉnh, sự tham gia của người dân ngày càng chủ động. Thứ hai, các giá trị văn hóa được tái định vị từ đối tượng bảo tồn thành một nguồn lực để tạo sản phẩm và sinh kế. Thứ ba, Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập cơ chế chính sách và cung cấp nguồn lực hỗ trợ. Với những kết quả đạt được, Sơn La đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới của du lịch cộng đồng: chuyển từ hình thành điểm đến và thu hút khách, sang tập trung vào chất lượng, quản trị cộng đồng, phân phối lợi ích và tính bền vững.
Thực tiễn phát triển du lịch cộng đồng ở Sơn La cho thấy khi các chủ trương của Đảng được triển khai phù hợp với điều kiện địa phương, khi người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển và được hưởng lợi từ chính những giá trị văn hóa của cộng đồng mình, thì văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Từ những giá trị văn hóa của cộng đồng, người dân đã tạo dựng được sinh kế, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Những thành quả phát triển ấy đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
 
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (1998). Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-quyet-so-03-nq-tw-ve-xay-dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-nam-tien-tien-dam-da-ban-sac-dan-toc--84840
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-24-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-huy-tinh-tien-phong-guong-mau-tinh-than-doi-moi-dam-nghi-.html?categoryId=102000092
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-590
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2021). Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang-3731?categoryId=104000017
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2025). Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-590
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm
Duy Tùng. (2-12-2024). Khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. https://baosonla.vn/du-lich/khai-thac-tiem-nang-du-lich-cong-dong-ngtYNnVHR.html
Đảng bộ tỉnh Sơn La. (2020). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025. https://baosonla.vn/vi/bai-viet/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-son-la-lan-thu-xv-nhiem-ky-2020--2025-34500
Đảng bộ tỉnh Sơn La (15-1-2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030. https://daihoidangtoanquoc.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-son-la-lan-thu-xvi-nhiem-ky-2025-2030-post1763.html
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 55. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La. (2022). Nghị quyết số 41/2022/NQ-HĐND ngày 31-8-2022 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2022 - 2026. https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-quyet-so-41-2022-nq-hdnd-quy-dinh-mot-so-chinh-sach-ho-tro-phat-trien-du-lich-tren-dia-ban-tinh-son-la-giai-doan-2022-2026--156948?tabs=hien-thi-pdf
Như Thủy. (18-7-2025). Sơn La phát triển du lịch bền vững và hội nhập. https://sonla.gov.vn/thong-tin-danh-cho-du-khach/son-la-phat-trien-du-lich-ben-vung-va-hoi-nhap-928704
Pham, H. L., & Nguyen, T. T. K.(2019). Community-Based Tourism (CBT): A Way of Creating and Enhancing the Livelihood of Local People. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, 35(2), 63–73. https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4178.
Phong Lưu. (14-11-2022). Trải nghiệm du lịch cộng đồng ở Tà Số. https://baosonla.vn/du-lich/trai-nghiem-du-lich-cong-dong-o-ta-so-54758.html
Thu Huyền. (23-4-2026). Ngọc Chiến phát triển thương mại, dịch vụ gắn với du lịch. https://baosonla.vn/kinh-te/ngoc-chien-phat-trien-thuong-mai-dich-vu-gan-voi-du-lich-sJ2rY32Dg.html
Tỉnh uỷ Sơn La. (2021). Kết luận số 94-KL/TU ngày 23/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Sơn La đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. http://sonlasta.com/index.php?module=vanban&act=view&id=123
Tỉnh ủy Sơn La. (30-12-2025). Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch giai đoạn 2025 - 2030. https://slpc.sonla.gov.vn/van-ban/nghi-quyet-so-07-nq-tu-cua-ban-chap-hanh-dang-bo-tinh-ve-phat-trien-du-lich-giai-doan-2025-2030-989231
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La. (2023). Quyết định số 399/QĐ-UBND ngày 21-3-2023 về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Sơn La phát triển du lịch bền vững và hội nhập” giai đoạn 2023-2025. https://sonla.gov.vn/thong-tin-hoat-dong-chi-dao-dieu-hanh/ke-hoach-to-chuc-thuc-hien-phong-trao-thi-dua-son-la-phat-trien-du-lich-ben-vung-va-hoi-nhap-gia-702953
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La. (2026). Quyết định số 954/QĐ-UBND ngày 17-4-2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30-12-2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch giai đoạn 2025–2030. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-954-QD-UBND-2026-Ke-hoach-thuc-hien-Nghi-quyet-07-NQ-TU-phat-trien-du-lich-Son-La-702789.aspx