Tóm tắt: Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, dân số đông và tốc độ đô thị hóa cao. Trong giai đoạn 2010-2020, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước cụ thể hóa thành các chủ trương, chương trình và chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn, tập trung vào giảm nghèo, giải quyết việc làm, mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và chăm lo các nhóm đối tượng chính sách, yếu thế. Bài viết tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội; những kết quả. hạn chế và nguyên nhân của quá trình đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố.
Từ khóa: Thành phố Hồ Chí Minh; an sinh xã hội; 2010-2020
Ngày nhận: 1-10-2026; Ngày thẩm định, đánh giá:10-10-2026; Ngày duyệt đăng: 18-10-2026

THE HO CHI MINH CITY PARTY COMMITTEE’S LEADERSHIP IN IMPLEMENTING SOCIAL SECURITY POLICIES (2010–2020): KEY RESULTS AND LESSONS LEARNED

Abstract: Ho Chi Minh City is a special urban area characterized by a large population and a rapid rate of urbanization. During the 2010–2020 period, by thoroughly grasping the Party’s perspectives and guidelines on social security, the Ho Chi Minh City Party Committee translated these into specific directives, programs, and policies tailored to local realities. Efforts focused on poverty reduction, employment generation, the expansion of social and health insurance, the provision of social assistance, and the support of policy-beneficiary groups and vulnerable populations. This article examines the Ho Chi Minh City Party Committee’s leadership in the implementation of social security policies, analyzing the outcomes, limitations, and underlying causes. It further outlines practical lessons learned, contributing to the enhancement of social security policy implementation within the city.
Keywords: Ho Chi Minh City; social security; 2010–2020

1. Đặt vấn đề
An sinh xã hội giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội, góp phần bảo đảm đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững. Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo ngày càng hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội theo hướng toàn diện, tăng khả năng bảo vệ và hỗ trợ các nhóm dân cư, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn và dễ bị tổn thương.
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương luôn thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Trong giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ Thành phố đã tiếp tục quan tâm lãnh đạo, cụ thể hóa, quan điểm, chủ trương của Đảng thông qua nhiều chương trình, chính sách về giảm nghèo, việc làm, bảo hiểm, trợ giúp xã hội và chăm lo các đối tượng chính sách. Đặc biệt, phương thức thực hiện giảm nghèo từng bước chuyển từ chú trọng thu nhập sang tiếp cận đa chiều, gắn với khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Những chương trình và giải pháp được thực hiện đã tạo nhiều chuyển biến tích cực trong thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, Thành phố vẫn còn phải đối mặt với một số vấn đề như nguy cơ tái nghèo, độ bao phủ bảo hiểm xã hội chưa đồng đều, nhất là đối với lao động phi chính thức và những khó khăn trong tiếp cận dịch vụ xã hội của một bộ phận người nhập cư, công nhân. Việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2010-2020 có ý nghĩa trong việc nhận diện rõ hơn phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội ở một đô thị đặc biệt.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung và mục tiêu đề ra. Trong đó, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng để trình bày quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng bộ Thành phố qua 2 giai đoạn 2010-2015 và 2015-2020; phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ các chủ trương, chính sách và kết quả thực hiện; phương pháp thống kê và so sánh được sử dụng để đối chiếu một số chỉ tiêu, kết quả qua các thời điểm. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân, và đúc kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng bộ Thành phố.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh
An sinh xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa trực tiếp đối với ổn định chính trị - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Đại hội XI (2011) của Đảng xác định chủ trương thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.227), trong đó chỉ rõ vấn đề an sinh xã hội cần “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.228). Ngày 1-6-2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” (Nghị quyết HNTƯ 5), trong đó khẳng định: “bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”; “Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng” (Ban Chấp hành Trung ương, 1-6-2012). Về mục tiêu, Nghị quyết xác định: “Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân” (Ban Chấp hành Trung ương, 1-6-2012). Đến Đại hội XII (2016), Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.137). Đây là cơ sở chính trị quan trọng để các địa phương cụ thể hóa thành những chương trình, chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi thành phố vừa là địa bàn có trình độ phát triển kinh tế cao, vừa tập trung đông dân cư, nhiều lao động nhập cư, lao động phi chính thức và các nhóm dân cư có mức sống khác nhau.
Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015, xác định nhiệm vụ giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là lao động, việc làm, bồi thường, tái định cư; đẩy mạnh chương trình giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội; từng bước thu hẹp chênh lệch mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các tầng lớp dân cư, giữa đô thị và nông thôn. Đại hội đề ra chỉ tiêu đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập 12 triệu đồng/người/năm cơ bản còn dưới 2%, hằng năm tạo việc làm mới trên 120.000 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 70% (Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr.31).
Trong quá trình lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, Đảng bộ Thành phố tiếp tục xác định phát triển kinh tế phải gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội không chỉ nhằm hỗ trợ những người gặp khó khăn trước mắt mà từng bước tạo điều kiện để người dân có việc làm, tăng thu nhập, tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản. Chương trình giảm nghèo của Thành phố vì vậy được xem là một bộ phận quan trọng trong tổng thể chính sách an sinh xã hội. Đặc biệt, Thành phố đã chủ động đổi mới phương thức đo lường nghèo. Trước năm 2016, chương trình chủ yếu dựa vào tiêu chí thu nhập; từ năm 2016, chuyển sang tiếp cận nghèo đa chiều, gắn thu nhập với các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Báo cáo của UBND Thành phố năm 2015 nêu rõ đã tổ chức thí điểm phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều tại một số quận, huyện trong giai đoạn 2014-2015 để rút kinh nghiệm và triển khai rộng trong giai đoạn 2016-2020.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, tiếp tục nâng tầm yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội trong chiến lược phát triển Thành phố. Đại hội xác định gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận công bằng với giáo dục, y tế, văn hóa và hưởng thụ thành quả phát triển; đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nội thành và ngoại thành; nâng cao chất lượng sống và trợ giúp các đối tượng yếu thế, neo đơn. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra chỉ tiêu tương đối cụ thể liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội: trong 5 năm tạo việc làm mới cho 625.000 lao động; tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 4,5%; đến cuối năm 2020 thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng 3,5 lần so với đầu năm 2011; giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn chương trình “Giảm nghèo bền vững” bình quân 1%/năm; bảo đảm nước sạch cho 100% hộ dân; xây dựng mới 40 triệu m² nhà ở; đạt 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học; đạt 20 bác sĩ và 42 giường bệnh/10.000 dân (Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr.32)
Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ, HĐND và UBND Thành phố đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chương trình và kế hoạch về giảm nghèo, việc làm, bảo hiểm, nhà ở, trợ giúp xã hội và chăm lo các đối tượng chính sách. Tiêu biểu là Nghị quyết số 15/2015/NQ-HĐND, ngày 9-12-2015 “Về Chương trình giảm nghèo bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020”; Quyết định số 3582/QĐ-UBND, ngày 12-7-2016 “Về phê duyệt Chương trình giảm nghèo bền vững của thành phố giai đoạn 2016-2020”.
Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức và phương thức thực hiện chính sách xã hội của Thành phố. Mục tiêu không chỉ là đưa hộ dân vượt qua chuẩn thu nhập mà còn tạo điều kiện để hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận giáo dục- đào tạo, y tế, việc làm, bảo hiểm xã hội, nhà ở, điều kiện sống và thông tin. Chính sách được thiết kế theo hướng giảm dần trợ cấp trực tiếp, tăng hỗ trợ sinh kế, vốn, việc làm, đào tạo nghề, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và khuyến khích người dân tự vươn lên thoát nghèo. Thành phố không áp dụng máy móc chuẩn nghèo quốc gia mà chủ động xây dựng chuẩn nghèo riêng cao hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và mức sống đô thị. Giai đoạn 2016-2018, chuẩn nghèo của Thành phố là thu nhập từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống; từ năm 2019, chuẩn nghèo được nâng lên 28 triệu đồng/người/năm và chuẩn cận nghèo lên trên 28 đến 36 triệu đồng/người/năm (Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 30-5-2022, tr.24). Việc nâng chuẩn thể hiện cách tiếp cận an sinh xã hội theo hướng không chỉ “đủ ăn” mà còn hướng tới chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
2.2. Một số kết quả đạt được
Công tác lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2020 đạt được nhiều kết quả quan trọng:
Một là, công tác lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố về chính sách an sinh xã hội ngày càng được chú trọng. Đảng bộ Thành phố từng bước đưa mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản vào Nghị quyết Đại hội và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Qua đó, an sinh xã hội không còn được xem là nhiệm vụ riêng của ngành lao động - thương binh và xã hội mà trở thành nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị. Việc cụ thể hóa chủ trương bằng các chương trình, đề án, chính sách và cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc điểm của đô thị đặc biệt đã tạo cơ sở để các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ, từng bước nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Hai là, chương trình giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, từng bước chuyển sang giảm nghèo đa chiều và bền vững. Trên cơ sở kinh nghiệm thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo từ năm 1992, trong giai đoạn 2010-2020, Thành phố tiếp tục đổi mới phương thức thực hiện giảm nghèo, chuyển từ chủ yếu hỗ trợ theo thu nhập sang tiếp cận đa chiều, chú trọng cả khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đầu năm 2016, Thành phố có 67.090 hộ nghèo và 48.154 hộ cận nghèo; đến cuối năm 2018, số hộ nghèo giảm còn 3.767 hộ và hộ cận nghèo còn 22.882 hộ, qua đó hoàn thành trước thời hạn mục tiêu cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn của Thành phố giai đoạn 2016-2020 (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 10-4-2019, tr.13). Thành phố đồng thời chú trọng hỗ trợ vốn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, bảo hiểm y tế, giáo dục, nhà ở và điều kiện sống, góp phần nâng cao khả năng tự vươn lên của hộ nghèo. Việc chủ động nâng chuẩn nghèo vào năm 2019 tiếp tục thể hiện yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống và hướng đến giảm nghèo bền vững, hạn chế nguy cơ tái nghèo.
Ba là, chính sách việc làm, đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp từng bước được mở rộng. Đảng bộ Thành phố xác định tạo việc làm, nâng cao thu nhập và phòng ngừa, chia sẻ rủi ro là những giải pháp quan trọng bảo đảm an sinh xã hội. Thành phố chú trọng hỗ trợ sinh kế, tín dụng, đào tạo nghề, kết nối việc làm, đồng thời mở rộng độ bao phủ của các loại hình bảo hiểm. Đến năm 2019, Thành phố quản lý gần 2,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội và hơn 7,3 triệu người tham gia bảo hiểm y tế; số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trên 231.000 người (Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 30-5-2022, tr.19). Việc mở rộng bảo hiểm y tế, nhất là đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh và từng bước chuyển từ trợ giúp trực tiếp sang cơ chế phòng ngừa, chia sẻ rủi ro trong hệ thống an sinh xã hội.
Bốn là, chính sách trợ giúp xã hội, chăm lo người có công và các nhóm yếu thế được thực hiện tương đối toàn diện. Thành phố thường xuyên quan tâm chăm lo người có công, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng bảo trợ xã hội; thực hiện tốt các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, vận động Quỹ “Vì người nghèo”, chăm lo Tết cho người nghèo và các đối tượng khó khăn. Cùng với nguồn lực ngân sách, Thành phố huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cơ sở tôn giáo và nhân dân, tạo thêm nguồn lực cho công tác an sinh. Qua đó, truyền thống tương thân, tương ái được phát huy, góp phần hình thành đặc trưng văn hóa “Thành phố nghĩa tình” trong thực hiện chính sách xã hội.
Năm là, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản từng bước được cải thiện. An sinh xã hội được Thành phố triển khai theo hướng không chỉ bảo đảm thu nhập mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và các dịch vụ thiết yếu. Trong chương trình giảm nghèo bền vững, các chiều thiếu hụt về giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống và thông tin được xác định để có chính sách hỗ trợ phù hợp. Việc kết hợp giữa hỗ trợ thu nhập với mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, nhất là các nhóm nghèo, cận nghèo và có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh đã góp phần hạn chế các vấn đề xã hội, củng cố đồng thuận và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.
Sáu là, phương thức huy động và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội từng bước đổi mới theo hướng chủ động, đa chiều và bền vững. Một trong những kết quả quan trọng là phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và huy động nhiều nguồn lực xã hội tham gia thực hiện an sinh xã hội. Nguồn lực ngân sách được kết hợp với tín dụng ưu đãi, Quỹ “Vì người nghèo” và các nguồn vận động xã hội; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động, giám sát và hỗ trợ người dân được phát huy. Qua thực tiễn, tư duy thực hiện chính sách cũng có sự chuyển biến từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo sinh kế, việc làm, mở rộng bảo hiểm và tiếp cận dịch vụ xã hội; từ giải quyết khó khăn trước mắt sang hướng đến nâng cao năng lực tự bảo đảm an sinh của người dân. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chính sách an sinh xã hội Thành phố.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2020 vẫn còn một số hạn chế. Áp lực bảo đảm an sinh xã hội tại một đô thị đặc biệt còn lớn do quy mô dân số đông, tốc độ đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học nhanh, chênh lệch về thu nhập và điều kiện sống giữa các nhóm dân cư còn tồn tại. Kết quả giảm nghèo chưa thật đồng đều, nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu, nhất là sau khi Thành phố nâng chuẩn nghèo năm 2019. Độ bao phủ bảo hiểm xã hội đối với một bộ phận lao động khu vực phi chính thức còn hạn chế; khả năng tiếp cận một số dịch vụ xã hội cơ bản tại những địa bàn tập trung đông công nhân, người nhập cư còn gặp khó khăn. Công tác phối hợp và tổ chức thực hiện chính sách ở một số địa phương chưa thật đồng bộ, năng lực thực thi ở cơ sở còn khác nhau.
Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh, thị trường lao động biến động và chi phí sinh hoạt cao tạo áp lực lớn đối với hệ thống an sinh. Mặt khác, ở một số nơi việc phối hợp giữa các chương trình, chính sách chưa thật sự đồng bộ; công tác dự báo, nhận diện nhóm có nguy cơ nghèo và tái nghèo chưa phải lúc nào cũng chủ động; nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở còn có mặt hạn chế.
2.3. Một số kinh nghiệm
Thứ nhất, luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, xác định rõ vấn đề bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng trong quá trình phát triển Thành phố. Trong lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng phù hợp với điều kiện thực tiễn của một đô thị đặc biệt, có quy mô dân số lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh và sự phân hóa tương đối rõ về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các nhóm dân cư. Thực tiễn cho thấy, khi an sinh xã hội được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, các chủ trương, chính sách mới có điều kiện được triển khai đồng bộ, thiết thực và bền vững. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội về vị trí, vai trò của chính sách an sinh xã hội; coi đây vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững Thành phố.
Thứ hai, chủ động cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành các cơ chế, chính sách an sinh xã hội phù hợp với đặc điểm và yêu cầu thực tiễn của Thành phố. Thực tiễn giai đoạn 2010-2020 cho thấy, Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn có nhiều đặc thù về dân cư, lao động, việc làm, di cư, đô thị hóa và khoảng cách về mức sống giữa các nhóm dân cư. Do đó, việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội không thể chỉ dựa vào các chính sách chung mà cần có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo và cụ thể hóa phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn. Đảng bộ Thành phố đã quan tâm lãnh đạo xây dựng, ban hành và triển khai nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ người nghèo, người có công, người lao động, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm yếu thế; đồng thời từng bước mở rộng phạm vi và nâng cao mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội. Kinh nghiệm đặt ra là phải thường xuyên rà soát, đánh giá hiệu quả chính sách; kịp thời điều chỉnh những nội dung không còn phù hợp, đồng thời chủ động nghiên cứu những chính sách mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát sinh từ thực tiễn phát triển của Thành phố.
Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong bảo đảm an sinh xã hội. Bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ có phạm vi rộng, liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước. Thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, cùng với việc bảo đảm nguồn lực từ ngân sách nhà nước, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, cộng đồng dân cư và chính bản thân người dân. Việc huy động các nguồn lực xã hội đã góp phần hỗ trợ người nghèo, chăm lo gia đình chính sách, giải quyết việc làm, hỗ trợ nhà ở, chăm sóc sức khỏe và thực hiện nhiều chương trình an sinh thiết thực. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và xã hội; đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho an sinh xã hội; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thứ tư, gắn thực hiện chính sách an sinh xã hội với giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, nâng cao khả năng tự bảo đảm đời sống của người dân và chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản. Một trong những kinh nghiệm quan trọng của Thành phố trong giai đoạn 2010-2020 là không chỉ tập trung vào các hình thức hỗ trợ trực tiếp mà ngày càng chú trọng tạo điều kiện để người dân có việc làm, tăng thu nhập và từng bước tự vươn lên ổn định cuộc sống. Giảm nghèo vì thế được đặt trong mối quan hệ với đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tín dụng, giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản. Cách tiếp cận này góp phần chuyển từ hỗ trợ mang tính ngắn hạn sang tạo cơ hội phát triển lâu dài cho người dân, nhất là các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, chính sách an sinh xã hội chỉ thực sự bền vững khi vừa bảo đảm hỗ trợ kịp thời đối với những người gặp khó khăn, vừa nâng cao năng lực, cơ hội tiếp cận việc làm và khả năng tự chủ của người dân.
Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đồng thời bảo đảm chính sách an sinh xã hội đến đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả. Thực hiện chính sách an sinh xã hội liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, do đó đòi hỏi sự lãnh đạo thường xuyên của cấp ủy, sự quản lý thống nhất của chính quyền và sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Thực tiễn giai đoạn 2010-2020 cho thấy, ở những địa phương mà cấp ủy và chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, phân công rõ trách nhiệm, thường xuyên kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn thì việc thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ và hoàn thiện cơ sở dữ liệu để nâng cao tính chính xác, minh bạch, công bằng trong xác định và hỗ trợ các đối tượng thụ hưởng chính sách.

3. Kết luận
Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội, gắn với yêu cầu phát triển của một đô thị đặc biệt. Những kết quả đạt được trong giảm nghèo, tạo việc làm, mở rộng bảo hiểm và trợ giúp xã hội đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, củng cố sự ổn định và tăng cường công bằng xã hội. Bên cạnh đó, thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nhất là nguy cơ tái nghèo, độ bao phủ bảo hiểm xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội của một bộ phận dân cư. Những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn Đảng bộ Thành phố lãnh đạo thực hiện chính sách an sinh xã hội từ năm 2010 đến năm 2020 có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này trong giai đoạn tiếp theo.

Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (1-6-2012). Nghị quyết số 15-NQ/TW “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-15-nqtw-ngay-1062012-hoi-nghi-lan-thu-5-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-mot-so-van-de-ve-557
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. (2010). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015
Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. (30-5-2022). Báo cáo số 140-BC/TU “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (10-4-2019). Báo cáo số 50/BC-UBND “Về tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, thu chi ngân sách thành phố quý I và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm quý II năm 2019”.