Khu vực Tống Vương Đài (Cửu Long, Hồng Kông), một trong những địa điểm diễn ra
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, mở ra trang sử mới chói lọi của dân tộc Việt Nam. Đây là một tất yếu khách quan của lịch sử, gắn liền với công lao vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ việc Người ra đi tìm đường cứu nước, tìm ra con đường để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức nô lệ, chuẩn bị cả về mặt lý luận và thực tiễn để đưa Đảng cách mạng về với Việt Nam. 
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) rời Tổ quốc trên chiếc tàu L’Amiral Latouche Tréville ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Với lòng yêu nước sâu sắc cùng những yếu tố văn hóa phương Tây được tiếp cận khi theo học Trường Pháp-Việt, Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành có thể hiểu được phần nào văn hóa phương Tây, cách ứng xử của xã hội phương Tây. Anh muốn trực tiếp kiểm nghiệm giá trị của “Tự do, bình đẳng, bác ái”.
Trong gần 20 năm, Nguyễn Ái Quốc đã qua 29 quốc gia trên thế giới, khảo sát thực tiễn, hòa mình cùng phong trào công nhân quốc tế. Anh đã chứng kiến tình cảnh của những người lao động dưới ách áp bức, bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”1 .
Đồng thời, Anh trực tiếp thu thập kiến thức, lý luận cách mạng trong mọi điều kiện có thể: các thư viện ở Pari, ở Luân Đôn, tham gia sinh hoạt luận bàn trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, văn hóa (Câu lạc bộ Phôbua ở Pháp); từ sách báo, từ mối quan hệ, tiếp xúc với những nhà hoạt động chính trị có tiếng lúc bấy giờ. Quá trình này đã nâng tầm hiểu biết và nhận thức chính trị cho Nguyễn Tất Thành lúc bấy giờ.
Năm 1919, Anh thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, gửi tới Hội nghị Versailles ở Pháp bản Yêu sách của nhân dân An Nam dưới tên gọi: Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1920, được tiếp cận với Sơ thảo những Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giành độc lập, tự do cho người dân nước mình. Từ đó, tán thành Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Cũng từ đây, Người tìm mọi cách để truyền bá tư tưởng cách mạng về Việt Nam.
Năm 1924, Người rời Liên Xô về Trung Quốc. Ngày 11-11-1924, Người tới Quảng Châu. Tại đây, Người xúc tiến việc chuẩn bị thành lập chính đảng vô sản kiểu mới cho giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Người đã xác định rõ việc này khi đặt câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, đó là: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh”2. Và do vậy, Người xúc tiến mọi  điều kiện để chuẩn bị  thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, để phù hợp với nhận thức lý luận ban đầu, Người lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, mở lớp huấn luyện đào tạo các  “hạt giống đỏ” ở nhà số 13/1 đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu.
Cùng với việc mở lớp  huấn luyện chính trị để lựa chọn cán bộ nòng cốt, Người gửi các thanh niên yêu nước đi học ở các Trường Đại học Phương Đông, Trường Quân sự Hoàng Phố… Giác ngộ, giáo dục, tuyên truyền lý luận cách mạng bằng việc ra báo Thanh niên, báo Thân ái… truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Nhờ đó, các tổ chức cách mạng được củng cố và phát triển. Ở Việt Nam, các phần tử tiên phong đã nhận thức được tình hình và đứng ra thành lập các tổ chức cộng sản đầu tiên vào nửa cuối năm 1929. Ba tổ chức đảng được thành lập và cùng phát triển: Đông Dương Cộng sản Đảng (17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (mùa Thu năm 1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 1-1930). Tuy cả ba tổ chức đều lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động, nhưng do hoạt động riêng rẽ, muốn tranh giành ảnh hưởng, tranh giành quần chúng nên đã dẫn đến việc ba đảng công kích lẫn nhau, gây nguy cơ chia rẽ, phân liệt trong phong trào cách mạng Việt Nam. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã ra chỉ thị, nêu rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”3. Tháng 11-1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan, khi nghe báo cáo về sự phân liệt của 2 tổ chức cộng sản ở trong nước, đã lập tức về Hồng Kông gửi thư triệu tập 2 tổ chức tới họp bàn việc thống nhất.                      
Ngày 18-12-1930, trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi triệu tập các đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày mồng 6-1. Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì. Họ đồng ý thống nhất vào một đảng… Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2”4.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Vương, thay mặt Quốc tế Cộng sản đã chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc).
Theo các hồi ký của các đồng chí tham dự Hội nghị hợp nhất Đảng kể lại: “Để giữ bí mật, hôm thì mấy anh em giả đánh “mạt chược” ở khách sạn, hôm thì đến sân vận động xem đá bóng”5. Trong một tháng, Hội nghị đã diễn ra ở nhiều địa điểm, khi thì ở trong nhà một người công nhân nghèo, giả làm đám người chơi mạt chược phòng khi cảnh sát bất ngờ ập vào, khi thì giả đi xem bóng đá, khi thì trên một quả đồi gần sân bay, bến cảng…
Sự kiện lịch sử thành lập Đảng vô cùng quan trọng nhưng cho đến nay, địa điểm diễn ra sự kiện vẫn còn là một dấu hỏi. Công trình khoa học của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng chỉ viết “Hội nghị thành lập Đảng được “khai mạc tại nhà của một công nhân ở Cửu Long thuộc Hồng Kông”. Báo cáo của hai đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thiệu, hai trong số những đại biểu dự Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam kể rằng cuộc họp được bố trí “trong những căn phòng nhỏ hẹp xóm thợ thuyền bên Cửu Long Thành”6. Sách Lý Phương Đức, nữ chiến sĩ giao thông của Bác Hồ, cho biết rằng: “Ở Cửu Long Thành, cơ sở của Tổng bộ là một căn gác 3 có  cầu thang đi riêng, ở lẫn với dân… Địa điểm này an toàn cho tới năm 1930, khi đồng chí Vương trở lại Trung Quốc, tới bắt liên lạc với Tổng bộ”7. Hồi ký của bà Lý Phương Thuận kể rằng: “Trước khi bị thực dân Anh bắt, Bác Hồ, Hồ Tùng Mậu và Lý Phương Thuận vẫn ở Cửu Long”8
Sách ảnh Hồ Chí Minh với Quảng Đông - Hồng Kông do Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân tỉnh Quảng Đông, Bảo tàng lịch sử cách mạng Quảng Đông, Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Nhà xuất bản Trí thức thế giới, Trung Quốc xuất bản năm 2010, căn cứ Hồi ký của Nhiêu Vệ Hoa, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, người được  Đảng bộ Quảng Đông cử tới giúp đỡ đồng chí Nguyễn Ái Quốc các khâu tổ chức hậu cần, đã cho rằng Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là tại khu Tống Vương Đài, trong đó có số nhà 186, đường Tam Kung, Cửu Long (trang 69)… Chính sử gần như không có tài liệu nào đề cập một cách cụ thể về địa chỉ chính xác nơi thành lập Đảng.
Vậy nơi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là ở địa điểm nào?
Trước hết, cần khẳng định, nơi thành lập Đảng là tại bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông. Song địa chỉ cụ thể nào xin được trình bày như sau:
Theo phân chia của chính quyền Hồng Kông năm 1982, Hồng Kông có 18 quận. Bán đảo Cửu Long gồm 5 quận: Cửu Long Thành, Quan Đường, Thâm Thủy Bộ, Huỳnh Đại Tiên, Du Tiêm Vượng9.                               
Tống Vương Đài, phiên âm tiếng Anh là Sung Wong Toi, là một khu vực thuộc quận Cửu Long Thành, từ xa xưa đã có đền thờ Zhao Bình, ông vua cuối cùng của Triều đại nhà Tống, khi bị quân Mông Cổ truy đuổi đã chạy về ẩn náu và mất ở đây10.
Khu vực Tống Vương Đài trước năm 1930 có một quả đồi không cao lắm, trên đỉnh có đền thờ Tống Vương, gần Tống Vương Đài có miếu thờ Hầu Vương. Xung quanh chân đồi Tống Vương  là khu dân cư, có hai con đường lớn chạy cắt nhau là Tam Kung và Tống Vương Đài. Khu vực này có sân vận động nhỏ, thường xuyên diễn ra các trận đá bóng.
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, hai thương gia tên là Ho Kai và  Au Tak đã xây dựng sân bay Kai Tak ở một phía bên chân đồi Tống Vương, năm 1940 quân đội Nhật mở rộng sân bay, đã phá một phần đồi Tống Vương. Năm 1969, chính quyền Hồng Kông phá bỏ đoạn đường Tam Kung từ số nhà 150 trở về sau để mở Đại lộ Olympic như hiện nay.
Ngày nay, ở bên trái Đại lộ Olympic, từ vị trí của số nhà 150 Tam Kung cũ kéo dài về sau có một công viên nhỏ. Chính giữa công viên có một viên đá hình chữ nhật, khắc ba dòng chữ Tống Vương Đài bằng chữ Hán. Nhân dân trong vùng nói viên đá này trước đây nằm trên đỉnh đồi Tống Vương. Khi quân đội Nhật phá đồi Tống Vương để mở rộng sân bay đã lăn bỏ viên đá này xuống núi. Sau này, chính quyền đưa về đặt trong công viên. Trong công viên còn có bia tiếng Hán và tiếng Anh ghi toàn bộ lịch sử Tống Vương Đài, tóm tắt cuộc trốn chạy qua Cửu Long của Zhao Bình, vị vua cuối cùng của triều đại nhà Tống.
Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cử nhiều đoàn cán bộ sang Hồng Kông khảo sát và khai thác tư liệu. Năm 2007, kết quả khảo sát cho thấy  khu vực Tống Vương Đài thuộc quận Cửu Long Thành trong bán đảo Cửu Long, hội tụ đủ các yếu tố như trong các hồi ký đã kể về địa điểm thành lập Đảng: có dấu tích đài kỷ niệm vua Tống, có sân bay, sân vận động, có bờ biển, có dãy phố của những người công nhân nghèo ở đường Tam Kung.
Chúng tôi chưa dám khẳng định, nhà 186 đường Tam Kung, Cửu Long, Hồng Kông-nơi Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) đã bị bắt ngày 6-6-1931, có phải chính là một trong các địa điểm đã từng diễn ra sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 hay không? Bởi khi đọc kỹ Hồi ký của Nhiêu Vệ Hoa, thì e rằng các bạn Trung Quốc khi làm cuốn sách ảnh Hồ Chí Minh với Quảng Đông - Hồng Kông đã nhầm lẫn sự kiện Hội nghị hợp nhất với sự kiện Hội nghị lần thứ nhất (10-1930). Nhưng dù nếu không phải nhà 186 Tam Kung thì có thể cũng ở một ngôi nhà nào đó trong khu vực Tống Vương Đài, thuộc quận Cửu Long Thành. Bởi trên thực tế, Hội nghị thành lập Đảng không họp cố định ở một nơi, không phải trong một lần thảo luận mà kết thúc… song tất cả các cuộc họp đó, như Hồi ký kể lại đều nằm trong khu vực Tống Vương Đài thuộc quận Cửu Long Thành với thời gian kéo dài gần một tháng11.
 


 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 1/2015
1, 3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.1, tr. 287, 614
2. Sđd, T. 2, tr. 289
4. Sđd, T. 3, tr. 289
5. T. Lan: Vừa đi đường, vừa kể chuyện, Nxb CTQG, Nxb Trẻ, 1999, tr.40
6. Báo cáo tường thuật về Hội nghị hợp nhất ở Hương Cảng năm 1930 của Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Thiệu ngày 17-11-1959. Lưu tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh
7.  Nguyễn Văn Khoan: Lý Phương Đức, nữ chiến sĩ giao thông của Bác Hồ. Nxb Công an nhân dân, H, 2006, tr. 77
8. Lý Phương Thuận, tức Lý Ưng Thuận, Lý Sâm, Lý Thị Tâm, tức Lê Thị Tâm, quê Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Chị là một trong tám thiếu niên được đưa từ Xiêm sang Quảng Châu (Trung Quốc) theo học lớp thiếu niên tiền phong. Năm 1931, chị bị nhà cầm quyền Pháp phát lệnh truy nã cùng với Nguyễn Ái Quốc và các thành viên trong Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Ngày 6-6-1931, chị bị bắt cùng Nguyễn Ái Quốc, khai tên là Lý Sâm, quê ở Nam Kinh,Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc khai là bị bắt cùng người cháu của mình là Lý Sâm. Tại phiên tòa thứ ba, ngày 15-8-1931, Tòa án tối cao Hồng Kông xét thấy không có chứng cứ buộc tội, nên đã ra lệnh phóng thích Lý Sâm, cho phép chị được rời Hồng Kông trong vòng 7 ngày. Tại phiên tòa thứ tư, ngày 20-8-1931, Tòa tuyên án tha bổng                             
9. Theo Wikipedia.org. tiếng Việt, tháng 10-2014                              
10. Jason Wordie: Streets Exploring Kowloon, Nguyễn Huyền Trang dịch. Kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh
11. Việc ghi dấu sự kiện thành lập Đảng bằng hình thức bia biển ở Công viên Tống Vương Đài (đại diện cho cả khu vực Tống Vương Đài), theo chúng tôi là cần thiết đối với lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Hơn nữa, Công viên Tống Vương Đài cũng là một di tích lịch sử-văn hóa quan trọng của Cửu Long - Hồng Kông, nên việc gắn biển sẽ làm tăng thêm giá trị lịch sử, gắn kết hơn nữa mối quan hệ giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Việt - Trung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và dầy công vun đắp, xây dựng.