Tóm tắt: Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay, Đảng luôn chú trọng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo đối với công tác dân vận nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác này. Nhờ đó, công tác dân vận đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Bài viết tập trung phân tích làm rõ một số kinh nghiệm chủ yếu đúc kết từ quá trình Đảng lãnh đạo công tác dân vận giai đoạn 2011-2021, qua đó khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của công tác dân vận đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; lãnh đạo; công tác dân vận; kinh nghiệm


Đồng chí Phạm Minh Chính, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, 
Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2021-2026

Trên nền tảng quan điểm “lấy dân làm gốc”, giai đoạn 2011-2021, Đảng tiếp tục khẳng định công tác dân vận là nhiệm vụ chiến lược, giữ vai trò then chốt trong việc củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển đất nước trong bối cảnh đẩy mạnh đổi mới, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Điều đó thể hiện rõ trong các văn kiện Đại hội XI, XII, XIII của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương từ khóa XI đến khóa XIII. Qua đó, công tác dân vận trong giai đoạn 2011-2021 đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở đã nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của công tác dân vận; coi đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, giữ vững ổn định chính trị, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ dân vận từ Trung ương đến cơ sở được kiện toàn; trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu trong thực hiện công tác dân vận được đề cao; đội ngũ cán bộ dân vận cơ sở bám sát địa bàn, kịp thời nắm bắt tình hình nhân dân và giải quyết những vấn đề phát sinh.
Đặc biệt, công tác dân vận được triển khai thông qua nhiều phong trào, cuộc vận động lớn, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Tiêu biểu là phong trào “Dân vận khéo”, đến năm 2021 đã có hơn 863.000 mô hình1 được xây dựng và nhân rộng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, trật tự. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong việc chủ trì, phối hợp triển khai nhiều phong trào lớn như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, qua đó sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng cao. Các phong trào đã thu hút đông đảo nhân nhân dân tham gia, đến tháng 11-2020, cả nước có 5.415 xã (60,97%) đạt chuẩn nông thôn mới2, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống dưới 3%3, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Trong phòng, chống đại dịch COVID-19, công tác dân vận tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, huy động hơn 21.188 tỷ đồng thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc và Quỹ vắc xin phòng COVID-194, góp phần quan trọng vào việc chống dịch, dập dịch, bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận giai đoạn 2011- 2021 vẫn còn một số hạn chế như: ở một số nơi còn biểu hiện hình thức; việc lắng nghe, đối thoại với nhân dân chưa thường xuyên; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác dân vận chưa đồng bộ; năng lực một bộ phận cán bộ dân vận chưa đáp ứng yêu cầu. Những hạn chế này xuất phát từ nhận thức chưa đồng đều, cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ và điều kiện kinh tế - xã hội ở một số địa bàn còn khó khăn.
Những kết quả đạt được từ quá trình Đảng lãnh đạo công tác dân vận giai đoạn 2011-2021 đã để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị đối với hiện nay
Một là, Đảng thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo toàn diện đối với công tác dân vận
Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất và trực tiếp của Đảng đối với công tác dân vận là bài học kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng nhất. Trong giai đoạn 2011-2021, Đảng xác định rõ công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, gắn chặt với việc củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển đất nước. Quan điểm này được thể hiện tập trung và xuyên suốt trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Đây là nghị quyết chuyên đề có ý nghĩa nền tảng, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về công tác dân vận, đặt công tác dân vận trong mối quan hệ hữu cơ với xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong phát triển đất nước.
Trên cơ sở Nghị quyết số 25-NQ/TW, trong những năm tiếp theo, Đảng đã ban hành và tổ chức thực hiện đồng bộ nhiều chủ trương quan trọng nhằm cụ thể hóa và đưa Nghị quyết vào cuộc sống, tiêu biểu như Kết luận số 114-KL/TW ngày 14-7-2015 của Ban Bí thư Trung ương “về nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp”; Kết luận số 43-KL/TW ngày 7-1-2019 của Ban Bí thư “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Quyết định số 23-QĐ/TW ngày 30-7-2021 của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”. Việc triển khai thống nhất các chủ trương này khẳng định rõ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới.
Điểm nổi bật trong giai đoạn này là sự chuyển biến rõ nét từ nhận thức đến hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận. Đảng không chỉ dừng lại ở việc ban hành chủ trương mà đặc biệt coi trọng khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết và tổng kết. Ban Dân vận Trung ương và ban dân vận các cấp đã phát huy tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức dân vận; đồng thời tăng cường phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm triển khai công tác dân vận một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Việc thường xuyên tổ chức các hội nghị toàn quốc về công tác dân vận, nhất là trong giai đoạn 2018-2020, đã kịp thời định hướng nhận thức, thống nhất hành động và đề cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ dân vận.
Thực tiễn cũng cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Một hệ thống chính trị hoạt động thống nhất, hiệu lực và hiệu quả là tiền đề quan trọng để công tác dân vận đi vào chiều sâu, tránh hình thức, hành chính hóa. Trong đó, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, được xác định là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Khi cán bộ, đảng viên gương mẫu trong đạo đức, lối sống và phong cách công tác; gần dân, trọng dân, nói đi đôi với làm thì mới tạo dựng được niềm tin của nhân dân, qua đó nâng cao hiệu quả vận động, thuyết phục và huy động nhân dân tham gia các phong trào cách mạng.
Bên cạnh đó, sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác dân vận còn được thể hiện ở việc gắn công tác dân vận với cải cách hành chính và xây dựng chính quyền phục vụ nhân dân. Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP, ngày 8-11-2011 “ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, trong đó nhấn mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; đồng thời, Thủ tướng Chính phủ nhiều lần chỉ đạo tăng cường đối thoại với nhân dân, nhất là thông qua các chương trình “Chính phủ với người dân” và cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị. Những hoạt động này thể hiện sự chỉ đạo quyết liệt, bảo đảm công tác dân vận được triển khai thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Hai là, Đảng luôn quán triệt sâu sắc quan điểm cốt lõi “dân là gốc”
Lấy nhân dân làm trung tâm, làm chủ thể là quan điểm có ý nghĩa xuyên suốt, giữ vai trò định hướng nền tảng và mang giá trị chiến lược đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo, tổ chức và triển khai thực tiễn của Đảng. Quan điểm này vừa thể hiện sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, vừa phát triển phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
Tư tưởng “dân là gốc” khẳng định nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của sự nghiệp cách mạng; đồng thời đặt ra yêu cầu xuyên suốt đối với Đảng phải tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân, củng cố niềm tin và phát huy vai trò chủ thể, vai trò sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2011-2021, khi đất nước đứng trước nhiều biến động phức tạp do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng, biến đổi khí hậu và đại dịch COVID-19, quan điểm “dân là gốc” càng được Đảng nhấn mạnh và cụ thể hóa trong đường lối, chủ trương và phương thức lãnh đạo.
Trên phương diện lý luận và chủ trương, Đảng kiên định yêu cầu lấy nhân dân làm trung tâm trong hoạch định và thực thi chính sách. Các nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận trong giai đoạn này đều tập trung phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và sáng tạo của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và quản lý xã hội. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 16-5-2016, của Thủ tướng Chính phủ “về tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới” là những văn bản tiêu biểu thể hiện rõ yêu cầu đổi mới công tác dân vận theo hướng lấy nhân dân làm trung tâm, coi sự hài lòng, đồng thuận và mức độ tham gia của nhân dân là tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Trên phương diện thực tiễn, quan điểm “dân là gốc” được cụ thể hóa thông qua việc đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, mở rộng công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành và tạo điều kiện để nhân dân tham gia bàn bạc, giám sát những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống. Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia, đồng thời triển khai cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp, qua đó từng bước mở rộng không gian tham gia của nhân dân, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.
Thực tiễn ở một số địa phương cho thấy, việc vận dụng nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã tạo nền tảng quan trọng cho sự đồng thuận xã hội và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển kinh tế - xã hội. Các địa phương đã huy động hiệu quả sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới, từ hiến đất làm đường, đóng góp ngày công, đến giám sát các công trình hạ tầng và bảo vệ môi trường. Nhờ đó, nhiều địa phương đã sớm hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Điều đó cho thấy hiệu quả thực tiễn của việc phát huy dân chủ và hiện đại hóa phương thức dân vận trong phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, việc quán triệt tư tưởng “dân là gốc” còn được thể hiện thông qua các phong trào thi đua yêu nước và các mô hình “Dân vận khéo”, trong đó nhân dân giữ vai trò trung tâm trong đề xuất sáng kiến, tổ chức thực hiện và nhân rộng mô hình. Các phong trào như “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”, “Khu dân cư an toàn” không chỉ phát huy sức mạnh nội sinh của cộng đồng mà còn tạo cơ chế để hệ thống chính trị tiếp cận, lắng nghe và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cơ sở.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, tư tưởng “dân là gốc” được làm mới thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác dân vận. Các cổng thông tin điện tử, hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trực tuyến và nền tảng mạng xã hội đã mở rộng không gian tham gia của nhân dân, tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và giám sát hoạt động của cơ quan công quyền. Qua đó, quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ được khẳng định về mặt tư tưởng mà từng bước được hiện thực hóa bằng các phương thức dân vận phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại

Ba là, luôn gắn công tác dân vận với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh
Công tác dân vận luôn phải được xác định là bộ phận hữu cơ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước. Việc gắn công tác dân vận với các nhiệm vụ trọng tâm không chỉ phản ánh quan điểm nhất quán của Đảng về vai trò của nhân dân, mà còn là yêu cầu có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm các chủ trương, chính sách được triển khai hiệu quả, bền vững và phù hợp với thực tiễn.
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, công tác dân vận giữ vai trò là cầu nối quan trọng để chuyển hóa chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước thành sự đồng thuận và hành động tự giác của nhân dân. Thông qua hoạt động tuyên truyền, vận động, thuyết phục và tổ chức thực hiện, nhân dân được huy động tham gia trực tiếp vào các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, phát triển hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình. Việc gắn công tác dân vận với các nhiệm vụ phát triển đã phát huy được nguồn lực trong nhân dân, tăng cường vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, đồng thời tạo sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.
Cùng với đó, công tác dân vận được triển khai gắn chặt với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh, đặc biệt tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và những nơi tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự xã hội. Thông qua dân vận, các cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chủ động định hướng dư luận, giải quyết các vấn đề phát sinh từ cơ sở, qua đó củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, nền tảng quan trọng của quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Các mô hình như “3 cùng” của lực lượng vũ trang, tổ tự quản về an ninh trật tự, tổ hòa giải cộng đồng đã góp phần phòng ngừa, xử lý hiệu quả các mâu thuẫn xã hội, thiên tai, dịch bệnh và các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở.
Việc gắn công tác dân vận với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh đã tạo điều kiện để nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển và bảo vệ đất nước, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị. Qua đó, công tác dân vận khẳng định vai trò là phương thức quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp hài hòa giữa phát triển và ổn định trong bối cảnh mới.
Bốn là, tăng cường đổi mới nội dung, phương thức dân vận theo hướng hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn
Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số, việc đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và đáp ứng những biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội. Thực tiễn giai đoạn 2011-2021 cho thấy, Đảng đã từng bước chuyển mạnh công tác dân vận từ phương thức chủ yếu dựa vào tuyên truyền, vận động truyền thống sang kết hợp hài hòa giữa các hình thức trực tiếp với ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội và các nền tảng số, qua đó mở rộng kênh tiếp cận, tăng cường tính tương tác và kịp thời định hướng dư luận xã hội.
Việc đổi mới phương thức dân vận giai đoạn 2011-2021 được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Ban Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đã chủ động áp dụng nhiều hình thức dân vận mới như hội nghị trực tuyến, hội thi trên không gian mạng, xây dựng các trang thông tin, fanpage, chuyên mục hỏi - đáp, đối thoại trực tuyến với nhân dân. Những phương thức này không chỉ giúp truyền tải nhanh chóng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn tạo điều kiện để nhân dân bày tỏ ý kiến, phản ánh tâm tư, nguyện vọng một cách trực tiếp, nhất là đối với các nhóm xã hội trẻ, công nhân, người lao động trong khu vực đô thị và khu công nghiệp.
Cùng với đổi mới phương thức, nội dung công tác dân vận cũng được điều chỉnh theo hướng thiết thực, sát thực tiễn, lấy nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân làm trung tâm. Công tác dân vận không chỉ tập trung tuyên truyền, vận động mà chú trọng hơn đến việc nắm bắt tình hình nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, phát sinh từ cơ sở, qua đó củng cố niềm tin và tăng cường sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đặc biệt, khi xảy ra đại dịch COVID-19, việc vận dụng linh hoạt các phương thức dân vận hiện đại như truyền thông trực tuyến, thiết lập đường dây nóng, hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị qua nền tảng số đã góp phần quan trọng trong việc thông tin kịp thời, hướng dẫn người dân tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, tiêm chủng và các biện pháp phòng, chống dịch.
Việc Chính phủ triển khai và vận hành Cổng Dịch vụ công quốc gia, cùng các nền tảng số phục vụ quản lý, điều hành và tương tác với người dân, đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia giám sát, phản hồi và đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước. Đây không chỉ là bước tiến trong cải cách hành chính mà còn là biểu hiện sinh động của việc đổi mới phương thức dân vận theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ và nâng cao trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận “gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”
Cán bộ dân vận là cầu nối trực tiếp giữa Đảng và nhân dân, giữ vai trò quyết định hiệu quả công tác dân vận. Đảng xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận không chỉ dừng ở việc đề ra yêu cầu, tiêu chuẩn mà phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng và cơ chế sử dụng hợp lý. Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ dân vận gồm phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng xử lý tình huống, kỹ năng giao tiếp và phối hợp, đồng thời phải gắn bó thực chất với đời sống nhân dân.
Nguyên tắc “gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” được cụ thể hóa qua các mô hình như “cán bộ dân vận 3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân) nhằm khắc phục tình trạng hình thức, hành chính hóa, đưa cán bộ về gần dân, hiểu dân và đồng hành cùng dân. Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân vận được triển khai toàn diện, bảo đảm vừa “hồng” vừa “chuyên”, chú trọng xây dựng đội ngũ kế cận đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lâu dài.
Thực tiễn qua các phong trào “Dân vận khéo” cho thấy, nhiều tập thể và cá nhân cán bộ dân vận điển hình đã được biểu dương, khen thưởng, khẳng định vai trò nêu gương và sự tận tụy trong thực tiễn. Điều này chứng minh rằng đội ngũ cán bộ dân vận gần dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân là một nhân tố quyết định thành công của công tác dân vận, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường đồng thuận xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự ngay từ cơ sở.
Từ những kinh nghiệm trên có thể khẳng định việc bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, quán triệt sâu sắc tư tưởng “dân là gốc”, gắn công tác dân vận với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, đổi mới nội dung, phương thức dân vận phù hợp với bối cảnh mới, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ tận tụy, gần dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân đã tạo nền tảng vững chắc để công tác dân vận trở thành sức mạnh tổng hợp của nhân dân và hệ thống chính trị. Đây là yếu tố then chốt góp phần phát triển bền vững đất nước, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường đồng thuận xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự ngay từ cơ sở.
Trong 10 năm (2011-2021), công tác dân vận của Đảng đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những kinh nghiệm được đúc rút là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo công tác dân vận, đáp ứng yêu cầu công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.
 

 
Ngày nhận bài: 30-11-2025; ngày thẩm định, đánh giá: 25-1-2026; ngày duyệt đăng: 28-1-2026
1 . Xem: Trương Thị Mai: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nxb CTQGST, H, 2021, tr. 246
2 . Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: “Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tháng 11, 11 tháng và nhiệm vụ công tác tháng 12, Hà Nội, ngày 30-11-2020, https://www.mard.gov.vn/ThongKe/Lists/BaoCaoThongKe/Attachments/165/Baocao_T11_2020.pdf?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 27-11-
3 . Đức Thịnh: “Những con số ấn tượng về phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, giai đoạn 2017-2022”, https://danviet.vn/nhung-con-so-an-tuong-ve-phong-trao-nong-dan-san-xuat-kinh-doanh-gioi-giai-doan-2017-2022-20220912174955252-d1043116.html, truy cập ngày 27-11-2025
4 . Hương Diệp: “Hơn 21.188 tỷ đồng ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19”, https://mattran.org.vn/hoat-dong/hon-21188-ty-dong-ung-ho-cong-tac-phong-chong-dich-covid19-41124.html, truy cập ngày 27-11-2025