Tóm tắt: Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, trong đó mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài đã được xác lập và củng cố vững chắc. Thông qua các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước, bài viết tập trung phân tích làm rõ quá trình đổi mới của Việt Nam về vấn đề gia đình có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cùng sự tác động của kinh tế thị trường và chuyển đổi số. Qua đó, bài viết đúc kết những kinh nghiệm về phát triển bền vững gia đình Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay.
Từ khoá: Đảng Cộng sản Việt Nam; phát triển nhận thức; chính sách; gia đình yếu tố nước ngoài; hội nhập quốc tế
Ngày nhận: 30-6-2026; ngày thẩm định, đánh giá: 25-8-2026; ngày duyệt đăng: 30-8-2026

THE EVOLUTION OF THE VIETNAM COMMUNIST PARTY'S PERCEPTION AND STATE POLICIES ON FAMILIES WITH FOREIGN ELEMENTS IN VIETNAM FROM 1986 TO THE PRESENT
Abstract: During the implementation of the Doi Moi (Renovation) policy from 1986 to the present, Vietnam has achieved significant milestones in the socio-cultural sphere, within which the model of families with foreign elements has been firmly established and consolidated. Drawing on Party documents and the State's legal framework, this article analyzes and clarifies Vietnam’s reform process regarding families with foreign elements amid increasingly deep international integration, market economic dynamics, and digital transformation. On this basis, the article draws lessons and experiences for the sustainable development of Vietnamese families in the current new context.
Keywords: Communist Party of Vietnam; evolution of perception; policies; families with foreign elements; international integration.

1. Đặt vấn đề
Gia đình là tế bào của xã hội, là hạt nhân giữ vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bảo tồn văn hóa truyền thống và tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, chuyển đổi số và sự bùng nổ của làn sóng di cư lao động, cấu trúc gia đình truyền thống đã có những bước biến đổi sâu sắc. Sự xuất hiện và gia tăng nhanh chóng của loại hình gia đình có yếu tố nước ngoài đã trở thành một thực tiễn sinh động, phản ánh xu thế tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, vấn đề xây dựng gia đình ở Việt Nam  đã trải qua một quá trình đổi mới liên tục, thể hiện quan điểm nhân văn sâu sắc. Trước năm 1986, mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam rất hiếm gặp, hệ thống luật pháp hầu như chưa có điều khoản riêng biệt để điều chỉnh mô hình gia đình này. Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới năm 1986 đến nay, cùng với việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam từng bước thay đổi hành lang pháp lý, chú trọng bảo hộ công dân và quyền con người, tạo điều kiện cho mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài được xác lập và phát triển. Càng hội nhập sâu rộng, gia đình có yếu tố nước ngoài càng được tôn trọng và được nhìn nhận như một tế bào hữu cơ, bình đẳng trong xã hội Việt Nam. Đúng như thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Giữ gìn gia đình là giữ gìn nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc” (Tô Lâm, 28-6-2026). Mỗi chính sách phát triển luôn hướng tới một môi trường an toàn hơn, bình đẳng hơn, nhân văn hơn cho các mái ấm gia đình - nơi mọi thành viên đều được sống trong yêu thương, kỷ cương và trách nhiệm.

2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử nhằm làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về những vấn đề gia đình từ năm 1986 đến nay, nhất là những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch, Hiến pháp,... Đồng thời, bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, có yếu tố nước ngoài trong mối quan hệ biện chứng với hệ thống tổng thể của đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế và chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm làm rõ những bước phát triển trong chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về gia đình có yếu tố nước ngoài qua những nấc thang hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Đặc biệt, bài viết sử dụng phương pháp logic để đánh giá sự phát triển nhận thức của Đảng và chính sách của Nhà nước về mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài của Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong giai đoạn trước năm 1986, Việt Nam chưa có  văn bản pháp lý nào điều chỉnh trực tiếp các quan hệ hôn nhân với người nước ngoài. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 tập trung vào mục tiêu xây dựng gia đình của một xã hội mới, với những giá trị cốt lõi, Điều 1 của Luật khẳng định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” (Quốc hội, 29-12-1959). Toàn bộ các chế định từ điều kiện kết hôn, cấm kết hôn cho đến việc công nhận hôn lễ được quy định tại Điều 2: “Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái” (Quốc hội, 29-12-1959). Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 không có điều khoản riêng biệt để điều chỉnh, giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Điều 11 của Luật chỉ quy định giới hạn về mặt địa giới hành chính trong nước: “Việc kết hôn phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn” (Quốc hội, 29-12-1959).
Việc Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 chưa có quy định về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể, đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, các giao lưu dân sự quốc tế, làn sóng di cư lao động và nhu cầu kết hôn xuyên quốc gia chỉ xuất hiện một số trường hợp cá biệt trong đời sống xã hội.
3.1. Quá trình thay đổi nhận thức của Đảng và chính sách của Nhà nước về gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt từ năm 1986 đến nay
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, cùng với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã có những  đổi mới chính sách phát triển xã hội, xây dựng các mô hình gia đình Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Quá trình đổi mới nhận thức này gắn liền với các nấc thang phát triển hội nhập quốc tế của đất nước. Điều này được cụ thể hóa một cách đồng bộ, nhất quán từ chủ trương của Đảng đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước qua 3 giai đoạn.
- Giai đoạn đầu đổi mới (1986- 1994), Đảng và Nhà nước bước đầu thừa nhận gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Đại hội VI (1986) của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đối với vấn đề xây dựng gia đình Việt Nam, Đại hội xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. tr.429-430). Đại hội yêu cầu: “Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hoá mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình, nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hoá của gia đình” (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. tr.430).
Đại hội VI của Đảng đã mở ra thời kỳ đổi mới, mở rộng quan hệ đối ngoại, thúc đẩy các giao lưu dân sự xuyên quốc gia, kéo theo sự xuất hiện ngày càng nhiều cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài, hình thành mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và gia đình có yếu tố nước ngoài của người Việt ở nước ngoài. Nhằm bắt kịp thực tiễn, ngay sau Đại hội VI của Đảng, ngày 29-12-1986, Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. 
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã thay đổi cách tiếp cận khi dành riêng Chương IX quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài. Điều 52, ghi nhận quyền dân sự cơ bản: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn” (Quốc hội, 29-12-1986).
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiếp tục được luật pháp Việt Nam quy định cụ thể. Tháng 12-1993, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Điều 1 của Pháp lệnh khẳng định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình và Pháp lệnh này…” (Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, 2-12-1993). Những nội dung của Pháp lệnh này được cụ thể hóa tại Nghị định số 184-CP (1994) của Chính phủ, chính thức giao thẩm quyền đăng ký, công nhận hộ tịch có yếu tố nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự.
Như vậy, có thể thấy rằng nhận thức của Đảng về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1994) đã căn bản thừa nhận sự tồn tại khách quan và thiết lập hành lang quản lý bằng pháp luật.
- Giai đoạn 1995-2014: Hoàn thiện thể chế pháp lý và chú trọng bảo vệ quyền con người trong gia đình có yếu tố nước ngoài
Năm 1995, hoạt động đối ngoại của Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ; Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Những kết quả trong hoạt động đối ngoại thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới trên nhiều lĩnh vực. Điều đó làm gia tăng làn sóng di cư lao động từ Việt Nam ra nước ngoài và người nước ngoài đến Việt Nam làm việc. Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của hiện tượng di cư lao động, vấn đề kết hôn xuyên quốc gia và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng phát triển mạnh mẽ.
Chủ động nắm bắt tình hình thực tiễn, Đại hội VIII (1996) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ “xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”; “thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình” (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2015. tr.393). Ngày 9-6-2000, Quốc hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình mới, thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 dành riêng 1 chương (Chương XI) “về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” gồm 7 điều (từ Điều 100 đến Điều 106). Trong đó: Điều 100 khẳng định: Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; Điều 101 quy định việc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Điều 102 quy định thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Điều 103 quy định việc kết hôn có yếu tố nước ngoài; Điều 104 quy định việc ly hôn có yếu tố nước ngoài; Điều 105 quy định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Điều 106 quy định việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, có thể thấy rằng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã khẳng định rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; đồng thời quy định chi tiết những vấn đề cụ thể liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài từ việc áp dụng pháp luật, thẩm quyền giải quyết, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi đến việc giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Luật này đã được Chính phủ quy định chi tiết tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002. Điều đó đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra khi số gia đình có yếu tố nước ngoài gia tăng mạnh mẽ. “Trong giai đoạn từ 2005 - 2010, có 133.289 người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, trong đó có 91.201 cuộc hôn nhân và 42.079 người đăng ký kết hôn (Trần Thị Minh Thi, 2019, tr.37).
Tuy nhiên, do sự gia tăng nhanh của hôn nhân xuyên biên giới, đã xuất hiện nhiều hiện tượng biến tướng, môi giới hôn nhân bất hợp pháp, vi phạm pháp luật. Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 21-2-2005 của Ban Bí thư “về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, tiêu cực trong hôn nhân và xây dựng gia đình nói chung, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng: “Những biểu hiện tiêu cực trong hôn nhân với người nước ngoài đang làm cho xã hội lo lắng”(Ban Bí thư Trung ương, 21-2-2005). Chỉ thị đề ra nhiệm vụ xây dựng gia đình trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ quan điểm: “Coi đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển bền vững”; “Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định và phát triển của gia đình” (Ban Bí thư Trung ương, 21-2-2005).
Năm 2013, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 24/2013/NĐ-CP “quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” gồm 7 chương, 45 điều. Nghị định đã thiết lập các rào cản pháp lý nghiêm ngặt nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương: “Nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác” (Chính phủ, 28-3-2013). Nghị định lần đầu tiên thể chế hóa hoạt động nhân đạo, phi lợi nhuận của các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Những quy định này cho thấy, nhận thức của Đảng và chính sách của Nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã chuyển dịch sâu sắc từ quản lý hành chính đơn thuần sang chủ động hoàn thiện thể chế gắn liền với bảo vệ quyền con người và bảo hộ công dân.
- Giai đoạn từ năm 2014 đến nay: Coi gia đình có yếu tố nước ngoài là một tế bào hữu cơ bình đẳng của xã hội
Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “về hội nhập quốc tế” nêu rõ trong quá trình hội nhập phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội. Trên cơ sở đó, hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng hơn, cùng với đó, những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng được hoàn thiện. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng dành riêng 1 chương (Chương VIII) quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, gồm 10 điều (từ Điều 121 đến Điều 130), quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn và sát thực tế hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Điều 121 chỉ rõ: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam,…” (Quốc hội, 19-6-2014). Đồng thời, luật này mở rộng hành lang cho việc áp dụng pháp luật nước ngoài và điều ước quốc tế, tôn trọng tối đa sự khác biệt về văn hóa. Bên cạnh đó, Luật Hộ tịch năm 2014 phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch với những người có yếu tố nước ngoài từ cấp tỉnh về cho Ủy ban nhân dân cấp huyện (quy định tại Chương III của luật này), đồng thời xác định việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để tối ưu hóa quyền nhân thân của công dân. Sự hoàn thiện thể chế pháp lý đã giúp việc quản lý và định hướng các quan hệ này đi vào quỹ đạo ổn định, thực chất hơn.
Nhằm tiếp tục xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới, Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24-6-2021 của Ban Bí thư “về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới” khẳng định: “Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững đất nước”; cần phải “tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về gia đình theo hướng lấy hoạt động của gia đình làm trọng tâm, bảo đảm sự gắn kết xã hội và vai trò của gia đình” (Ban Bí thư Trung ương, 24-6-2021). Thực hiện chủ trương này, ngày 30-12-2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 2238/QĐ-TTg “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030” khẳng định: “Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước” (Thủ tướng Chính phủ, 30-12-2021).
Thực hiện những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, gia đình có yếu tố nước người ở Việt Nam được củng cố vững chắc theo quy định của pháp luật. Theo thống kê giai đoạn từ sau năm 2011 có sự biến động đa chiều về số lượng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Giai đoạn 2011 - 2017 ghi nhận sự ổn định với khoảng 18.000 - 22.000 cuộc/năm. Năm 2018 chứng kiến bước tăng đột biến, đạt đỉnh 53.214 cuộc - vượt xa quy mô của các quốc gia, vùng lãnh thổ so sánh trong khu vực (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan). Con số này giảm về mức 25.427 cuộc vào năm 2019, trước khi giảm mạnh do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 xuống 9.166 cuộc (năm 2020) và chạm đáy vào năm 2021 với 4.244 cuộc (chiếm khoảng 0,5% tổng số kết hôn toàn quốc) (Trần Thị Minh Thi, 2022, tr.5-6). Khi các rào cản di chuyển được gỡ bỏ, số lượng kết hôn phục hồi nhanh chóng lên gần 14.000 cuộc (năm 2022, chiếm 1,9%) và 19.000 cuộc (năm 2023, chiếm 2,8%), phản ánh nhu cầu thực tế ngày càng cao về giao lưu văn hóa và di cư xuyên quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng (Lê Thị Hồng Hải, 2025). Đáng chú ý, các gia đình có yếu tố nước ngoài đã hiện diện đầy đủ trên bản đồ hành chính dân cư toàn quốc, cho thấy đây không còn là hiện tượng cục bộ mà đã trở thành một thành tố hữu cơ ổn định trong xã hội Việt Nam.
3.2. Một số nhận xét và kinh nghiệm
Qua 40 năm đổi mới, từ việc từng bước thừa nhận, đưa vào khuôn khổ quản lý đến việc chủ động bảo vệ và coi gia đình có yếu tố nước ngoài là một tế bào hữu cơ bình đẳng của xã hội, nhận thức của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật sau:
Một là, Đảng và Nhà nước đã bám sát thực tiễn và tình hình khách quan của cuộc sống, của thời đại.
Nhận thức của Đảng về vấn đề xã hội đặt ra không mang tính giáo điều, cứng nhắc mà luôn vận động, biến đổi linh hoạt dựa trên sự khảo sát thực tế sinh động của đời sống kinh tế - xã hội. Từ thực trạng vấn đề xã hội, ngay khi đất nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) với chủ trương đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, thực hiện đa phương hóa quan hệ đối ngoại, Đảng đã kịp thời nhận diện xu hướng tất yếu của vấn đề hôn nhân xuyên quốc gia và gia đình có yếu tố nước ngoài để chỉ đạo thiết lập hệ thống luật pháp phù hợp, đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Hai là, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thể hiện tính nhân văn sâu sắc, quyền con người là hệ giá trị cốt lõi.
Xuyên suốt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật, từ các văn bản Luật Hôn nhân và gia đình đến các Nghị định của Chính phủ, mục tiêu quan trọng nhất luôn là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đặc biệt là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ và trẻ em. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã chuyển hóa mạnh mẽ từ tư duy thắt chặt "quản lý hành chính" sang tư duy "bảo hộ công dân, bảo vệ quyền con người", kiên quyết đấu tranh chống các hành vi trục lợi, môi giới bất hợp pháp hay mua bán người dưới danh nghĩa hôn nhân.
Ba là, tính biện chứng hài hòa giữa hội nhập và giữ gìn bản sắc. Đảng luôn chỉ đạo các chính sách phát triển phải đạt được sự cân bằng, một mặt chủ động nghiên cứu, tiếp thu chọn lọc các yếu tố tinh hoa từ pháp lý và văn minh nhân loại, hài hòa với pháp luật trong nước với điều ước quốc tế; mặt khác vẫn kiên định gìn giữ “nếp nhà”, bảo tồn các chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc. Tinh thần này tạo nên sức đề kháng tự nhiên cho gia đình Việt Nam trước các tác động tiêu cực, lối sống thực dụng và thông tin độc hại từ bên ngoài.

Một số kinh nghiệm
Một là, thường xuyên quán triệt chủ trương của Đảng, thực hiện tốt chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và xây dựng gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu và dự báo kịp thời sự biến đổi của cấu trúc gia đình trong bối cảnh mới. Thực tiễn cho thấy sự phát triển của kinh tế thị trường, chuyển đổi số và làn sóng di cư lao động sẽ tiếp tục hình thành những mô hình và mối quan hệ gia đình mới phức tạp hơn (như vấn đề mang thai hộ có yếu tố nước ngoài, xung đột pháp luật quốc tế về quyền nhân thân,…). Do đó, Đảng và Nhà nước tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, đi trước một bước để chủ động định hướng và bảo vệ an toàn cho các gia đình.
Hai là, đẩy mạnh cải cách thủ tục tư pháp, nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ hộ tịch cơ sở. Bài học chuyển giao thẩm quyền đăng ký hộ tịch với những người có yếu tố nước ngoài từ cấp tỉnh về cấp huyện theo Luật Hộ tịch năm 2014 cho thấy hiệu quả to lớn của việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp người dân tiếp cận quyền lợi dễ dàng, công bằng. Trong giai đoạn hiện nay, cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về gia đình, kết nối đồng bộ dữ liệu dân cư; đồng thời thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ, đạo đức cho công chức làm công tác hộ tịch nhằm hỗ trợ tốt nhất cho việc hòa nhập văn hóa, ngôn ngữ của các gia đình có yếu tố nước ngoài.
Ba là, phát huy vai trò chủ động, tích cực của cả hệ thống chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Công tác xây dựng gia đình có yếu tố nước ngoài không thể tách rời vai trò đồng hành của các tổ chức xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên,... Cần tiếp tục nhân rộng các mô hình tư vấn tiền hôn nhân, các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình phi lợi nhuận; nâng cao tính thiết thực của các mô hình bảo trợ xã hội và mái ấm tình thương để bảo đảm an sinh xã hội toàn diện, giúp đỡ kịp thời những phận người yếu thế, bảo đảm không một thành viên nào trong gia đình bị bỏ lại phía sau.

4. Kết luận
Chặng đường 40 năm (1986-2026) đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã tạo một bước tiến dài mang tính đột phá trong nhận thức của Đảng về vấn đề hôn nhân và mô hình gia đình có yếu tố nước ngoài. Qua từng nấc thang phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhận thức của Đảng đã dịch chuyển: từ thừa nhận sự tồn tại khách quan và lập khung quản lý bằng pháp luật, tiến tới hoàn thiện thể chế gắn với bảo hộ công dân, đấu tranh chống các biểu hiện trục lợi và đến độ chín muồi khi coi gia đình có yếu tố nước ngoài là một tế bào hữu cơ, bình đẳng, không thể tách rời của xã hội trong bối cảnh mới hiện nay. 
Những kinh nghiệm từ quá trình nhận thức của Đảng và chính sách của Nhà nước về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam là cơ sở để Việt Nam tiếp tục xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Bí thư. (21-2-2005). Chỉ thị số 49-CT/TW “về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Chi-thi-49-CT-TW-xay-dung-gia-dinh-thoi-ky-cong-nghiep-hien-dai-hoa-130938.aspx
Ban Bí thư Trung ương. (24-6-2021). Chỉ thị số 06-CT/TW, “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình” https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Chi-thi-06-CT-TW-2021-tang-cuong-su-lanh-dao-cua-Dang-doi-voi-cong-tac-xay-dung-gia-dinh-479330.aspx
Bộ Y tế. (29-11-2025). Thực trạng đăng ký kết hôn và các chỉ tiêu thống kê hôn nhân. https://vnpa.moh.gov.vn/thuc-trang-dang-ky-ket-hon-va-cac-chi-tieu-thong-ke-hon-nhan/
Chính phủ. (28-3-2013). Nghị định số 24/2013/NĐ-CP “quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Nghi-dinh-24-2013-ND-CP-huong-dan-Luat-hon-nhan-gia-dinh-ve-quan-he-hon-nhan-179158.aspx
Thủ tướng Chính phủ Chính phủ. (30-12-2021). Quyết định số 2238/QĐ-TTg “phê duyệt chiến lược phát triển gia đình việt nam đến năm 2030”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-2238-QD-TTg-2021-Chien-luoc-phat-trien-gia-dinh-Viet-Nam-den-2030-499257.aspx
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 47, Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 55, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. (29-12-1959). “Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Hon-nhan-va-gia-dinh-1959-2-SL-36857.aspx
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (29-12-1986). Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Hon-nhan-va-gia-dinh-1986-21-LCT-HDNN7-37246.aspx
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (9-6-2000). Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Hon-nhan-va-Gia-dinh-2000-22-2000-QH10-46450.aspx
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (19-6-2014). Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Hon-nhan-va-gia-dinh-2014-238640.aspx
Lê Thị Hồng Hải. (2025). “Đăng ký kết hôn đối với hôn nhân xuyên biên giới: thực trạng và giải pháp”. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/18/dang-ky-ket-hon-doi-voi-hon-nhan-xuyen-bien-gioi-thuc-trang-va-giai-phap/
Tô Lâm. (28-6-2026). “Giữ gìn gia đình là giữ gìn nếp nhà, giữ văn hóa, giữ sức mạnh trường tồn của dân tộc”. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/thu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-nhan-ky-niem-25-nam-ngay-gia-dinh-viet-nam-
Trần Thị Minh Thi. (2019). “Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài: Xu hướng và một số vấn đề xã hội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng)”. Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội. Số 1
Trần Thị Minh Thi. (2022). “Biến đổi xu hướng kết hôn với người nước ngoài ở Việt Nam và khu vực Đông Á giai đoạn 2001-2021”. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới. Số 3(32)
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2-12-1993). Pháp lệnh “về Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Phap-lenh-hon-nhan-va-Gia-dinh-giua-cong-dan-Viet-Nam-voi-nguoi-nuoc-ngoai-1993-28-L-CTN-38484.aspx.