Tóm tắt: Đạo đức là hệ thống các quy tắc về chuẩn mực của cộng đồng và xã hội. Đạo đức mang tính lịch sử và xã hội, phản ánh mối quan hệ của con người với con người trong xã hội. Sinh thời, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ cơ sở hình thành đạo đức là nền tảng kinh tế - xã hội, gắn liền với quá trình giáo dục, rèn luyện và hoạt động thực tiễn của con người; đạo đức mang đậm bản sắc dân tộc, giai cấp và thời đại, đồng thời có tính dẫn dắt cho những giai đoạn lịch sử tiếp theo. Bài viết làm rõ quan điểm của Ph.Ăngghen về đạo đức và việc vận dụng sáng tạo ở Việt Nam1.

Từ khóa: Quan điểm của Ph.Ăngghen về đạo đức; sự vận dụng ở Việt Nam

1. Quan điểm của Ph. Ăngghen về đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, gắn liền với đời sống hiện thực của nhân dân
Vấn đề nguồn gốc của đạo đức luôn được các nhà tư tưởng quan tâm đầu tiên. Ở châu Âu, quan điểm của Thiên chúa giáo cho rằng, thiên chúa sinh ra đạo đức; đạo đức là biểu hiện lòng nhân ái của đức chúa nơi trần thế. Quan điểm này đóng vai trò dẫn dắt quan trọng cơ bản đối với người dân châu Âu và phương Tây nói chung. Ngay cả các nhà triết học cũng có quan điểm tương tự. Ph.Ăngghen cho rằng, “Đạo đức học của Hêghen... là triết học pháp quyền và gồm có: 1) pháp quyền trừu tượng; 2) luân lý; 3) đạo đức. Đạo đức này lại bao gồm: gia đình, xã hội công dân, nhà nước”2. Trong đó nhà nước không đơn thuần là bộ máy hành pháp, mà là tổng thể các chế tài pháp lý, kỷ cương xã hội, chuẩn mực về đạo đức, chính trị, kinh tế và văn hóa,... Cơ sở của triết học pháp quyền, trong đó có đạo đức, là một “ý niệm tuyệt đối” đóng vai trò là bản nguyên tinh thần.
Như vậy, đạo đức phải nấp sau “ý niệm tuyệt đối” của Hêghen. Ph.Ăngghen không tán thành cách tiếp cận đó. Ông khẳng định đạo đức luôn gắn liền với đời sồng thực tế và là một hiện tượng xã hội được nảy sinh trên một nền tảng kinh tế - xã hội nhất định. Ông viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”3. Từ đó mọi hành vi đạo đức trái với thực tế này đều phải trả giá đắt cho sai lầm của nó. Vì thế, “con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang là cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi”4. Chính quá trình này đã thúc đẩy sự xuất hiện các giá trị, các chuẩn mực đạo đức; đến lượt nó, các giá trị, chuẩn mực đạo đức lại có tác dụng điều chỉnh hành vi con người sao cho hài hòa lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng trong quá trình sản xuất và trao đổi. Tán thành quan niệm của các nhà duy vật Pháp, Ph.Ăngghen viết: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì do đó cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với toàn thể loài người”5.
Ngoài ra, Ph.Ăngghen cũng phê phán quan điểm “đối tượng phải phù hợp với khái niệm” của Đuyrinh hay quan điểm “Lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh ở con người, do đó, nó phải là cơ sở của mọi đạo đức”6 của Phoiơbăc. Bởi những quan điểm đạo đức này hoàn toàn mang tính duy tâm chủ quan, không thấy cơ sở khách quan của đạo đức là các điều kiện kinh tế và xã hội. Nhận định của Phoiơbăc rằng “trong cung điện người ta suy nghĩ khác trong túp lều tranh”, thực ra cũng chỉ là thể hiện lòng trắc ẩn tôn giáo với lối suy nghĩ duy tâm chủ quan.
Tính chất, bản chất của đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội, trước hết thể hiện tính thời đại, tính dân tộc, tính nghề nghiệp và luôn vận động trong tính đối lập giai cấp. Ph. Ăngghen phê phán ý định của Đuyrinh xây dựng học thuyết đạo đức có tính hình thức, tiên nghiệm, đúng với mọi thời đại, mọi dân tộc. Ông cũng phê phán học thuyết đạo đức của Phoiơbăc và “tất cả các học thuyết trước nó đã cố tình “được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”7. Đó là kiểu đạo đức trừu tượng, phi lịch sử.
Thực ra, các quan niệm về đạo đức luôn thấm đẫm tính loài người (hay tính văn hóa), tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại, nhưng cũng thường biến đổi trong lịch sử. Ngay chuẩn mực đạo đức truyền thống căn bản và có tính phổ biến của đạo đức nhân loại như thiện ác thì mỗi dân tộc, mỗi giai cấp, mỗi nền văn hóa, mỗi thời đại cũng hiểu rất khác nhau. Ph.Ăngghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”8. Đạo đức căn bản mang bản chất của văn hóa. Vì lẽ, trong khi thẩm thấu vào tất cả các mặt của đời sống xã hội và các hoạt động của con người, đạo đức luôn xuất phát từ con người, mà con người là chủ thể xã hội biểu hiện ra với tư cách là một cá nhân - nhân cách văn hóa. Và cùng với sự biến đổi của xã hội loài người, đạo đức thuộc về “lịch sử loài người”, nên nó cũng mang tính lịch sử và gắn bó hữu cơ với các điều kiện kinh tế, xã hội của nhân loài.
Trong thời đại của mình, Ph.Ăngghen nhận thấy có ba kiểu đạo đức đang tồn tại: “Bên cạnh đạo đức đó  (đạo đức phong kiến) - có đạo đức tư sản cận đại, rồi bên cạnh đạo đức này, lại có đạo đức vô sản của tương lai, thành thử chỉ riêng trong các nước tiên tiến ở châu Âu, quá khứ, hiện tại và tương lai đã đề xuất ba nhóm lớn những học thuyết về đạo đức, song song với nhau và cùng tồn tại bên cạnh nhau”9. Theo Ph.Ăngghen, “Trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình”10. Đạo đức nghề nghiệp do tính đặc thù nghề nghiệp quy định.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp; đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, các giai cấp thống trị thay thế nhau, nhưng ở mức độ nhất định, xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung.
Tính kế thừa của đạo đức phản ánh những yêu cầu liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn...
Ph.Ăngghen cho rằng, “cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp;...”11. Chừng nào sự phân cực của xã hội còn gay gắt thì thật khó chấp nhận “đạo đức phi giai cấp”. Giới hạn ấy sẽ bị vượt qua khi không còn quan hệ đa cực, đa chiều theo kiểu mâu thuẫn trong xã hội. Theo ông: “Một đạo đức thực sự có tính người, đứng trên những đối lập giai cấp và trên mọi hồi ức về những đối lập ấy, chỉ có thể có được ở một trình độ phát triển của xã hội, trong đó người ta không những đã thắng được những đối lập giai cấp mà còn quên được những đối lập ấy trong đời sống thực tiễn”12. Như vậy, theo Ph.Ăngghen đó chính là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Tựu trung, trong thời đại của mình, Ph.Ăngghen (và C.Mác) chưa làm rõ những vấn đề đạo đức vừa phong phú vừa phức tạp, nhưng các ông đã để lại những quan điểm đạo đức mang đậm bản sắc dân tộc, giai cấp và thời đại mình, đồng thời có tính dẫn dắt thực tiễn cho đến cả ngày nay.
Vai trò của đạo đức
Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên, trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người theo cách tự nguyện và không vụ lợi. Đạo đức giúp mỗi con người tồn tại trong xã hội có một lối sống lành mạnh và hướng thiện hơn. Đạo đức chính là sự thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc; dựa vào đạo đức mà mỗi quốc gia có thể đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác quốc tế, mở rộng giao lưu với các quốc gia khác. Đạo đức, do vậy, là yếu tố góp phần giữ ổn định trật tự xã hội, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định, bền vững. Nhưng bên cạnh đạo đức chân chính cũng có thói đạo đức giả. Thói đạo đức giả luôn gắn với tính cá nhân chủ nghĩa (hay chủ nghĩa cá nhân) và được biểu hiện ở thói ích kỷ, đố kị, xu nịnh, a dua và tâm lý cả tin. Đôi khi đạo đức giả lại là công cụ bất đắc dĩ của một người, một nhóm người, để tự vệ trước thói đạo đức giả của một người, một nhóm người khác. Đạo đức giả là một thói xấu trong mối quan hệ xã hội của con người, đặc biệt ở những xã hội có sự suy thoái về đạo đức. Nó làm mất thuộc tính chân thực vốn có của đạo đức. Nạn đạo đức giả sẽ làm suy yếu nền đạo đức và văn hóa của một đất nước.
Ph.Ăngghen cho rằng, dưới chủ nghĩa cộng sản, khi xã hội đã đạt đến một trình độ phát triển cao và trên cơ sở đã thắng được những đối lập giai cấp, con người quên được những ký ức về đối lập giai cấp trong thực tiễn xã hội, thì đạo đức sẽ thực sự có tính người13. Theo V.I Lênin, đạo đức cộng sản là “những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản. Đạo đức XHCN (chân chính) hướng con người tới tinh thần thanh khiết của tâm hồn, văn hóa. Bởi vậy, trong cuộc sống luôn đòi hỏi sự rèn luyện đạo đức cùng với sự cảnh giác và tẩy trừ thói đạo đức giả, trước hết ở chính bản thân mỗi người.
 
2. Vận dụng sáng tạo quan điểm của Ph.Ăngghen về đạo đức ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kế thừa quan điểm của Ph.Ăngghen và quan điểm truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh quan niệm: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, Phần lớn đều do giáo dục mà nên”14. Đối với Người, việc thiện thì nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì nhỏ mấy cũng tránh. Từ đó cần vận dụng quan điểm của Ph. Ăngghen về đạo đức theo các định hướng sau:
Một là, lời nói phải đi đôi với việc làm và thực hành tấm gương về đạo đức
Như Ph.Ăngghen viết, đạo đức phản ánh các quan hệ xã hội, nhưng xuất phát từ con người với tư cách là một cá nhân - nhân cách văn hóa. Trong cuộc sống thường nhật, những hiện tượng tốt - xấu, đúng - sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức thường đan xen nhau thông qua hành vi, phán xét của mỗi người. Do đó, không lĩnh vực nào đòi hỏi thực hiện nguyên tắc lời nói phải đi đôi với việc làm như lĩnh vực đạo đức. Có nhất quán giữa lời nói với việc làm thì con người mới bảo đảm được niềm tin, uy tín với mọi người, kể cả người thân, đồng nghiệp, đồng chí. Trong mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, công tác, đều phải thực hiện sự thống nhất giữa nói với làm.
Nói đi đôi với làm là nguyên tắc thực hành đạo đức, đặc biệt thông qua những tấm gương đạo đức với những khía cạnh làm gương, nêu gương và noi gương (hay noi theo). Bởi theo Hồ Chí Minh, đối với các nước phương Đông như Việt Nam, một tấm gương thực hành “có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”15. Việc thực hành làm gương, nêu gương và noi gương diễn ra từ gia đình đến ngoài xã hội.
Làm gương, nêu gương và noi gương có mối quan hệ chặt chẽ: làm gương nhằm tạo ra một tấm gương sống cho người khác học tập và làm theo; làm gương là gốc rễ của nêu gương, noi gương. Nêu gương là tuyên truyền hay giáo dục về làm gương nhằm nhân rộng noi gương. Noi gương là kết quả tốt nhất của làm gương và nêu gương. Mấu chốt của làm gương, nêu gương, noi gương là sự lan tỏa tấm gương, làm theo những tấm gương sáng để cả cộng đồng và xã hội cùng theo nhau phát triển tốt đẹp; từ đó góp phần làm cho ý nghĩa những tấm gương được lớn lao hơn và nhân rộng, nâng cao đạo đức chân chính trong xã hội. Tấm gương thực hành đạo đức thông qua làm gương, nêu gương và noi gương là sự thể hiện sống động cho sự thống nhất giữa lời nói đi đôi với việc làm, xây đi đôi với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời. Từ đó có thể tổng kết thực tiễn để nâng lên thành lý luận về đạo đức.
Hai là, xây dựng đạo đức mới đi đôi với chống suy thoái, tha hóa và phi đạo đức trong xã hội.
Trong xã hội, như Ph.Ăngghen xác định, bên cạnh đạo đức chân chính, thường có có thói đạo đức giả trong không ít quan hệ xã hội của con người, nhưng chậm hay rất khó bị phát giác; cũng gần giống sự suy thoái, tha hóa về đạo đức và hiện tượng phi đạo đức, được biểu hiện ngấm ngầm hay công khai. Sự suy thoái, tha hóa và phi đạo đức là những hiện tượng giảm sút, đi ngược lại đạo đức chân chính trong xã hội. Thói đạo đức giả là hiện tượng níu kéo những chuẩn mực đạo đức đã lỗi thời, không phù hợp với xu thế phát triển của đạo đức mới, nhất là căn bệnh “sính đạo đức”. Sự suy thoái, tha hóa và phi đạo đức đều gắn với chủ nghĩa cá nhân nhằm biện hộ cho thói ích kỷ, đố kị, xu nịnh, a dua, cả tin,... Vì vậy, xây dựng đạo đức mới phải đi đôi với chống đạo đức giả, chống sự suy thoái, tha hóa, phi đạo đức trong xã hội. Nguyên tắc thực hiện là có xây, có chống; trong đó xây trước, chống sau và kết hợp xây với chống.
Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ trọng trách xã hội càng cao thì càng phải gương mẫu về đạo đức, nói ít làm nhiều, tự mình tu dưỡng đạo đức theo tinh thần của các chỉ thị, nghị quyết và quy định của Đảng về đạo đức, như: Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị số 05); Quy định số 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Chống thói đạo đức giả, chống sự suy thoái, tha hóa và hiện tượng phi đạo đức đều là nhằm xây dựng đạo đức mới. Mỗi người tự mình phải hằng ngày khiêm tốn học hỏi điều hay lẽ phải, nỗ lực trau dồi tri thức chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Đặc biệt là những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong hệ thống chính trị, trong xã hội, phải luôn chân thành yêu thương, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng bào, khoan dung, độ lượng “làm việc phải” tận tâm, tận lực theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”.
Để xây dựng đạo đức trong xã hội, cùng với việc bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống thói đạo đức giả gắn với chống sự suy thoái, tha hóa và hiện tượng phi đạo đức, vì chúng đi ngược lại những yêu cầu đạo đức chung của xã hội. Trên cơ sở kết hợp xây và chống, mỗi người tiếp nhận sự giáo dục đạo đức của mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng và toàn xã hội; đồng thời mỗi người phải chủ động, tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng đạo đức, góp phần nâng cao tình nhân ái, niềm tin con người một cách bền vững trong xã hội. Cán bộ, đảng viên của Đảng cần tiếp tục phát huy vai trò nêu gương, ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, gắn việc noi gương với nêu gương và làm gương nhằm thúc đẩy sự lan tỏa tấm gương đạo đức trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư và trong toàn xã hội.
Ba là, tu dưỡng đạo đức suốt đời
Theo Ph.Ăngghen, trong cuộc sống thực tế, đạo đức chân chính luôn đòi hỏi sự rèn luyện đạo đức cùng với sự cảnh giác và tẩy trừ thói đạo đức giả, trước hết ở chính bản thân, nhằm hướng con người tới tinh thần thanh khiết của tâm hồn và văn hóa, tới “chân, thiện, mỹ”.  Phát triển quan điểm này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, đạo đức không phải từ trên trời sa xuống, mà do “đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”16. Người nhiều lần nhấn mạnh tu dưỡng đạo đức là một quá trình đấu tranh quyết liệt, lâu dài trong nội tâm của mỗi người. Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc tu dưỡng đạo đức của đảng viên, vì “tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”17. Cái hại lớn hơn là cán bộ có chức có quyền mà không có đạo đức thì dễ tha hóa. Nói tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực là như vậy. Hoặc “những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”18. Trong thực tế, có người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ gian khổ, hy sinh, nhưng đến khi có ít quyền hạn thì sinh ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, biến thành người có tội. Cho nên mỗi người phải kiên trì, bền bỉ tự chăm lo tu dưỡng đạo đức hằng ngày và suốt đời. Hồ Chí Minh là tấm gương luôn kiên trì thực hành “tu thân chính tâm” - tức là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu, vì chỉ như thế mới thực hành việc làm gương, nêu gương và noi gương trong thực tế cuộc sống. Người cũng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và thực hành đạo đức trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng, trong mọi mối quan hệ của mỗi cá nhân, theo phương pháp làm gương để nêu gương, noi gương.
Đối với mỗi thành viên trong xã hội, việc rèn luyện đạo đức phải được thực hiện thường xuyên từ mỗi cá nhân, gia đình đến cộng đồng, từ công việc, sinh hoạt hằng ngày đến học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh...; trong ứng xử các mối quan hệ gia đình, nhà trường, cơ quan, đoàn thể, bạn bè, đồng nghiệp...
Bốn là, phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong điều chỉnh đạo đức.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, gắn liền với đời sống hiện thực của nhân dân, nên theo Ph.Ăngghen, nhân dân là là nền móng nuôi dưỡng, phát triển, phát huy đạo đức trong thực tế cuộc sống hàng ngày. Từ thực tiễn lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”19. Từ đó, Người nhấn mạnh: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng”20; tin vào dân chúng; đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. “Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”21. Nhưng theo Hồ Chí Minh, không nên theo đuôi quần chúng. Bởi lẽ, trong nhân dân có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau; có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu. Cần phải biết lắng nghe, so sánh, tổng kết để tìm ra ý kiến đúng đắn, đầy đủ để nâng cao sự giác ngộ cho nhân dân; phải tuyên truyền, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức của nhân dân về vị trí, vai trò của họ trong việc điều tiết đạo đức xã hội theo hướng tích cực. Dư luận của nhân dân có thể điều chỉnh hành vi đạo đức một cách hiệu quả, vì nó phù hợp với chức năng điều chỉnh vốn quan trọng nhất của đạo đức. Chức năng nhận thức và ứng xử của đạo đức bao gồm nhận thức và tự nhận thức, ứng xử và tự ứng xử, cả hướng nội và hướng ngoại. Cho dù là hình thức nào chăng nữa thì (dư luận) nhân dân cũng nhìn nhận, đánh giá trên các khía cạnh khác nhau để giúp và nâng đỡ, thúc đẩy mỗi người có hướng giải quyết cũng như có thể thực hành hành động, hành vi đạo đức một cách khách quan, phù hợp với lợi ích của xã hội và của cá nhân mỗi người.
Nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện những vi phạm đạo đức của những cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội. Do vậy cần phát huy vai trò của họ trong kiểm tra, giám sát, phát hiện, bồi dưỡng, điều tiết và xử lý bằng dư luận xã hội, nhất là đối với những cá nhân, cơ quan, tổ chức có trọng trách và mang biểu tượng đạo đức cao trong xã hội. Trong thực tiễn lịch sử, nhân dân biết “gạn đục, khơi trong” xây dựng lối sống có tình, có nghĩa, nói đi đôi với làm, học gắn với hành, hài hòa giữa đức và tài, giữa bản sắc đạo đức Việt Nam và đạo đức nhân loại tiến bộ,...

 


* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
** Học viện Chính trị khu vực I
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 8/2024
1. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia mã số KX.02.11/21-25
2, 6, 7, 10. C. Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, T. 21, tr. 420, 422, 425, 425
3, 4, 8, 9, 11, 12, 13. Sđd, 2002, T. 20, tr. 137, 136, 135, 136, 137, 137, 137
5. Sđd, 1995, T. 2, tr. 199-200
14. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 3, tr. 413
15. Sđd, T. 1, tr. 284
16. Sđd, T. 11, tr. 612  
17, 18, 19, 20, 21. Sđd, T. 5, tr. 294, 122, 335, 337, 337-338.