Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những quan điểm về tự chủ, tự lực trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên các nội dung: độc lập trong hoạch định chiến lược tác chiến; tự lực trong xây dựng lực lượng đội quân vững mạnh toàn diện, trong đó nhân tố chính trị, tinh thần là gốc quyết định mọi thắng lợi; tự chủ trong bảo đảm hậu cần, kỹ thuật trong chiến tranh nhân dân. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những kinh nghiệm đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo hướng tinh, gọn, mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Từ khóa: Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tự chủ, tự lực; quân sự - quốc phòng; kinh nghiệm; xây dựng quân đội
Ngày nhận bài: 21-7-2026; Ngày thẩm định: 18-8-2026; Ngày duyệt đăng: 29-8-2026
QUAN ĐIỂM TỰ CHỦ, TỰ LỰC CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP TRONG LĨNH VỰC QUÂN SỰ - QUỐC PHÒNG VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
Abstract: This article focuses on analyzing General Vo Nguyen Giap’s perspectives on autonomy and self-reliance in the military and national defense sector, with emphasis on the following aspects: independence in operational strategic planning; self-reliance in building a strong and comprehensive military force, in which political and spiritual factors constitute the basis of victory; and autonomy in ensuring logistical and technical support in people’s war. Building on this analysis, the article clarifies the lessons and implications for the building of the Vietnam People’s Army today in the direction of being lean and strong, possessing firm political resolve, and meeting the requirements of defending the nation at an early stage and from afar.
Keywords: General Vo Nguyen Giap; autonomy, self-reliance; military and national defense; lessons and implications; building the military force
1. Đặt vấn đề
Thế kỷ XXI đang chứng kiến những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình thế giới với sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các cuộc xung đột vũ trang cục bộ, chiến tranh ủy nhiệm và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực tự chủ chiến lược quốc phòng nhằm bảo vệ vững chắc nền độc lập và chủ quyền quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng. Năng lực tự chủ chiến lược quốc phòng của Đảng hiện nay được kế thừa và phát triển từ giá trị truyền thống lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời được phát triển và khẳng định qua cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kháng chiến bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Những quan điểm về tự chủ, tự lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được xây dựng dựa trên ba trụ cột: độc lập trong hoạch định chiến lược tác chiến quân sự; tự lực trong xây dựng đội quân nhân dân vững mạnh toàn diện, lấy con người làm nhân tố quyết định; bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho chiến tranh nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược ngày càng trở nên cấp thiết, việc nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về lĩnh vực này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ những quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tự chủ, tự lực trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng; và một số kinh nghiệm đối với công tác xây dựng QĐND Việt Nam hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm làm rõ những quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tự chủ, tự lực trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng. Trong từng nội dung, các sự kiện, tư liệu được đặt theo trình tự thời gian, bối cảnh lịch sử cụ thể nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học. Phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp phương pháp dự báo nhằm rút ra định hướng xây dựng QĐND Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Những quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tự chủ, tự lực trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng
Một là, tự chủ, tự lực trong hoạch định đường lối và tư duy tác chiến quân sự
Độc lập, tự lực, tự chủ, tự cường là nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng đường lối chiến lược quân sự của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã nhận được sự viện trợ, giúp đỡ to lớn về vật chất, vũ khí và kinh nghiệm lý luận quân sự của các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Tuy nhiên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thức rõ điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội, địa hình và con người Việt Nam có những đặc thù riêng nếu áp dụng một cách máy móc các học thuyết “chiến tranh trận địa” của Liên Xô hay “chiến tranh du kích” thuần túy của Trung Quốc thì cách mạng Việt Nam khó giành được thắng lợi trước những kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội gấp nhiều lần. Đại tướng cho rằng: “Trong lịch sử cận đại của thế giới, chưa hề có tiền lệ thắng lợi trong cuộc đối đầu giữa các dân tộc nhược tiểu với các cường quốc đế quốc thực dân hùng mạnh. Chúng ta cần tìm ra những phương thức hữu hiệu để thực hiện “cả nước đánh giặc” trong thời đại mới với những điều kiện hết sức ngặt nghèo: nước nhỏ, dân không đông, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu vũ khí, thiếu cán bộ và tri thức quân sự hiện đại” (Võ Nguyên Giáp, 1995, tr. 221-222). Vì vậy, vận dụng nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm và học thuyết quân sự trên thế giới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đại tướng đã góp phần hình thành và phát triển lý luận quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng QĐND vững mạnh toàn diện lấy chính trị, tư tưởng là gốc, xây dựng hậu phương vững chắc, chủ động tạo và nắm chắc thời cơ trong tác chiến. Thước đo cao nhất cho tính đúng đắn của đường lối quân sự chính là hiệu quả thực tiễn trên chiến trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu chiến lược của Đảng và hạn chế thấp nhất sự hy sinh, tổn thất của quân và dân ta. Điều này được thể hiện rõ trong quyết định thay đổi phương châm tác chiến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mặc dù kế hoạch “đánh nhanh giải quyết nhanh” đã được vạch ra và công tác chuẩn bị đã gần như hoàn tất, nhưng sau khi kiểm tra, khảo sát lại thực địa chiến trường, đánh giá tương quan lực lượng và vị thế tác chiến giữa hai bên tại điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định hoãn cuộc tấn công, lệnh cho bộ đội kéo pháo ra và chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Sau khi đất nước thống nhất, Đại tướng đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu “Tổ chức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, từng bước hiện đại là phương châm cơ bản của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 2006, tr.1355).
Hai là, tự chủ, tự lực trong xây dựng quân đội vững mạnh, toàn diện trong đó nhân tố chính trị, tinh thần là gốc
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vấn đề cốt lõi của tự chủ, tự lực trong tư duy quân sự là phát huy sức mạnh tinh thần và trí tuệ của con người, của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở thấu triệt quan điểm: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 217) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: “Sức mạnh vô địch của lực lượng vũ trang nhân dân bắt nguồn trước hết từ bản chất cách mạng, từ ưu thế chính trị tinh thần của nó” (Võ Nguyên Giáp, 1974, tr.177). Khác với một số học thuyết quân sự của phương Tây đề cao ưu thế của trang bị vật chất và đội quân hùng hậu, Đại tướng cho rằng: Công tác chính trị trong quân đội “là mạch sống, là nguồn sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân” (Võ Nguyên Giáp, 1974, tr.181). Nhân tố chính trị, tinh thần chính là lòng yêu nước nồng nàn, là sự giác ngộ về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân. Đây là nhân tố nền tảng tạo nên bản sắc và sức mạnh của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Trong xây dựng quân đội, Đại tướng đặc biệt coi trọng việc xây dựng hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ chính ủy, chính trị viên, xem đây là “linh hồn” của các đơn vị. Một đơn vị mạnh phải là một đơn vị có tổ chức Đảng trong sạch, có sự đoàn kết nhất trí cao độ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa quân và dân; lấy sự vững vàng về chính trị làm nền tảng để thúc đẩy việc rèn luyện nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và năng lực chỉ huy tác chiến. Đồng thời, thấm nhuần sâu sắc triết lý “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng khẳng định vũ khí, trang bị dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ là phương tiện, còn con người sử dụng vũ khí mới là lực lượng quyết định cục diện chiến trường. Vì vậy, để con người thực sự trở thành hạt nhân của sức mạnh chiến đấu, Đại tướng yêu cầu phải quan tâm công tác đào tạo, huấn luyện để xây dựng cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy, trình độ chiến thuật, làm chủ được binh khí kỹ thuật, có tinh thần kỷ luật tự giác nghiêm minh và tình đồng chí, tình quân dân gắn bó. Sức mạnh của tự chủ chiến lược quân sự - quốc phòng Việt Nam là đội ngũ cán bộ chiến sĩ gan dạ cùng với lực lượng chính trị hùng hậu của đông đảo nhân dân, tạo nên một đội quân sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng bất cứ kẻ thù hùng mạnh nào.
Ba là, tự chủ, tự lực xây dựng tiềm lực hậu cần, kỹ thuật quân sự - quốc phòng
Nếu như các học thuyết quân sự phương Tây coi hậu cần là tổng hợp các nguồn lực vật chất, kỹ thuật dựa trên hệ thống giao thông cơ giới, cảng biển và phi trường hiện đại, thì theo quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cần phải chủ động xây dựng các tuyến hậu cần, huy động các nguồn lực trong nhân dân thành sức mạnh vật chất to lớn trên chiến trường, đồng thời tước vũ khí của địch để trang bị cho bộ đội. Điều đó được thể hiện ngay từ ngày đầu thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944) chỉ với 34 chiến sĩ và những khẩu súng thô sơ, Đại tướng đã quán triệt sâu sắc tinh thần tự lực để tồn tại và phát triển: lấy vũ khí của giặc để đánh giặc, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, vừa chiến đấu vừa tổ chức sản xuất (Võ Nguyên Giáp, 1975).
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khi phải đối đầu với những đế quốc hàng đầu với tiềm lực quân sự hùng mạnh, Đại tướng đã chỉ đạo bộ đội vừa chiến đấu, vừa tham gia lao động sản xuất nhằm bổ sung nguồn hậu cần cho quân đội. Trong đó, ngành Quân giới đã phát huy cao độ tư duy sáng tạo và tinh thần tự chủ, chủ động nghiên cứu cải tiến, làm chủ khoa học - công nghệ để tối ưu hóa tính năng trang bị hiện có. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngành Quân giới đã nghiên cứu, cải tiến và sản xuất thành công các loại vũ khí mang thương hiệu Việt Nam, như: súng không giật (SKZ), súng Bazooka cải tiến, bom bay... đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến tranh. Tinh thần ấy lại một lần nữa được hiện thực hóa bằng sự sáng tạo của quân và dân trong cải tiến thành công tên lửa SAM-2 của Liên Xô, vạch nhiễu bốc lửa để bắn rơi “siêu pháo đài bay” B52 trên bầu trời Hà Nội năm 1972 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Bộ Quốc phòng - Tổng cục kỹ thuật, 2003).
Trên lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.147), Đại tướng khéo léo tranh thủ các ý kiến đóng góp của các cố vấn, chuyên gia quân sự Trung Quốc, Liên Xô nhưng luôn giữ nguyên tắc độc lập trong các quyết định đối với các kế hoạch, chiến lược tác chiến. Việc kết hợp hài hòa giữa nội lực và ngoại lực đã giúp Việt Nam tạo dựng được một mặt trận nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, góp phần cô lập các thế lực xâm lược ngay trên chính đất nước của họ.
2.2. Kinh nghiệm đối với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Thế giới đang dịch chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo từ đơn cực sang đa cực, đa trung tâm, các cường quốc triệt để áp dụng chính sách cường quyền, buộc các nước nhỏ và tầm trung phải lựa chọn bên. Bên cạnh đó, các cuộc chiến tranh hiện đại ngày nay không còn giới hạn ở không gian địa lý truyền thống mà đã mở rộng sang không gian mạng, không gian vũ trụ và chiến tranh nhận thức. Sự phát triển của vũ khí công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), thiết bị không người lái (UAV/USV) và chiến tranh điện tử đã làm thay đổi sâu sắc phương thức tiến hành chiến tranh, đòi hỏi quân đội các nước phải có năng lực tự chủ về công nghệ kỹ thuật hiện đại, bảo đảm phát huy được vũ khí, trang bị trong mọi điều kiện.
Đối với Việt Nam, với vị trí chiến lược quan trọng, thách thức an ninh, quốc phòng hiện nay mang tính đa chiều, phức tạp, đòi hỏi năng lực tự chủ về chiến lược quốc phòng, an ninh, không thuần túy là khả năng phòng thủ biên giới, mà là khả năng tự quyết định đường lối quốc phòng, tự chủ về phương thức tác chiến, tự chủ về tiềm lực khoa học - công nghệ, hậu cần, kỹ thuật và chủ động giải quyết các mối quan hệ đối ngoại quân sự nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Nghị quyết HNTƯ 8 khóa XIII năm 2023 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” chỉ rõ: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực, thế giới” (Toàn văn Đề cương Nghị quyết 44-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới). Chủ trương này tiếp tục được Đại hội XIV của Đảng phát triển: “nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và khả năng huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu mọi tình huống quốc phòng, an ninh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 279). Trên nền tảng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và Những quan điểm nêu trên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có thể đúc kết một số kinh nghiệm đối với công tác xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay như sau:
Thứ nhất, giữ vững tự chủ về tư duy chiến lược và bản lĩnh chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng
Giá trị quan trọng nhất từ quan điểm tự lực, tự chủ trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là việc giữ vững tính độc lập, tự chủ trong tư duy chiến lược và bản lĩnh chính trị. Trong thời đại bùng nổ thông tin và chiến tranh nhận thức hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng không gian mạng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, tuyên truyền các luồng tư tưởng phản động nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có bản lĩnh chính trị vững vàng, rất dễ bị tác động, hoang mang trước các luồng thông tin độc hại, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong.
Do vậy, QĐND Việt Nam cần tiếp tục kiên định nguyên tắc: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nền tảng và tự chủ chiến lược trước hết là tự chủ về tư duy chính trị. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, tham mưu chiến lược của quân đội ngày nay phải nâng cao năng lực phân tích, dự báo chính xác các xu hướng biến động của tình hình quốc tế và khu vực; từ đó chủ động xây dựng các phương án, tác chiến, phòng thủ quốc gia một cách độc lập, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, đồng thời quyết liệt đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu can thiệp chính trị từ các thế lực bên ngoài. Mọi kế hoạch phòng thủ quốc gia, mọi phương án tác chiến, chiến lược phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn điều kiện tự nhiên, tiềm lực kinh tế và đặc điểm con người Việt Nam và tham khảo lý luận quân sự tiên tiến trên thế giới bảo đảm chủ động, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Thứ hai, tự chủ trong xây dựng tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật
Bài học từ cuộc xung đột Nga - Ukraine hay các cuộc chiến tranh công nghệ cao gần đây tại Trung Đông cho thấy một quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn viện trợ hoặc nhập khẩu vũ khí, khí tài từ bên ngoài sẽ gặp nhiều khó khăn và dễ rơi vào thế bị động khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy hoặc khi bị các nước lớn áp đặt các điều kiện chính trị đi kèm. Do đó, việc tự chủ về công nghiệp quốc phòng là một yêu cầu cấp bách, mang tính chiến lược để bảo đảm an ninh quốc gia.
Vận dụng tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Việt Nam cần tập trung mọi nguồn lực để phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại; trong đó cần đầu tư cho các viện nghiên cứu, các tập đoàn công nghệ quân sự trong nước (như Viettel, các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) để tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi đối với các loại vũ khí chiến lược, vũ khí thông minh phù hợp với nghệ thuật quân sự của Việt Nam. Đồng thời, từng bước xây dựng năng lực tự chủ trong bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp các khí tài hiện đại hiện có và chủ động xây dựng các chuỗi cung ứng vật tư kỹ thuật quốc phòng nội địa để bảo đảm khả năng chiến đấu trường kỳ, sẵn sàng ứng phó với các tình huống, môi trường an ninh có biến động hoặc chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.
Ba là, tự chủ trong xây dựng nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thời đại số
Tư tưởng “Người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt và vận dụng xuyên suốt trong xây dựng quân đội vẫn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Một quân đội có năng lực tự chủ chiến lược phải được xây dựng trên nền tảng đội ngũ con người tự chủ về trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy độc lập và năng lực hành động sáng tạo.
Trong bối cảnh hiện đại hóa quân đội ngày nay, việc đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá chiến lược. Các học viện, nhà trường trong quân đội cần tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo theo hướng tiếp cận trình độ khoa học quân sự tiên tiến của thế giới, đồng thời bám sát thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần tập trung đào tạo đội ngũ sĩ quan chỉ huy, chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia an ninh mạng có tư duy độc lập, có năng lực ngoại ngữ và làm chủ các tổ hợp vũ khí công nghệ cao; đồng thời cần chú trọng bồi dưỡng, phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ tư, vận dụng nghệ thuật “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong đối ngoại quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đối ngoại quốc phòng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần củng cố năng lực tự chủ chiến lược. Do vậy, trong một thế giới đan xen lợi ích phức tạp, Việt Nam cần tiếp tục kiên định cái “Bất biến”, đó là kiên định mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng “4 không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Đây chính là tấm lá chắn pháp lý và chính trị vững chắc giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc một cách chính nghĩa và tự chủ. Đồng thời, chúng ta phải ứng phó bằng cái “Vạn biến”, là linh hoạt, chủ động mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng song phương và đa phương với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước lớn và các nước đối tác chiến lược, trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh khu vực và quốc tế; các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc… Qua đó, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế quốc tế của QĐND Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi bảo vệ Tổ quốc vững chắc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp hòa bình.
3. Kết luận
Quan điểm tự chủ, tự lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời được kiểm nghiệm và khẳng định qua thực tiễn cách mạng Việt Nam. Qua những chặng đường đấu tranh của dân tộc, bài học về giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực trong mọi quyết sách, lấy nội lực con người và lòng dân làm gốc để làm chủ vận mệnh dân tộc vẫn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Kế thừa, phát huy quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, việc xây dựng năng lực tự chủ chiến lược quân sự - quốc phòng Việt Nam hiện nay là một tất yếu khách quan, là lời giải cho bài toán bảo vệ toàn vẹn và vững chắc chủ quyền trong một thế giới đầy biến động. Tự chủ chiến lược không có nghĩa là biệt lập, đóng cửa, mà là nâng cao sức mạnh nội sinh về chính trị, con người, khoa học - công nghệ và công nghiệp quốc phòng để chủ động hội nhập, biến ngoại lực thành chất xúc tác cho nội lực phát triển. Đó là sự tiếp nối xứng đáng tinh thần tự lực cánh sinh của thế hệ cha anh để xây dựng QĐND Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng. Viện Khoa học Quân sự (1974)
Bộ Quốc phòng - Tổng cục kỹ thuật. (2002). Lịch sử ngành Kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam: Tập I (1945-1954). Nxb. Quân đội nhân dân
Bộ Quốc phòng - Tổng cục kỹ thuật. (2023). Lịch sử ngành Kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam: Tập II (1954-1975). Nxb. Quân đội nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập: Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập: Tập 7. Nxb Chính trị quốc gia
Toàn văn Đề cương Nghị quyết 44-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/toan-van-de-cuong-nghi-quyet-44nqtw-ve-chien-luoc-bao-ve-to-quoc-trong-tinh-hinh-moi-138045422.html
Võ Nguyên Giáp. (1975). Từ nhân dân mà ra. (Hữu Mai ghi). Nxb. Quân đội nhân dân
Võ Nguyên Giáp. (1995). Chiến đấu trong vòng vây. Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb Thanh Niên
Võ Nguyên Giáp (2006). Tổng tập Hồi ký. Nxb Quân đội nhân dân.
https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/toan-van-de-cuong-nghi-quyet-44nqtw-ve-chien-luoc-bao-ve-to-quoc-trong-tinh-hinh-moi-138045422.html.