14/04/2026 - 05:56 PM - 360 lượt xem
Tóm tắt: Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng từ năm 1930 đến nay, dù bối cảnh trong nước và quốc tế có thuận lợi và khó khăn đến đâu, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng, dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó, Đại hội VII (1991) của Đảng là dấu mốc quan trọng. Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn và tình hình thế giới đang diễn biến rất phức tạp. Đại hội đã kiên định đường lối đổi mới của Đại hội VI, bổ sung lý luận xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục thúc đẩy đất nước tiến lên.
Từ khoá: Đảng Cộng sản Việt Nam; Đại hội VII; bản lĩnh chính trị; kiên định lý tưởng cách mạng
Ngày nhận: 13-2-2026; Ngày thẩm định đánh giá 5-3-2026; Ngày duyệt đăng: 11-4-2026
1. Đặt vấn đề
Từ cuối năm 1989, hệ thống các nước XHCN bắt đầu lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Đảng cộng sản và công nhân cùng với bộ máy nhà nước XHCN ở một số nước Đông Âu lần lượt tan rã. Ở Liên Xô, công cuộc cải tổ cũng lâm vào bế tắc, kinh tế - chính trị - xã hội của Liên Xô lún sâu vào cuộc khủng hoảng hết sức nặng nề. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch quốc tế liên tục tiến hành nhiều hành động chống phá CNXH, chủ nghĩa Mác-Lênin, các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới.
Bối cảnh này tác động trực tiếp đến Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Về kinh tế, Việt Nam mất dần thị trường xuất khẩu quan trọng, cũng như nguồn vốn đầu tư từ các nước trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV). Điều đó gây ra nhiều khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, quá trình sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở Liên Xô đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam. Trong xã hội xuất hiện những trường hợp dao động về lập trường tư tưởng, hoài nghi về CNXH. Lợi dụng tình hình đó, những phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước được sự tiếp tay của các thế lực phản động nước ngoài ra sức đẩy mạnh hoạt động chống phá sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng.
Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới của Việt Nam được mở ra từ Đại hội VI (1986) của Đảng đạt được nhiều kết quả trên nhiều mặt, tuy nhiên đất nước vẫn chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân vẫn vô cùng khó khăn. Trong bối cảnh đó, tháng 6-1991, đã diễn ra Đại hội VII của Đảng, trong đó Đảng đề ra những quan điểm chỉ đạo mới và có bước phát triển lý luận mang tính đột phá để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới tiến lên.
Về phương pháp nghiên cứu, bài viết kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp đồng đại, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh nhằm làm rõ bối cảnh, tình hình quốc tế và trong nước, bản lĩnh, trí tuệ, sự kiện định phát triển tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội VII.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2. 1. Đại hội VII kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra
Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Đi lên CNXH và CNCS là sự lựa chọn được Đảng khẳng định lần đầu tiên ở Hội nghị thành lập Đảng, năm 1930. Khi đó CNXH là mục tiêu hướng tới, bởi chúng ta phải tiến hành nhiệm vụ phản đế, phản phong để giành độc lập dân tộc trước, sau đó tiếp tục đưa cách mạng tiến lên CNXH và CNCS. Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi (1954), đi lên CNXH không còn là mục tiêu hướng tới mà đã trở thành mục tiêu trực tiếp ở miền Bắc, vì miền Bắc đã được giải phóng, hoàn thành nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (1975), cả nước quá độ lên CNXH. Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-1991), Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng về kinh tế - xã hội. Nhưng đến thời điểm diễn ra Đại hội VII năm 1991, các nước XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng, không ít cán bộ đảng viên và người dân đã băn khoăn, dao động. “Có người cho rằng chủ nghĩa xã hội là ảo tưởng, cứ theo con đường tư bản chủ nghĩa hoặc theo mô hình xã hội dân chủ ở Thuỵ Điển thì kinh tế và đời sống mới phát triển được” (Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, 1991, tr. 15). Tuy vậy, Đại hội VII của Đảng tiếp tục khẳng định Việt Nam kiên định con đường đi lên CNXH. Trước đó, thông qua các đợt góp ý xây dựng dự thảo văn kiện, hầu hết ý kiến đều nhất trí khẳng định toàn Đảng, toàn dân quyết theo đuổi đến cùng con đường CNXH mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Quyết tâm này không phải ý chí chủ quan mà dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính khoa học.
Một là, dù CNTB còn có tiềm năng phát triển nhưng bản chất của nó không thay đổi, dù có tự điều chỉnh nhưng vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Xã hội tư bản không giải quyết được triệt để những vấn đề kinh tế - xã hội. Mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội tư bản không được giải quyết.
Hai là, con đường xã hội dân chủ theo mô hình của các nước Bắc Âu cũng chỉ là một dạng của CNTB. Cho dù vấn đề xã hội được giải quyết khá hơn, mâu thuẫn bên trong dịu hơn, chính sách đối ngoại tiến bộ hơn, nhưng nền tảng kinh tế vẫn là TBCN, quyền lực vẫn nằm trong tay các công ty tư bản xuyên quốc gia.
Ba là, CNXH tuy đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách nhưng loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNCS mà CNXH là giai đoạn thấp, vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử. Đại hội VII khẳng định, Đảng đã lãnh đạo nhân dân trải qua bao hy sinh, mất mát “hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không có lý gì nay lại rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn. Chẳng lẽ bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đều trao vào tay những lực lượng đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, con đường chắc chắn không thể đảm bảo độc lập thật sự cho dân tộc, tự do hạnh phúc thật sự cho tuyệt đại đa số nhân dân. Cũng không có lý do gì để chúng ta phải “lùi lại” giai đoạn dân chủ nhân dân, làm lại từ đầu những cái mà lịch sử đã trải qua. Nếu có những việc chưa làm xong hoặc chưa làm tốt thì chúng ta tiếp tục giải quyết nốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr.14). Sự khủng hoảng của Liên Xô và sự sụp đổ chế độ ở các nước XHCN Đông Âu chỉ là sự thất bại của một mô hình XHCN không phù hợp, chứ không minh chứng cho việc CNXH không thể xây dựng được trong thực tế. Những kết quả bước đầu trong công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc từ năm 1978, hay 5 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới ở Việt Nam đã cho thấy nếu chọn lựa cách đi phù hợp sẽ từng bước xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích trên, Đảng khẳng định: “nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr.14).
Tiếp tục đường lối đổi mới được đề ra tại Đại hội VI
Đường lối chính trị tại Đại hội VI (1986) mới chỉ là nét phác thảo đầu tiên cho công cuộc đổi mới và trong bối cảnh CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu vẫn còn tồn tại với tư cách một hệ thống. Nhưng khi các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, tình hình khủng hoảng ở Liên Xô trở nên trầm trọng hơn, Đảng đã khẳng định “trong bất cứ tình huống nào chúng ta cũng dứt khoát kiên định đường lối đổi mới đã được Đại hội VI vạch ra…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 50, tr. 55). Qua thảo luận các bản dự thảo văn kiện Đại hội, hầu hết ý kiến đều nhất trí “công cuộc đổi mới đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng, chứng tỏ đường lối đổi mới do Đại hôi VI đề ra là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr. 36).
Về kinh tế, trên lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt về lương thực có bước tiến bộ. Khu vực thương mại có sự phát triển mạnh mẽ, số lượng cửa hàng và nhà hàng mở mới tăng lên nhanh chóng. Trên lĩnh vực ngoại thương đã đạt được tiến bộ về xuất khẩu, cải thiện đáng kể cán cân xuất, nhập khẩu. Những kết quả này có ý nghĩa lớn khi quan hệ kinh tế đối ngoại đang có những biến động đột ngột, viện trợ quốc tế giảm nhiều, nguồn vay nhập siêu không còn; khả năng nhập khẩu từ các thị trường truyền thống giảm mạnh; đã kiềm chế một bước đà lạm phát, giảm bớt phần nào đời sống khó khăn của nhân dân. Với những kết quả bước đầu đó, nền kinh tế Việt Nam “đã đứng vững và tiếp tục đi lên” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2007). T. 51, tr. 6). Đây là minh chứng rõ nét cho sự đúng đắn của đường lối đổi mới được đề ra tại Đại hội VI.
Đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới trong lĩnh vực kinh tế là sự sáng tạo của Đảng và nhân dân Việt Nam trong bối cảnh các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Đại hội VII khẳng định tiếp tục đường lối đổi mới thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. 2. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Năm 1954, miền Bắc được giải phóng, từng bước tiến hành xây dựng CNXH. Năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH. Nếu tính từ năm 1954 đến năm 1991, thì cuộc cách mạng XHCN ở Việt Nam đã được gần 40 năm. Đến Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ khi bắt đầu quyết định soạn thảo đến trước khi thông qua Cương lĩnh, có một số ý kiến thắc mắc có thể/có nên đề ra Cương lĩnh trong tình hình lúc đó không? Bởi ngay việc đưa ra quan niệm chính xác về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong khi mô hình CNXH trên thế giới đang khủng hoảng cả về lý luận và trong hiện thực. Một số ý kiến lại cho rằng không nên đề ra Cương lĩnh cho cả thời kỳ quá độ, mà chỉ nên giới hạn là Cương lĩnh hành động hoặc Tuyên bố chính trị có tính Cương lĩnh. Bộ Chính trị không nhất trí với các ý kiến này (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 50, tr. 178). Đại hội cho rằng: “Quả là đang có những hạn chế nhất định về lý luận và thực tiễn khi chúng ta bắt tay xây dựng Cương lĩnh (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr. 15) … “Nhưng Đảng ta không thể ngồi chờ cho có đủ mọi điều kiện, tất cả luận điểm đều sáng tỏ cả rồi mới xác định Cương lĩnh. Năm 1930, khi mới thành lập Đảng, lúc này rõ ràng chưa có đủ mọi điều kiện cần thiết, cơ sở thực tiễn và lý luận cũng chưa thật chín muồi, thế mà Đảng ta vẫn đề ra Cương lĩnh chính trị thứ nhất- Cương lĩnh vạch ra mục tiêu giải phóng dân tộc, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, đưa nước nhà tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 50, tr. 178. Đồng thời, Đại hội nhận định sẽ có khó khăn “nhưng đó không phải là trở ngại không thể vượt qua. CNXH đã có lịch sử hơn 70 năm, có thành công và có thất bại, đó là nguồn kinh nghiệm vô giá. Lại có cả kinh nghiệm đổi mới, cải tổ, cải cách những năm qua gợi mở cho thấy nhiều vấn đề quan trọng, từ mặt thành tựu và cả từ những vấp váp. Đó là những cơ sở thực tiễn để có thể rút những kết luận cần thiết dưới sự chỉ dẫn của phương pháp luận Mác-Lênin được vận dụng một cách sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr. 15).
Trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng kinh nghiệm của quốc tế và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đại hội VII của Đảng cho rằng Cương lĩnh chỉ trình bày những “quan điểm cơ bản mang tính nguyên tắc,… Không nên đưa vào Cương lĩnh những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ, hoặc đang còn nhiều tranh cãi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 50, tr. 178-179); “những gì mà nhận thức chúng ta đạt tới hôm nay sẽ còn được bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển sau này của thực tiễn và của tư duy lý luận. Song, ở thời điểm hiện nay đó là những quan niệm đúng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr. 15).
Với quyết tâm cao độ, quan điểm rõ ràng, cách làm việc dân chủ, lần đầu tiên trong suốt quá trình xây dựng CNXH, Đại hội VII của Đảng đã nhất trí thông qua và ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đã đúc kết 5 bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng; 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam xây dựng; 7 phương hướng cần nắm vững trong quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh xác định thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng và xác định mục tiêu của chặng đường đầu, mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ.
Về 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà Cương lĩnh đề ra, đó là: “Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 51, tr. 15-16).
Trước đổi mới, nhận thức về mô hình CNXH của Việt Nam còn rập khuôn theo mô hình của Liên Xô. Nhưng mô hình đó tồn tại nhiều khuyết tật, hạn chế, chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn, khủng hoảng trên khắp thế giới. Do đó, việc xác định những đặc trưng xã hội XHCN xuất phát từ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của thực tiễn Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Lần đầu tiên cụm từ “những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa” được đưa vào văn kiện của Đảng. Đây có thể coi là bước phát triển lý luận mang tính đột phá của Đảng, thể hiện quan điểm của Đảng về chế độ XHCN mà Đảng và nhân dân Việt Nam xây dựng. Những đặc trưng về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quan hệ đối nội, đối ngoại là đặc trưng bản chất, cũng là mục tiêu cơ bản của CNXH ở Việt Nam.
Có thể nói rằng, sự định hình và hoàn thiện các đặc trưng mô hình CNXH trong Cương lĩnh năm 1991 là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong bối cảnh thế giới và trong nước đầy biến động.
3. Kết luận
Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều thời điểm phải chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, hiểm nguy. Thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, thế giới xảy ra cơn địa chấn chính trị, trước tiên là khủng hoảng trầm trọng rồi dẫn đến sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô. Việt Nam trong thời điểm năm 1991, cũng đang ở tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội; tư tưởng, chính trị có sự dao động, hoài nghi về con đường đi lên CNXH của đất nước. Đại hội VII của Đảng diễn ra, với sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy đã kiên định đường lối đổi mới, tự chủ, sáng tạo, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua những biến động vô cùng to lớn. Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng khi kiên định con đường XHCN cho dù tình hình các nước XHCN đang có bước quanh co. Những đường lối, chủ trương được thông qua tại Đại hội VII “có ý nghĩa rất quyết định đến tiền đồ phát triển của dân tộc cả trong những năm trước mắt và lâu dài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, T. 50, tr. 598).
Văn kiện Đại hội VII là kết quả của sự trưởng thành về chính trị, mối quan tâm sâu sắc tới vận mệnh của đất nước, tiềm năng trí tuệ to lớn của cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân. Đây là bước quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển lý luận về con đường đi lên CNXH, dẫn dắt Việt Nam đạt được những mục tiêu lớn Đảng đặt ra trong thời gian sau đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương. (1991). Tài liệu hướng dẫn học tập văn kiện Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Tư tưởng-văn hoá. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 50. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 51. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội.