Tóm tắt: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, ta và địch giành nhau quyết liệt, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được thế trận ở hậu phương tại chỗ vững chắc, liên hoàn, bảo đảm tác chiến lâu dài, đáp ứng yêu cầu tiến hành các chiến dịch quy mô vừa và lớn. Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên (B3) đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc tổ chức căn cứ hậu phương, hệ thống giao liên - kho trạm, tuyến tiếp vận và lực lượng dân công hỏa tuyến trên địa bàn, góp phần to lớn vào thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Từ khoá: Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên; hậu phương tại chỗ; Tây Nguyên

Ngày 1-5-1964, Mặt trận Tây Nguyên (B3) được thành lập1, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng và lãnh đạo, chỉ đạo tác chiến trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên được Bộ Quốc phòng - Bộ Tổng Tư lệnh xác định: “Xây dựng Tây Nguyên thành chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân phát triển; tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch, thu hút và giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ, ngụy, tạo điều kiện cho đồng bằng và thành phố nổi dậy; phối hợp chặt chẽ với Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược. Đồng thời xây dựng hậu phương trực tiếp của chiến trường thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và Đông Dương; xây dựng, bảo vệ hành lang chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến lớn, phá thế chia cắt của địch, tiến lên chia cắt địch”2.
Trước yêu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là nhiệm vụ đánh tiêu diệt địch trên chiến trường Tây Nguyên, Đảng ủy Mặt trận  Tây Nguyên (Đảng uỷ Mặt trận) đã xác định nhiệm vụ xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho tác chiến lâu dài và tạo thế chủ động chiến lược; tạo điều kiện để lực lượng vũ trang Tây Nguyên duy trì sức mạnh chiến đấu, đánh bại quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trên địa bàn chiến lược này, tạo thời cơ tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận hậu phương của Đảng ủy Mặt trận tập trung trên những mặt sau:

1. Bảo vệ hậu phương an toàn, vững chắc; đẩy mạnh tăng gia, sản xuất góp phần bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên
Trên chiến trường Tây Nguyên, hậu phương không chỉ là nơi đứng chân của lực lượng vũ trang để xây dựng, huấn luyện và phát triển lực lượng, mà còn là nơi tiếp nhận nguồn chi viện, là địa bàn tích lũy và cung cấ đã khẳng định: “Hậu phương là chỗ dựa chiến lược của tiền tuyến; mở rộng hậu phương là thu hẹp hậu phương của địch”3, từ đó xác định rõ tính chất sống còn của việc củng cố và bảo vệ căn cứ hậu phương ngay từ những ngày đầu đối đầu với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.
Tây Nguyên là “địa bàn có ý nghĩa chiến lược”4, Mỹ và chính quyền Sài Gòn coi địa bàn này là “xương sống chiến lược” của miền Nam và xác định triệt phá hậu phương của ta là cách nhanh nhất để làm suy yếu lực lượng chủ lực. Để thực hiện mục tiêu đó, địch kết hợp giữa không quân, pháo binh, biệt kích và thám báo nhằm chia cắt hành lang chiến lược, đánh phá kho tàng, gây tổn thất vật chất và đẩy ta vào thế bị động về công tác bảo đảm.
Trước tình hình đó, Đảng ủy Mặt trận xác định: xây dựng căn cứ hậu phương phải luôn gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ căn cứ hậu phương. Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận năm 1967 nêu rõ: “Mỗi đơn vị trên chiến trường có hai nhiệm vụ: tiêu diệt quân cơ động Mỹ và bảo vệ căn cứ; không đơn vị nào được phó mặc nhiệm vụ bảo vệ cho lực lượng khác”5. Tư tưởng chỉ đạo này đã trở thành cơ sở để hình thành cơ chế tổ chức bảo vệ hậu phương thống nhất trên toàn chiến trường Tây Nguyên. Cơ chế bảo vệ căn cứ hậu phương được triển khai đồng bộ, trong đó mỗi ngành, mỗi lực lượng đều phải đảm đương hai chức năng song song: vừa thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, vừa trực tiếp tham gia bảo vệ hậu phương. Lực lượng hành lang vừa vận chuyển vừa bảo vệ thông tuyến; các binh trạm vừa cất chứa, bảo quản vật chất vừa chống đánh phá kho tàng; đơn vị sản xuất phải bảo vệ nương rẫy và hoa màu; lực lượng vận tải phải sẵn sàng đánh trả khi bị phục kích.
Nhằm phá thế đứng chân của ta, triệt nguồn tiếp tế và cô lập lực lượng vũ trang của ta trên địa bàn Tây Nguyên, từ 28-8 đến 6-10-1969, địch tiến hành hơn 300 cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập ấp, phá hoại nương rẫy, đánh phá kho tàng, sử dụng cả chất độc hóa học để hủy hoại sản xuất và gây nhiễm độc môi trường sống. Nhiều địa bàn chịu tổn thất nặng nề, có nơi tới 75% hoa màu bị phá hủy6. Chúng chủ yếu sử dụng biệt kích, thám báo “chỉ điểm” cho không quân đánh phá. Trong năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn địch thả hơn 230 toán biệt kích xuống hậu phương ta; 6 tháng đầu năm 1971, chúng thả gần 200 toán biệt kích, có toán lên tới quy mô đại đội, tạo áp lực rất lớn lên hệ thống phòng thủ hậu phương của ta7.
Trước tình hình đó, Đảng ủy Mặt trận phát động phong trào đánh biệt kích, thám báo với phương châm: “Một người cũng đánh, một tổ cũng đánh; đánh ngay khi chúng vừa đặt chân xuống đất”8. Phong trào được triển khai nhanh chóng từ bộ đội chủ lực, đến dân quân du kích, hình thành một thế trận chống thám báo rộng khắp, bám địa hình, bám dân và bám địch. Nhờ triển khai đồng bộ, từ năm 1966 đến năm 1971, lực lượng bảo vệ hậu phương đã đánh gần 350 trận, tiêu diệt nhiều toán biệt kích, thu 28 máy vô tuyến điện và bắn rơi 36 máy bay trực thăng của địch9.
Tuy nhiên, một số nơi, do ý thức cảnh giác chưa cao, việc tổ chức lực lượng bảo vệ còn lỏng lẻo và công tác giữ bí mật chưa tốt nên địch đã lợi dụng sơ hở để xâm nhập sâu vào căn cứ hậu phương. Tại khu vực VQ510, biệt kích, thám báo có thời điểm đã luồn sâu từ 30-40 km, đánh phá tuyến vận chuyển đường thủy, phục kích bắn hại cán bộ, chiến sĩ đi lẻ, đặt mìn phá hủy xe vận tải và thậm chí trà trộn vào đơn vị để gài bẫy gây thương vong. Ta tổn thất hơn 700 tấn vật chất hậu cần trong năm 197011.
Trước tình hình đó, tháng 7-1970, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Mặt trận Tây Nguyên: “Phải có kế hoạch bảo vệ căn cứ địa trong mọi tình huống; kiên quyết tiêu diệt biệt kích; đánh bại các cuộc càn quét bằng bộ binh và các đợt oanh tạc của không quân”12. Thực hiện chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đảng ủy Mặt trận chỉ thị cho các đơn vị: mở rộng và củng cố vòng ngoài căn cứ; tăng cường lực lượng trinh sát, cảnh giới; phân tán kho tàng sâu trong rừng để giảm thiệt hại khi bị oanh tạc; điều chỉnh thế trận phòng tránh, đánh trả theo hướng cơ động, linh hoạt; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ sở bí mật và giao liên nhân dân để bảo đảm thông tin cảnh giới ngay từ vòng xa. Những biện pháp này đã giúp nâng cao khả năng bảo vệ căn cứ.
Đi đôi với bảo vệ hậu phương, Đảng ủy Mặt trận còn chỉ đạo tổ chức sản xuất để tự lực bảo đảm một phần nhu cầu hậu cần. Theo đó, các đơn vị chủ lực vừa chiến đấu vừa sản xuất, nương rẫy của bộ đội phát triển theo thế bố trí chiến dịch, bám sát Đường 14, Đường 19 và các vùng ven thị xã, tạo thành những “vành đai sản xuất” hỗ trợ trực tiếp cho tác chiến. Nhiều đơn vị như Trung đoàn 95, Trung đoàn 25, Tiểu đoàn 631 đã hình thành hệ thống nương rẫy ngay sát sau lưng địch13, vừa sản xuất vừa đánh địch bảo vệ mùa màng, thế trận hậu phương của ta được mở rộng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Mặt trận và các cấp uỷ địa phương, công tác tăng gia sản xuất tại chỗ được đẩy mạnh. Trên địa bàn Mặt trận Tây Nguyên sản xuất được 8.240 tấn lúa, trồng hàng chục triệu gốc sắn, hàng trăm tấn đậu, lạc, vừng, hàng nghìn tấn rau xanh; chăn nuôi 21.820 con lợn và nhiều loại gia cầm, trâu bò phục vụ trực tiếp cho hậu cần chiến đấu14. Nhờ đó, bình quân thu hoạch/người hằng năm từ28 kg năm 1968 đã nâng lên 100kg năm 1970 và đạt 150kg năm 1971. Chiến trường Tây Nguyên đã tạo dựng được nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ rất quan trọng. Chỉ trong 10 năm, tổng sản lượng thu hoạch đạt 25.000 tấn, bằng 25% tổng nhu cầu của toàn chiến trường. Riêng thực phẩm, từ những năm 1970 trở đi, mức cung cấp đầu người đạt từ 5 đến 7 kg thịt và từ 200 đến 250kg rau xanh mỗi năm15.
Những kết quả này góp phần giúp chiến trường Tây Nguyên vượt qua các khó khăn do địch gây ra, duy trì sức chiến đấu và đánh bại các kế hoạch quân sự, chính trị của địch, giữ được thế chủ động chiến lược, liên tục tấn công địch, góp phần vào thắng lợi chung của cả dân tộc.

2. Xây dựng thế trận hậu phương tại chỗ vững mạnh, liên hoàn
Quán triệt quan điểm: “Hậu phương vững chắc là một nhân tố cơ bản của thắng lợi… hậu phương vững chắc nhất là ở trong lòng dân”16, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên xác định: “Muốn đánh lớn, phải có hậu phương mạnh; muốn đứng vững, phải có căn cứ vững”17. Trong giai đoạn 1964-1968, Đảng ủy  Mặt trận lãnh đạo xây dựng căn cứ hậu phương tại chỗ theo hướng từng bước hình thành hệ thống trạm giao liên, kho trạm, tuyến tiếp vận và mạng lưới dân công hỏa tuyến. Các địa bàn quan trọng như Pô Kô - Sa Thầy, Chư Mom Ray, khu vực tây Đường 14 trở thành các trung tâm tổ chức lực lượng và bố trí hậu cần. Việc bảo đảm hậu cần thời kỳ này chủ yếu dựa vào nhân dân địa phương, vận chuyển bằng phương tiện thô sơ (gùi thồ, xe đạp thồ, võng cáng) và tổ chức vận chuyển theo hình thức “trạm nổi”, “kho nổi”, ngụy trang sâu để đối phó với hoạt động đánh phá đường tiếp tế của địch bằng không quân và biệt kích. Để bảo đảm an toàn, Đảng ủy Mặt trận chủ trương xây dựng thế trận hậu cần “phân tán, ngụy trang, cơ động”, tổ chức vận chuyển quân trang, quân dụng từ tuyến sau ra tuyến trước theo phương châm “điểm - cụm - vòng”, bảo đảm yêu cầu linh hoạt, an toàn và bí mật tuyệt đối18.
Theo đó chủ trương đó, từ năm 1966 đến đầu năm 1967, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thành lập ba binh trạm. Binh trạm Nam được thành lập ở Tây Nam thị xã Plei Ku (5-1966); Binh trạm Trung được thành lập ở khu vực phía tây, giữa thị xã Kon Tum, Plei Ku và sông Sa Thầy, sát biên giới Việt Nam - Campuchia (6-1966)19. Binh trạm Bắc được thành lập ở Tây Bắc thị xã Kon Tum, khu vực ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Việc thành lập các Binh trạm Bắc, Trung, Nam bảo đảm sự tương ứng về không gian và phạm vi bảo đảm hậu cần với các cánh Bắc, Trung, Nam của chiến trường Tây Nguyên, qua đó hình thành hệ thống hậu phương tại chỗ phân hướng, liên hoàn, phục vụ trực tiếp cho tác chiến chiến dịch.
Các binh trạm có nhiệm vụ tiếp nhận vật chất, quản lý, bảo quản và cấp phát vật chất; đồng thời tổ chức thu dung, điều trị thương bệnh binh và bảo đảm các tuyến hành lang vận tải trên địa bàn phụ trách. Trong đó, Binh trạm Bắc đảm nhiệm tiếp nhận vật chất do Đoàn 559 giao, bảo đảm hậu cần cho các đơn vị phía Bắc Tây Nguyên và giữ vững hành lang chiến lược. Binh trạm Bắc tổ chức hệ thống kho thành ba tuyến, gồm kho dự trữ lâu dài, kho dự trữ sử dụng hằng năm và theo từng đợt hoạt động, cùng kho cấp phát lẻ. Nhằm mở rộng phạm vi bảo đảm hậu cần cho hướng Nam và Tây Nam chiến trường, tháng 5-1968, Binh trạm 4 được thành lập tại khu vực phía tây thị xã Buôn Ma Thuột, vùng núi Nậm Lia (tây huyện Đức Lập), sát biên giới Việt Nam - Campuchia.
Về cơ chế tiếp nhận vật chất, Binh trạm Bắc tiếp nhận hàng do Đoàn 559 bảo đảm; Binh trạm Trung và Binh trạm Nam tiếp nhận hàng do Đoàn VQ5 giao; Binh trạm 4 tiếp nhận vật chất do Đoàn 86/R bảo đảm. Về tổ chức kho dự trữ, Binh trạm Bắc xây dựng hệ thống kho ba tuyến; trong khi Binh trạm Trung và Binh trạm Nam tổ chức hai tuyến kho, gồm kho dự trữ sử dụng theo từng đợt hoạt động và kho cấp phát lẻ, còn kho dự trữ lâu dài do Đoàn VQ5 quản lý. Các binh trạm chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản và cấp phát vật chất cho các đơn vị trong phạm vi phụ trách.
Trên cơ sở tổ chức các cánh chiến dịch Bắc, Trung và Nam, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống căn cứ hậu phương tương ứng ở từng cánh. Mặc dù mang tên gọi khác nhau như binh trạm hậu cần, hậu cần khu vực hay cụm hậu cần, các căn cứ này đều có cấu trúc thống nhất, bao gồm hệ thống kho lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược, xăng dầu; các khu thu dung, điều trị thương binh; mạng đường hành lang vận tải; cùng lực lượng vận tải, thông tin và công binh được bố trí liên hoàn, đáp ứng yêu cầu tác chiến lâu dài trên chiến trường Tây Nguyên.
Đến năm 1968, trên chiến trường Tây Nguyên các căn cứ hậu phương cánh Bắc được bố trí tại Kon Tum, cánh Trung ở Gia Lai và cánh Nam ở Bắc Đắk Lắk, hình thành các thế trận hậu phương khu vực. Đồng thời, Đảng ủy Mặt trận và Bộ Tư lệnh Mặt trận chỉ đạo bố trí thêm các căn cứ chiến lược: VQ5, Đoàn 671, Bệnh viện 211 và các cơ sở kỹ thuật, cùng lực lượng vận tải thồ, vận tải cơ giới, các xưởng dược, xưởng may… tạo thành thế trận hậu phương tương đối hoàn chỉnh cho toàn chiến trường.
Từ sau năm 1968, nhằm đáp ứng yêu cầu quy mô tác chiến ngày càng lớn, Đảng ủy Mặt trận lãnh đạo xây dựng thế trận hậu phương có tính dự phòng, sẵn sàng đối phó biến động bất ngờ của chiến trường, với yêu cầu: “Hậu phương phải có dự trữ lớn, vận chuyển xa, hoạt động dài ngày; hình thành được hệ thống cơ sở từ tuyến sau đến tuyến trước”20; Đảng ủy Mặt trận đã chỉ đạo tổ chức căn cứ hậu phương thành ba tuyến: tuyến sau, tuyến giữa và tuyến trước. Tuyến sau (hậu phương chiến lược chiến trường) gồm các căn cứ lớn và lực lượng dự trữ chiến lược. Tuyến giữa (hậu cần khu vực) nối liền tuyến sau với tuyến trước, thường chồng lấn do địa hình rừng núi phức tạp. Tuyến trước chỉ hình thành khi triển khai chiến dịch, gồm kho tàng, trạm điều trị, lực lượng công binh, vận tải, thông tin phục vụ trực tiếp tác chiến. Khi triển khai chiến dịch, ba tuyến này phải đồng thời hoạt động nhịp nhàng, bảo đảm cho các lực lượng hợp thành tiến công liên tục và bền vững. Một thế trận hậu phương chiến dịch hoàn chỉnh phải bao gồm cả ba tuyến, với chiều sâu hàng trăm km, tạo nên khả năng bảo đảm liên tục cho các đơn vị cơ động tác chiến hiệu quả.
Quá trình xây dựng căn cứ hậu cần phụ thuộc vào kế hoạch tác chiến. Khi kế hoạch tác chiến thay đổi, hậu phương lập tức điều chỉnh theo. Năm 1972, Đảng ủy Mặt trận chủ động điều chỉnh bố trí thế trận ở hậu phương theo hướng rút gọn, áp sát tiền tuyến: “Thu ngắn hậu phương, đưa kho, trạm, điều trị tiến gần trận địa, bảo đảm chi viện nhanh và bất ngờ”21. Từ sau thắng lợi Xuân - Hè năm 1972, hệ thống hậu cần tại chỗ của Mặt trận Tây Nguyên đã phát triển lên một bước mới về tổ chức và quy mô. Mạng lưới hậu cần chiến dịch phân thành ba cánh Bắc (Kon Tum - Đắk Tô), cánh Trung (Pleiku - Chư Sê - Chư Pa) và cánh Nam (Buôn Ma Thuột). Mỗi khu vực đều được tổ chức thành hệ thống hậu cần hoàn chỉnh gồm các cơ quan: tham mưu hậu cần, kho tàng, tuyến vận chuyển, trạm phẫu tiền phương, trạm thu mua tiếp tế, trạm sửa chữa kỹ thuật và lực lượng vận tải chuyên trách. Trên cơ sở đó, các đơn vị chủ lực có thể độc lập tác chiến dài ngày mà vẫn được bảo đảm tương đối đầy đủ về hậu cần. Qua đó, hệ thống hậu cần tại chỗ ngày càng phát huy tính chủ động trong việc tổ chức nguồn cung ứng. Lực lượng hậu cần Mặt trận Tây Nguyên đã tiếp nhận 34.244 tấn hàng hóa22, vật chất kỹ thuật cùng hàng nghìn tấn xăng dầu do Trung ương chi viện và thu mua từ nhiều nguồn khác nhau.
Về công tác dự trữ vật chất hậu cần, đến năm 1975, lực lượng hậu cần Mặt trận đã tích lũy được 10.603 tấn hàng hóa, trong đó có 2.824 tấn đạn dược, 1.421 tấn xăng dầu và 6.289 tấn hàng quân nhu23. Sự chuẩn bị chu đáo và toàn diện về hậu cần đã tạo cơ sở vững chắc cho việc tổ chức tác chiến liên tục, cơ động đối với những chiến dịch lớn.
Năm 1974, khối chủ lực của Tây Nguyên hội tụ đủ yếu tố cần thiết để tổ chức thành binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược, Đảng ủy Mặt trận tiếp tục điều chỉnh bố trí thế trận ở hậu phương cho phù hợp quy mô tác chiến lớn: “Hậu phương phải tách thành hai cụm để phục vụ hai hướng chiến lược cánh Đông và cánh Tây”24. Việc hình thành cụm hậu cần cánh Đông và cánh Tây là bước tổ chức có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp phục vụ Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 với trận mở màn đánh Buôn Ma Thuột. Nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến chiến dịch, lực lượng hậu cần Mặt trận được điều chỉnh lại theo hướng tinh gọn, hình thành lực lượng hậu cần tại chỗ, đồng thời rút một bộ phận lực lượng để tổ chức các đơn vị hậu cần cơ động, gồm 2 tiểu đoàn kho, 2 tiểu đoàn vận tải bộ, 2 bệnh viện, 4 đội điều trị quân y, 2 trạm sửa chữa xe, 2 trạm sửa chữa vũ khí, 1 tiểu đoàn công binh và 1 đại đội thông tin25… Để tăng cường khả năng bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quy mô lớn, Tổng cục Hậu cần bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên 1 tiểu đoàn vận tải ô tô, 1 đội điều trị, 1 trạm sửa chữa xe xích và 1 trạm sửa chữa xe ô tô26. Những nỗ lực vượt bậc của Ngành Hậu cần trong hai năm 1973-1974 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng tiềm lực hậu cần tại chỗ, tạo thế và lực vững chắc cho Mặt trận Tây Nguyên, sẵn sàng bước vào các chiến dịch quy mô lớn trong mùa Xuân năm 1975.

3. Xây dựng hệ thống đường cơ động, góp phần hình thành thế trận hậu phương vững chắc trên chiến trường Tây Nguyên
Ngay sau khi thành lập, Đảng ủy Mặt trận đã xác định xây dựng mạng đường cơ động liên hoàn trên địa bàn Tây Nguyên là một nhiệm vụ chiến lược, bảo đảm khả năng đánh lớn và xây dựng hậu phương tại chỗ trên địa bàn rừng núi. Tháng 7-1964, Đảng ủy Mặt trận ra Nghị quyết lãnh đạo xây dựng căn cứ hậu phương, trong đó xác định: “Xây dựng căn cứ, mở đường là khâu mở đầu để đánh lớn, đánh mạnh; không có đường thì không có cơ động, không có bất ngờ chiến dịch”27. Đảng ủy Mặt trận nhấn mạnh: “Cơ động nhanh là điều kiện để đánh bất ngờ và giữ thế chủ động lâu dài”28. Chủ trương này của Đảng ủy Mặt trận cho thấy, đây là cơ sở để toàn chiến trường chuyển từ “đi bộ là chính” chủ yếu hành quân bằng đường mòn, phù hợp với yêu cầu bí mật, tránh sự phát hiện của biệt kích và thám báo sang “từng bước cơ giới hóa bảo đảm cơ động”. Thực hiện chủ trương này, cùng với quá trình mở rộng địa bàn tác chiến, hệ thống đường cơ giới cũng được mở mới, vượt qua các sườn núi, suối cạn, tiến sâu vào vùng sau lưng địch. Đến cuối năm 1967, lần đầu tiên chiến trường Tây Nguyên được tăng cường trung đoàn pháo cơ giới và xe tăng. Để đáp ứng tác chiến của binh khí kỹ thuật, Đảng ủy Mặt trận ra nghị quyết chuyên đề “Mở đường cơ giới phải đi trước một bước để đưa pháo và tăng xuống các hướng quyết định”29. Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy, các đơn vị bảo đảm khẩn trương mở đường cơ giới từ khu vực ngã ba biên giới xuống phía Nam Tây Nguyên, tạo điều kiện cho các đơn vị pháo binh cơ động từ Bắc Kon Tum vào Gia Lai và Đắk Lắk, đặt nền móng cho các chiến dịch quy mô lớn sau này.
Chuẩn bị cho đợt tác chiến Chiến dịch Xuân - Hè 1972, công tác mở đường trở thành nhiệm vụ quan trọng. Chỉ trong hơn hai tháng, gần 500km đường cơ giới được hoàn thành ở Tây Bắc Kon Tum. Đây là khối lượng công việc lớn, diễn ra trong điều kiện không quân địch đánh phá ác liệt. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng công binh, dân công hỏa tuyến và lực lượng hậu cần, toàn bộ hệ thống đường đã đáp ứng yêu cầu triển khai pháo tầm xa, pháo cao xạ và xe tăng. Trong đó, đường cơ giới từ trục Bắc-Nam (đường mòn Hồ Chí Minh) được mở thông sang phía Đông, kéo dài đến sát bờ Tây sông Pô Cô, tạo điều kiện cơ động lực lượng áp sát khu phòng thủ của địch. Đồng thời, Đường số 4 từ Tà Xẻng tới bắc Plei Kần, chạy song song với Đường 18 cũng được hoàn thành, có đoạn chỉ cách khu vực địch kiểm soát 3-4km. Các tuyến Đường 60 từ Binh trạm Bắc đi Đắk Sút và Đường 70 ở phía Nam được mở thông; nhiều đường thồ hướng lên phía Bắc và sang phía Đông Đường 14 được mở rộng và làm mới30. Hệ thống đường chiến dịch được củng cố toàn diện, tạo thế cơ động linh hoạt và giữ vai trò quyết định đối với việc bảo đảm vận chuyển lực lượng, vũ khí và vật chất nhanh chóng vào các hướng của chiến dịch.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (1-1973), trước yêu cầu chia cắt cụm phòng ngự của địch trên trục Đường 19, phá vỡ sự liên kết giữa Tây Nguyên với ven biển miền Trung, Đảng ủy Mặt trận chủ trương mở Đường 220 dài gần 100 km ở phía Đông thị xã Kon Tum, nhằm phục vụ cho tác chiến đạt mục đích “kiểm soát Đường 19, chia cắt chiến lược cụm phòng ngự Pleiku - Quy Nhơn của địch”31. Ngày 3-3-1973, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận ban hành Nghị quyết số 101/ĐU về quản lý, sử dụng lương thực, thực phẩm và tổ chức vận chuyển trong năm 1973, nhấn mạnh: “Tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ làm đường và bảo đảm vận chuyển trong cả mùa khô lẫn mùa mưa, đồng thời quản lý chặt chẽ, tiết kiệm tối đa việc sử dụng xăng xe”32.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết, trong hai năm 1973-1974, toàn Mặt trận đã mở mới 900km đường ô tô, nâng tổng chiều dài đường cơ giới ở vùng giải phóng lên 1.332km; đồng thời khai thông 110km đường sông, mở rộng khả năng vận chuyển bằng phương tiện thủy. Công tác bảo đảm lương thực được đẩy mạnh: sản xuất 8.240 tấn lúa, hàng chục triệu gốc sắn, hàng trăm tấn đậu, lạc, vừng; cung cấp hàng nghìn tấn rau xanh; chăn nuôi 21.820 con lợn cùng nhiều gia cầm, trâu bò, tạo nguồn dự trữ hậu cần tại chỗ33. Những nỗ lực vượt bậc của công tác hậu cần tạo thế và lực mới cho Mặt trận Tây Nguyên, bảo đảm đầy đủ vật chất, phương tiện và đường cơ động, từ đó góp phần quyết định để lực lượng chủ lực bước vào Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 với ưu thế vượt trội.
Trong giai đoạn 1964-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, mạng đường cơ động được xây dựng theo hướng liên hoàn giữa chiến lược, chiến dịch, chiến thuật; luôn sẵn sàng phát triển ra phía trước, gắn với các tuyến đường trong vùng địch kiểm soát; bảo đảm cho lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ đều được chi viện nhanh chóng trong mọi tình huống. Mạng đường cơ động trở thành “mạch máu” của chiến trường, quyết định sự thành bại của những trận đánh lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong suốt quá trình lãnh đạo quân và dân Tây Nguyên tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện, kịp thời và sáng tạo trong xây dựng thế trận hậu phương tại chỗ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân trên chiến trường rừng núi. Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ủy Mặt trận đã xác định đúng vị trí, vai trò của hậu phương; đề ra các chủ trương phù hợp; chỉ đạo xây dựng hệ thống đường cơ động liên hoàn; tổ chức mạng lưới hậu cần kỹ thuật linh hoạt; phát triển thế trận sản xuất tự lực; đồng thời gắn chặt nhiệm vụ xây dựng hậu phương với bảo vệ hậu phương an toàn, vững chắc.
Những quyết sách đúng đắn và cơ chế lãnh đạo phù hợp của Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã tạo nên một hậu phương tại chỗ có khả năng tự bảo đảm, tự thích nghi và tự phục hồi trong điều kiện địch đánh phá ác liệt. Nhờ đó, Tây Nguyên giữ được thế chủ động chiến lược, duy trì sức chiến đấu lâu dài, bảo đảm vật chất kịp thời cho các chiến dịch và tạo đà quan trọng để lực lượng chủ lực ta thực hiện thắng lợi các đòn tiến công quyết định, làm nên thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975. Kinh nghiệm về xây dựng thế trận hậu phương tại chỗ trên chiến trường Tây Nguyên là minh chứng sinh động về sức mạnh của đường lối chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những kinh nghiệm đó không chỉ có giá trị lịch sử mà còn tiếp tục soi sáng nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và khu vực phòng thủ tỉnh, khu vực vững mạnh hiện nay, đặc biệt là yêu cầu xây dựng đi đôi với bảo vệ; kết hợp kinh tế với quốc phòng; xây dựng thế trận lòng dân; tổ chức thế trận phân tán, dự phòng, cơ động linh hoạt và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.
 


Ngày nhận bài: 27-1-2026 ; Ngày đánh giá, thẩm định: 30-1-2026 ; Ngày duyệt đăng: 30-1-2026
1. Phạm vi chủ yếu của Mặt trận Tây Nguyên gồm 3 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk
2. Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên Quân đoàn 3 (1964-2005), Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, tr. 64.
3. Nghị quyết Đảng ủy B3 năm 1965, Phông Cục Chính trị Quân đoàn 3, T.10, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng
4. Thomas P. McKenna - Kontum: The Battle to Save South Vietnam, University Press of Kentucky, 2011, p.15
5 Nghị quyết Đảng ủy B3 năm 1967, Phông Cục Chính trị Quân đoàn 3, t.9, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng
6, 7, 11, 13. 17. Bản tổng kết chiến trường Tây Nguyên trong chiến tranh giải phóng chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Phông Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
8. Chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy B3 (1969-1973), Phông Bộ Tham mưu Quân đoàn 3, T.39, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
9, 12, 18. Lịch diễn biến chiến tranh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chiến trường Tây Nguyên (1954 - 1975), Phông Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, T.179. Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
10. Tháng 12-1964, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thành lập Cửa khẩu VQ5 (Tân Lập) trên cơ sở lực lượng vận tải của Sư đoàn 325A, 2 tiểu đoàn vận tải thuộc Đoàn 559 và cán bộ Tổng cục Hậu cần. Đây là đầu mối tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc qua Campuchia, đồng thời tổ chức thêm nguồn cung tại chỗ để phục vụ chiến trường. Cửa khẩu VQ5 phụ trách tổ chức 5 phân cơ sở hậu cần đặt tại Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Gia Lai - Tây Quảng Ngãi, có nhiệm vụ phối hợp với các địa phương chuẩn bị nhân lực, vật lực và tài chính, bảo đảm hoạt động cho các trung đoàn chủ lực. Xem trong: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Cục Hậu cần, Lịch sử hậu cần Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2004), Nxb QĐND, Hà Nội, 2006, tr.13, 14.
14. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Cục Hậu cần: Lịch sử Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2004), Nxb QĐND, Hà Nội, 2006, tr.63, 64.
15. Mặt trận Tây Nguyên, Bản Tổng kết chiến trường Tây Nguyên trong chiến tranh giải phóng chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tr.220. Tài liệu lưu tại Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam.
16. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Nxb QĐND, Hà Nội, 2018, tr.533.
18. Lịch diễn biến chiến tranh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chiến trường Tây Nguyên (1954 - 1975), Phông Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, t.175. Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
19. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Cục Kỹ thuật: Lịch sử Ngành kỹ thuật Binh đoàn Tây Nguyên (1964-2015), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2016, tr.34, 35.
20. Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy B3 năm 1969, Phông Cục Chính trị Quân đoàn 3, t.9, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
21. Nghị quyết Đảng ủy B3 năm 1972, Phông Cục Chính trị Quân đoàn 3, T.5, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
22, 25, 26. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Cục Hậu cần: Lịch sử Hậu cần Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2004), Nxb QĐND, Hà Nội, 2006, tr. 63, 66, 66
23. Lịch sử bộ đội chủ lực mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005), Nxb. QĐND, H, 2005, tr.413.
24. Nghị quyết Đang ủy B3 năm 1974, Phông Cục Chính trị Quân đoàn 3, t.15, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
27. Bản tổng kết chiến trường Tây Nguyên trong chiến tranh giải phóng chống Mỹ, cứu nước, Phông Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, t.4, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
28, 29. Nghị quyết của Đảng ủy B3 1965-1967, Phông: Cục Chính trị Quân đoàn 3, t.10, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
30, 32, 33. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2004), Nxb QĐND, H, 2006, tr.54, 61-62, 64
31. Chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy B3 (1973-1975), Phông Bộ Tham mưu Quân đoàn 3, T. 29, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.