14/02/2026 - 03:45 PM - 326 lượt xem
Tóm tắt: Giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ tỉnh An Giang đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ban hành các nghị quyết, chương trình hành động,… phát triển kinh tế nông nghiệp phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. Qua đó, kinh tế nông nghiệp của tỉnh An Giang đã có bước chuyển quan trọng, từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô, sản lượng sang mô hình phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh được nâng cao.
Từ khóa: Đảng bộ tỉnh An Giang; kinh tế nông nghiệp; 2010-2020
1. Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh An Giang
Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng, song cũng bộc lộ không ít hạn chế: tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng; giá trị gia tăng thấp; sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; liên kết chuỗi yếu; thu nhập của nông dân còn bấp bênh. Trước thực trạng đó, Đảng chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng bền vững.
Việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 đã tạo khuôn khổ tổng thể để phát triển nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn và nâng cao đời sống nông dân. Đồng thời, “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” được Thủ tướng phê duyệt năm 2013 đã xác lập định hướng chiến lược cho toàn ngành trong giai đoạn mới.
An Giang là tỉnh đầu tiên nơi sông Cửu Long chảy vào Việt Nam, có diện tích đất nông nghiệp lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, với các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, cá tra, rau màu và cây ăn trái. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 2010 - 2020, nông nghiệp An Giang đứng trước nhiều thách thức: biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ nông sản thiếu ổn định; sản xuất còn phân tán, giá trị gia tăng thấp. Mặt khác, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu khách quan đối với Đảng bộ tỉnh An Giang phải đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo phát triển nông nghiệp, chuyển mạnh từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 nêu rõ: “Coi trọng kinh tế biên mậu, xuất khẩu, du lịch; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn làm nền tảng phát triển kinh tế - xã hội bền vững, phát triển mạnh dịch vụ và công nghiệp phục vụ nông nghiệp; phát triển công nghiệp phục vụ tiêu dùng, du lịch và xuất khẩu”1. Đại hội đề ra mục tiêu đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản tăng 3,2%; tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 25,24% trong cơ cấu kinh tế toàn tỉnh; tỷ lệ che phủ rừng đạt 22,,4%2. Đại hội xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, toàn diện và công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng, hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp phù hợp với thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, tập trung ổn định diện tích sản xuất lúa ở các huyện, phát triển các vùng nuôi cá tra, rau màu ở các huyện cù lao, chăn nuôi gia súc và kinh tế rừng ở vùng Bảy Núi; đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp;…
Ngày 27-6-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU “Về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Nghị quyết xác định: “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”3. Mục tiêu đến năm 2020, có ít nhất 10% diện tích đất canh tác nông nghiệp của tỉnh được sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao; giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất trên 1 ha diện tích đất canh tác cùng nhóm sản phẩm trong một năm có ứng dụng công nghệ cao đạt ít nhất từ 30% trở lên so với thời điểm năm 20124.
Thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh, ngày 18-8-2011, UBND tỉnh An Giang ra Quyết định số 1404-QĐ/UBND, ban hành “Chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn giai đoạn 2011-2015”, với mục tiêu đến năm 2015, diện tích gieo trồng lúa đạt 620.000 ha, sản lượng 3,89 triệu tấn. Diện tích trồng rau màu các loại đạt 40.000 ha; sản lượng trên 972.000 tấn. Đàn trâu bò đạt 87.200 con, heo 200.000 con, gia cầm 5 triệu con, sản lượng thịt hơi các loại 38.000 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 3.600 ha, sản lượng 538.000 tấn. Đối với lâm nghiệp, chương trình đặt mục tiêu mở rộng trồng cây phân tán nhằm nâng độ che phủ rừng lên 22,4%5.
Tiếp đó, ngày 25-8-2014, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1350-QĐ/UBND phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 1351-QĐ/UBND phê duyệt “Quy hoạch chi tiết phát triển các vùng sản xuất chuyên canh hàng hóa (lúa, rau màu, thủy sản) tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”,… Cũng trong năm 2014, UBND tỉnh ban hành 8 quyết định khác có liên quan đến vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đối với các sản phẩm chủ lực: lúa, nấm ăn, nấm dược liệu, chăn nuôi, thủy sản, rau màu, hoa kiểng, cây ăn trái, dược liệu.
Nhằm đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy các mô hình liên kết trong sản xuất, UBND tỉnh ban hành các chính sách như: Chương trình hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 538/QĐ-UBND, ngày 31-3-2011); Quy định một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh An Giang (Quyết định số 2048/QĐ-UBND, ngày 19-11-2012); Quy định chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang (Quyết định số 37/2014/QĐ-UBND, ngày 10-10-2014);…
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh mới, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020, nhấn mạnh: “An Giang là tỉnh nông nghiệp và có thế mạnh về thương mại, do đó, nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế được xác định theo thứ tự ưu tiên: nông nghiệp, thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng. Trong đó, nông nghiệp và du lịch là hai mũi nhọn, phát triển theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh và xây dựng nền kinh tế xanh tạo nền tảng để phát triển thương mại - dịch vụ, công nghiệp chế biến và xây dựng”6. Đại hội xác định: “Đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo phương châm lấy tổ chức lại sản xuất làm cơ sở, lấy ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ làm khâu đột phá, lấy thị trường làm tiền đề và mục tiêu”7.
Ngày 11-11-2016, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Chương trình hành động số 08-CTr/TU “Về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025”. Mục tiêu đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực nông, lâm, thủy sản đạt ít nhất là 2,71%; giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt khoảng 192 triệu đồng/ha; thu nhập bình quân đầu người nông thôn đến năm 2020 đạt từ 45 triệu đồng/người trở lên8. Để đạt được mục tiêu này, Tỉnh ủy xác định 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung triển khai thực hiện: phát triển thị trường, thu hút đầu tư, phát triển khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất. Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Cán sự đảng UBND tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể, các sở, ngành và UBND cấp huyện cụ thể hóa thành nhiệm vụ hằng năm gắn với các giải pháp thực hiện phù hợp với từng địa phương.
Ngày 18-7-2016, Tỉnh ủy An Giang ban hành: Chương trình hành động 04-CTr/TU, “Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”; Chương trình hành động số 12-CTr/TU, ngày 10-02-2017 “Về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020”. Chương trình hành động số 12-CTr/TU nhấn mạnh: “Cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và phát triển nguồn nhân lực phục vụ lĩnh vực mũi nhọn”9.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 2-6-2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 929/QĐ-UBND, phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh An Giang đến năm 2020”, đề ra mục tiêu: “chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành thủy sản, phát triển chăn nuôi; giảm tỷ trọng kinh tế ngành trồng trọt, ổn định lâm nghiệp. Phát triển các ngành nghề dịch vụ nông thôn”10. Nội dung tái cơ cấu gồm nhóm ngành hàng chủ lực: lúa gạo, rau màu, cá tra và nhóm ngành hàng tiềm năng: chăn nuôi bò, nấm ăn, nấm dược liệu. Ngày 5-4-2017, UBND tỉnh ra Quyết định số 1066/QĐ-UBND ban hành “Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025”. Mục tiêu chung xác định: “Từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; giữ vững mức tăng trưởng nông nghiệp hợp lý qua từng năm giai đoạn 2017-2020, tạo đà tăng trưởng cao cho giai đoạn tiếp theo”11.
Để xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với ứng dụng công nghệ cao, ngày 28-7-2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2281/QĐ-UBND, phê duyệt “Quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra trên địa bàn tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”, nhằm mục tiêu phát triển ngành cá tra bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thị trường xuất khẩu, định hình chiến lược sản xuất, chế biến, tiêu thụ, liên kết vùng và bảo vệ môi trường cho đến năm 2030; Quyết định số 2607/QĐ-UBND, ngày 30-8-2017, phê duyệt “Dự án phát triển chăn nuôi gia cầm ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm vệ sinh môi trường tỉnh An Giang giai đoạn 2017-2020” với mục tiêu phát triển chăn nuôi gia cầm an toàn, hiện đại, gắn với bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng VietGAP và sức khỏe cộng đồng, phù hợp với bối cảnh nông nghiệp sạch, công nghệ cao của tỉnh; Quyết định số 3115/QĐ-UBND, ngày 20-10-2017, phê duyệt “Kế hoạch phát triển thủy sản bền vững tỉnh An Giang giai đoạn từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2025”, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng; mở rộng thị trường; bảo vệ môi trường; phát triển nghề cá có trách nhiệm; Quyết định số 3878/QĐ-UBND, ngày 28-12-2017, phê duyệt “Kế hoạch phát triển ngành hàng lúa gạo bền vững tỉnh An Giang từ nay đến năm 2020”, nhằm tổ chức lại sản xuất và phát triển sản xuất theo hướng nâng cao giá trị hạt lúa trên một đơn vị diện tích đất sản xuất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị trường xuất khẩu…
Nhằm tiếp tục đổi mới tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức liên kết theo chuỗi giá trị, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, ngày 22-8-2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2532/QĐ-UBND Phê duyệt chương trình khoa học và công nghệ “Định hướng nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang theo hướng là một trong những trung tâm về nông nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế và du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 17/2019/QĐ-UBND, ngày 20-6-2019, ban hành “Định mức hỗ trợ từng loại dự án, hạng mục, công trình đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang”; Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND, ngày 22-7-2019, ban hành “Quy định thực hiện chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang”…

Nông trại Phan Nam - mô hình nông nghiệp kết hợp du lịch ở tỉnh An Giang
2. Một số kết quả
Những chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh An Giang trong những năm 2010-2020 đã tạo động lực phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh An Giang, với nhiều kết quả quan trọng.
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng bước chuyển dịch tích cực, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với các sản phẩm chủ lực
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 10 năm (2010-2020) đạt 2,4%/năm, trong đó, giai đoạn 2015-2020 đạt 3,1%/năm. Quy mô giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng từ 36.548 tỷ đồng năm 2010 lên 46.303 tỷ đồng năm 202012, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Cơ cấu nội bộ ngành, tăng dần tỷ trọng thủy sản, từ 17,6% năm 2010 lên 22,3% năm 2020; tỷ trọng thuần nông nghiệp giảm dần, điều đó phản ánh xu thế hiệu quả kinh tế và giá trị gia tăng được nâng cao13. Giá trị sản xuất bình quân/ha tăng từ 85,2 triệu đồng/ha (năm 2010) lên 192 triệu đồng/ha (năm 2020)14.
Tỉnh duy trì diện tích lúa 637.228 ha, sản lượng trên 4 triệu tấn, đứng thứ hai cả nước về sản lượng và diện tích lúa15. Ngoài ra, tỉnh đã chủ động chuyển đổi 22.554 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái và rau màu, góp phần đa dạng hóa sản phẩm và tăng thu nhập. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 3.310 ha với sản lượng 496.000 tấn, trong đó 89% diện tích có liên kết doanh nghiệp; cá tra tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 13.972 tỷ đồng16.
Các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn được hình thành theo lợi thế từng địa phương, tạo nền tảng cho sản xuất hàng hóa, truy xuất nguồn gốc và thu hút đầu tư. Diện tích trồng lúa trải rộng khắp tại 11 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu tại các huyện Tri Tôn (18,52%), Thoại Sơn (17,93%), Châu Phú (14,10%) và Châu Thành (12,47%)17. Vùng chuyên canh rau màu tập trung sản xuất tại hai huyện Chợ Mới và Châu Phú, chiếm khoảng 70% tổng diện tích và sản lượng rau màu cả tỉnh. Vùng cây ăn trái tập trung tại các địa phương Tri Tôn, Chợ Mới, Tịnh Biên và An Phú; vùng chuyên canh cây dược liệu phát triển chủ yếu ở hai địa phương miền núi là Tri Tôn và Tịnh Biên. Đối với nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là cá tra, với vùng nuôi tập trung tại các địa phương Châu Phú (36% diện tích), Long Xuyên (22%), Thoại Sơn (11%) và Phú Tân (9%)18.
Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh được đầu tư đồng bộ, góp phần nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai
Nhiều dự án trọng điểm phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới được đầu tư, tiêu biểu như: Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Châu Thành (200 ha); các cơ sở giết mổ tập trung tại Châu Đốc, Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn (công suất 200 gia súc và 2.000 gia cầm/ngày đêm); trang trại chăn nuôi công nghệ cao tại Tri Tôn, Tịnh Biên; nhà máy chế biến nông sản (công suất 300 tấn/ngày) liên kết với cánh đồng lớn 5.000 ha tại Châu Phú, Thoại Sơn, Phú Tân. Đến năm 2020, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 54 dự án với tổng số vốn 4.745 tỷ đồng, cùng 5 dự án được hỗ trợ với tổng số vốn 567 tỷ đồng19.
Tỉnh tập trung nâng cấp và xây dựng mới hệ thống thủy lợi, đê bao, giao thông nhằm thích ứng biến đổi khí hậu và phục vụ đề án tái cơ cấu nông nghiệp. Các hạng mục như: hệ thống thủy lợi vùng Bảy Núi (hồ chứa nước, cống, đường nước nội đồng); dự án chống chịu khí hậu tại An Phú (692 tỷ đồng, vốn của Ngân hàng Thế giới), gồm 50 50 km đê bao, 15 cống thoát nước, kết hợp giao thông nội đồng;… Hoàn thiện hệ thống kiểm soát lũ dài 5.789 km, bảo vệ 255.863 ha đất sản xuất20; đầu tư 612 trạm bơm điện với tổng công suất 5,187 triệu m³/giờ21; xây dựng 16 hồ chứa với dung tích 4,78 triệu m³, góp phần chủ động nước tưới, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp và chống hạn, xâm nhập mặn. Nâng cấp và xây dựng 2.733 km đường giao thông cùng 781 cây cầu22, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông, cơ giới hóa và tiêu thụ nông sản.
Cơ giới hóa được đẩy mạnh với 6.165 máy cày/xới, 2.250 máy gặt đập liên hợp, 1.069 lò sấy lúa, tỷ lệ cơ giới hóa thu hoạch đạt 98% và sấy đạt 75%, giảm tổn thất sau thu hoạch và chi phí sản xuất23. Trong thủy sản, các giải pháp tự động hóa và năng lượng tái tạo được triển khai, góp phần giảm chi phí và nâng cao tính bền vững.
Thứ ba, ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ cao được đẩy mạnh trên diện rộng
Ở lĩnh vực trồng trọt, tỉnh chọn tạo thành công ba giống lúa mới (Móng Chim, AS-R05, AS-R06) với năng suất 3,5 tấn/ha và khả năng chống chịu tốt; áp dụng công nghệ drone trong gieo sạ, phun thuốc, công nghệ quản lý nước thông minh, chương trình “3 giảm, 3 tăng” trên 89,6% diện tích và “1 phải, 5 giảm”24 trên 47,1% diện tích. Vùng lúa đạt chuẩn SRP đạt 22.000 ha, GlobalGAP 59,3 ha, VietGAP 20 ha25. Trong thủy sản, áp dụng biofloc giúp năng suất cá rô phi, cá điêu hồng đạt 20 tấn/ha; vùng cá tra đạt chuẩn ASC/BAP đạt 477 ha (sản lượng 260.000 tấn/năm)26.
Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ chức 259 mô hình trình diễn và 228 hội thảo, thu hút 8.147 lượt nông dân27. Đặc biệt, tỉnh bước đầu triển khai mô hình nông nghiệp số hóa: quản lý mùa vụ bằng phần mềm, hệ thống theo dõi sinh trưởng, bản đồ số hóa vùng sản xuất,… tạo nền tảng cho nông nghiệp thông minh.
Thứ tư, tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị được củng cố, nâng cao hiệu quả và tính bền vững
Đến 2020, toàn tỉnh có 181 hợp tác xã nông nghiệp với gần 13.000 thành viên, doanh thu bình quân 2,34 tỷ đồng/năm và lợi nhuận khoảng 185 triệu đồng/năm. Khoảng 12,6% hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ. Giai đoạn 2018-2020, tỉnh hỗ trợ 1,99 tỷ đồng cho 47 hợp tác xã28. Tỉnh có 878 trang trại sản xuất tập trung29, góp phần chuyên môn hóa và tăng hiệu quả đầu tư. Mô hình “cánh đồng lớn” triển khai trên 50.000 ha, cùng 85% diện tích thủy sản liên kết doanh nghiệp30, tạo nền tảng quan trọng cho sản xuất theo tiêu chuẩn cao và truy xuất nguồn gốc.
Đặc biệt, các mô hình liên kết giúp ổn định thu nhập, giảm rủi ro thị trường và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, với sự tham gia tích cực của hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này góp phần thu hút doanh nghiệp vào nông nghiệp và thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị.
Thứ năm, kinh tế nông nghiệp đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững và an sinh xã hội của tỉnh
Sự phát triển kinh tế nông nghiệp đã tạo việc làm ổn định cho hàng trăm nghìn lao động nông thôn, đóng góp quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo và nâng cao chất lượng sống. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh trong giai đoạn 2010-2020 (giảm bình quân 1,5-2%/năm). Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 2020 đạt 46,8 triệu đồng31.
Tỉnh từng bước thúc đẩy sản xuất thân thiện môi trường: giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng diện tích sản xuất an toàn, áp dụng kỹ thuật tái sử dụng phụ phẩm (rơm, trấu) và sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất.
Các nông sản chủ lực như: lúa gạo, cá tra, xoài, rau màu,… của tỉnh tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu, đặc biệt là thị trường châu Âu và châu Á, góp phần nâng cao hình ảnh nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng, kinh tế nông nghiệp của tỉnh An Giang vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch còn chậm, phụ thuộc vào một số sản phẩm chủ yếu như lúa, cá tra,... Tái cơ cấu ngành chưa đạt mục tiêu đề ra; chuyển đổi cây trồng, vật nuôi chưa đồng đều giữa các địa phương; nhiều vùng chuyên canh rau màu, cây ăn trái và dược liệu vẫn có quy mô nhỏ và thiếu sự kết nối chặt chẽ theo chuỗi giá trị. Hạ tầng nông nghiệp chưa thật sự đồng bộ, đặc biệt tại các khu vực vùng sâu, vùng biên giới và vùng núi, gây hạn chế cho cơ giới hóa, vận chuyển và ứng dụng công nghệ cao. Việc áp dụng khoa học công nghệ còn chênh lệch giữa các nhóm sản phẩm; hoạt động nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chưa tạo được bước đột phá rõ rệt. Về tổ chức sản xuất, nhiều hợp tác xã quy mô nhỏ, hoạt động chưa hiệu quả, thiếu vốn và năng lực quản trị, dẫn tới tỷ lệ liên kết với doanh nghiệp còn thấp. Bên cạnh đó, vấn đề môi trường như sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Giai đoạn 2010-2020 đánh dấu bước chuyển quan trọng của kinh tế nông nghiệp An Giang, với những cải thiện rõ rệt về cơ cấu sản xuất, hạ tầng, ứng dụng khoa học công nghệ và tổ chức lại sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Những kết quả này có được trước hết nhờ chủ trương của Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, thể hiện qua việc ban hành kịp thời các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương. Sự chỉ đạo thống nhất từ tỉnh đến cơ sở đã tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, thu hút đầu tư, thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị và mở rộng ứng dụng khoa học công nghệ. Các thành tựu đạt được không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của những ngành hàng chủ lực mà còn củng cố vị thế của tỉnh như một trung tâm sản xuất nông nghiệp quy mô lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hội nhập sâu rộng và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn nông sản, tỉnh cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển xanh, tuần hoàn và chuyển đổi số hóa.
Ngày nhận bài: 13-12-2025; ngày thẩm định, đánh giá: 28-1-2026; ngày duyệt đăng: 13-2-2026
1, 2. Đảng bộ tỉnh An Giang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015, An Giang, 2010, tr. 35, 76
3, 4. Tỉnh ủy An Giang: “Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27-6-2012 Về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, 2012, tr. 1-2, 2, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
5. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015”, An Giang, 2017, tr. 8, 13, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
6, 7. Đảng bộ tỉnh An Giang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020”, An Giang, 2015, tr. 42, 45
8. Tỉnh ủy An Giang: “Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 11-11-2016 Về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến 2025”, An Giang, 2016, tr. 4-5, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
9. Tỉnh ủy An Giang: “Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 10-02-2017 Về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020”, An Giang, 2017, tr. 2, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
10. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh An Giang đến năm 2020”, An Giang, 2015, tr. 3, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
11. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025”, An Giang, 2017, tr. 1, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
12, 13. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Báo cáo tổng hợp quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”, An Giang, 2023, tr. 92. 93, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
14. Tỉnh ủy An Giang: “Báo cáo số 89-BC/TU ngày 9-8-2021 Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01-11-2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII”, An Giang, 2021, tr. 3, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
15, 29. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê năm 2020, Nxb Thống kê, H, 2021, tr. 529-531, 512
16, 17, 18. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Báo cáo tổng hợp quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”, An Giang, 2023, tr. 100, 95, 101, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
19, 22. Tỉnh ủy An Giang: “Báo cáo số 391-BC/TU ngày 11-8-2020 về tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”, An Giang, 2020, tr. 8, 9, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
20, 25, 26, 28, 30. Tỉnh ủy An Giang: “Báo cáo số 84-BC/TU ngày 20-8-2021 Về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, An Giang, 2021, tr. 8, 15, 15, 12, 13, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang
21, 27. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 tỉnh An Giang”, An Giang, 2023, tr. 22, 69, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
23. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: “Kế hoạch số 176/KH-UBND ngày 31-3-2022 Phát triển cơ giới hóa cho các ngành hàng nông nghiệp chủ lực của tỉnh giai đoạn từ nay đến năm 2030”, An Giang, 2022, tr. 1-2, lưu Văn phòng UBND tỉnh An Giang
24. “3 giảm, 3 tăng”: giảm lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả; “1 phải, 5 giảm”: phải dùng giống xác nhận và giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lượng nước tưới, thất thoát sau thu hoạch
31. Tỉnh ủy An Giang: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, An Giang, 2020, tr. 27, lưu Văn phòng Tỉnh ủy An Giang.