Tóm tắt: Từ quan điểm kinh tế quốc doanh vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, trong năm đầu đổi mới, Đảng từng bước điều chỉnh, phát triển tư duy lý luận về kinh tế nhà nước vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua các kỳ Đại hội của Đảng, kinh tế nhà nước được Đảng xác định giữ vai trò chủ đạo trong điều tiết, định hướng và dẫn dắt nền kinh tế. Bài viết phân tích quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về kinh tế nhà nước qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2026). Qua đó làm rõ những bước phát triển về nội hàm, chức năng và phương thức phát huy vai trò của kinh tế nhà nước. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới hiện nay.

Từ khóa: Kinh tế nhà nước; tư duy lý luận; 1986-2026
Ngày nhận: 22-4-2026; ngày thẩm định, đánh giá: 10-8-2026; ngày duyệt đăng: 19-9-2026

THE DEVELOPMENT OF THE PARTY'S THEORETICAL THINKING ON THE STATE-OWNED ECONOMY DURING THE DOI MOI PERIOD (1986-2026)
Abstract: Moving away from the view of a state-run economy operating under a centralized, bureaucratic, and subsidy-based planning mechanism, the Communist Party of Vietnam gradually adjusted and developed its theoretical thinking during the early years of Đổi Mới toward a state economic sector operating within a socialist-oriented market mechanism. Through successive National Party Congresses, the state economic sector has been identified as playing the leading role in regulating, orienting, and guiding the national economy. This article examines the development of the Party’s theoretical thinking on the state economic sector over 40 years of implementing the Đổi Mới policy (1986–2026), thereby clarifying developments in its conceptual scope, functions, and methods of promoting its leading role. It also proposes several solutions to enhance the development effectiveness of the state economic sector in the current new era of national development.

Keywords: state sector; theoretical thinking; 1986-2026

1. Đặt vấn đề
Trong suốt quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước, Đảng luôn xác định kinh tế nhà nước (KTNN) giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Trải qua 40 năm thực thiện đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay, nhận thức của Đảng về KTNN có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp với điều kiện phát triển thực tế của đất nước. Nghiên cứu về vấn đề này, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận KTNN từ góc độ chức năng hoặc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; chưa làm rõ sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về KTNN qua các mốc thời gian của công cuộc đổi mới, nhất là những thay đổi trong xác định nội hàm và phương thức thực hiện vai trò chủ đạo của KTNN đối với nền kinh tế. Bài viết tập trung làm rõ quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về KTNN thời kỳ đổi mới và các vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò của KTNN trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể: Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ bối cảnh và quá trình phát triển tư duy của Đảng về KTNN qua các kỳ Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới. Phương pháp logic được vận dụng để phân tích sự vận động trong nhận thức lý luận của Đảng, làm rõ các bước phát triển nội hàm kinh tế nhà nước. Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm của Đảng, nhất là Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị. Phương pháp so sánh được sử dụng để chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức về kinh tế nhà nước giữa các giai đoạn, qua đó làm rõ sự phát triển tư duy kinh tế của Đảng thời kỳ đổi mới.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về kinh tế nhà nước thời kỳ đổi mới
Trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, nhận thức lý luận của Đảng về KTNN từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng, gắn liền với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Giai đoạn từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội VIII (1996) đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong nhận thức của Đảng về KTNN. Tại Đại hội VI, lần đầu tiên Đảng thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, trong đó khẳng định vai trò chủ đạo thuộc về khu vực KTNN (thời điểm đó gọi là kinh tế quốc doanh). Đại hội khẳng định “Kinh tế quốc doanh hiện đang nắm giữ những bộ phận then chốt, có vị trí chi phối nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thị trường và giá cả ở một mức độ nhất định” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr.172). Đồng thời, Đại hội VI cũng nhấn mạnh KTNN giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể tạo thành hai lực lượng nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Đây là bước đổi mới có ý nghĩa lịch sử, phá vỡ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, tạo tiền đề cho việc hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Cùng với quá trình xác định vai trò chủ đạo của KTNN, Đảng đã đặt ra yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý đối với khu vực này, trong đó nhấn mạnh hoàn thiện các chính sách nhằm xử lý quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như xây dựng các tổ chức sản xuất có quy mô lớn hơn phù hợp với yêu cầu phát triển. Ở giai đoạn này, vai trò chủ đạo của KTNN gắn với quy mô sở hữu và khả năng chi phối nguồn lực. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành của nền kinh tế, nhận thức này dần bộc lộ những hạn chế nhất định khi không phản ánh đầy đủ quan hệ giữa các chủ thể trong cơ chế thị trường. Sự đa dạng của các chủ thể kinh tế và cơ chế thị trường đòi hỏi phải xác định lại vị trí của KTNN trong một cấu trúc kinh tế mở hơn, nơi các thành phần cùng tồn tại, cạnh tranh và hợp tác. Vì vậy, Đại hội VIII điều chỉnh nhận thức bằng việc đưa ra khái niệm “kinh tế nhà nước” thay cho “kinh tế quốc doanh” và xác định lại chức năng của khu vực này trong nền kinh tế. KTNN giữ vai trò “mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr.348). Vai trò chủ đạo từ đây gắn với chức năng điều tiết và tổ chức phát triển, đặt trong quan hệ tương tác với các thành phần kinh tế khác, thay vì dựa trên quy mô sở hữu hay phạm vi hoạt động sản xuất. Có thể nói, Đại hội VIII đã thể hiện bước tiến về lý luận của Đảng trong việc xác định vị trí, chức năng của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Giai đoạn từ Đại hội IX (2001) đến Đại hội XI (2011) là bước phát triển quan trọng trong việc hoàn thiện nội hàm và cơ chế vận hành của KTNN. Đại hội IX lần đầu tiên xác định tương đối rõ nội hàm của KTNN, bao gồm ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính của Nhà nước và hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương “Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr.469). Như vậy, nguồn lực không còn phân tán theo chiều rộng mà dồn vào những lĩnh vực có khả năng chi phối cấu trúc ngành và quyết định hướng phát triển. Những lĩnh vực không giữ vị trí then chốt dần rời khỏi khu vực nhà nước, làm rõ ranh giới giữa phần Nhà nước cần nắm giữ và phần thị trường có thể đảm nhận nhằm tạo cơ sở thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước theo hướng tiệm cận với thông lệ thị trường. Đại hội X (2006) của Đảng xác định “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr.634); đồng thời nhấn mạnh xu hướng củng cố vai trò nền tảng của KTNN trong mối quan hệ với kinh tế tập thể. Đây là sự kế thừa và phát triển quan điểm đã được xác lập từ các kỳ Đại hội trước, nhưng được đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện. Đến Đại hội XI, các định hướng đổi mới doanh nghiệp nhà nước được tiếp tục cụ thể hóa, với trọng tâm là “đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011b, tr.208). Chủ trương này cho thấy, quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước tập trung vào hai hướng: (1) Rút khỏi những ngành mà khu vực tư nhân có thể đảm nhận, (2) Giữ lại những lĩnh vực có vai trò quyết định đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Từ đây, vai trò chủ đạo của KTNN không còn được xác định bằng quy mô hay số lượng doanh nghiệp, mà bằng khả năng chi phối các lĩnh vực then chốt như: tài chính, năng lượng, hạ tầng và các cân đối lớn của nền kinh tế. Những chủ trương này cho thấy bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng từ mô hình doanh nghiệp nhà nước truyền thống sang mô hình quản trị phù hợp với cơ chế thị trường. Đồng thời, từng bước xác lập vai trò dẫn dắt của KTNN thông qua quá trình tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Từ Đại hội XII (2016) đến Đại hội XIII (2021), tư duy lý luận của Đảng về KTNN tiếp tục phát triển theo hướng hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả hoạt động, tính minh bạch và năng lực dẫn dắt của khu vực này trong nền kinh tế. Điểm nhấn quan trọng của Đại hội XII về KTNN là việc khẳng định nguyên tắc “các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.103). Từ đó đặt ra yêu cầu phân định rõ chức năng quản lý nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng quản trị, điều hành doanh nghiệp. Nhà nước chấm dứt cơ chế bộ, ngành và địa phương trực tiếp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước. Sự điều chỉnh này hình thành phương thức quản lý phù hợp với nguyên tắc thị trường, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần; làm rõ chức năng của khu vực kinh tế này trong điều tiết vĩ mô, định hướng phát triển và khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, qua đó đặt KTNN vào vị trí như một “công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.129).
Đặc biệt, ngày 6-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW “về phát triển kinh tế nhà nước”. Nghị quyết khẳng định KTNN “là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.2). Vai trò của KTNN gắn với năng lực định hình cấu trúc và hướng phát triển của nền kinh tế “bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.2). KTNN phải “tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.3). KTNN không phân bố theo chiều rộng, mà tập trung vào những lĩnh vực có khả năng chi phối cấu trúc phát triển. Sự tập trung này tạo ra các điểm tựa để dẫn dắt các quá trình tăng trưởng nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, gắn với liên kết khoa học - công nghệ. Trong cấu trúc này, từng đơn vị không tồn tại như một chủ thể sản xuất riêng lẻ, mà tham gia vào một hệ thống có khả năng tạo tác động lan tỏa. Ảnh hưởng của KTNN hình thành từ khả năng kết nối và khuếch đại hiệu quả của các nguồn lực, không phụ thuộc vào phạm vi hiện diện. Như vậy, vai trò chủ đạo của KTNN đã chuyển từ phạm vi nắm giữ nguồn lực sang năng lực chi phối các quá trình vận động của nền kinh tế.
Nghị quyết lần đầu đặt phát triển KTNN trong quan hệ trực tiếp với các mục tiêu quốc gia đến năm 2030 và 2045, làm rõ vị trí của khu vực này trong cấu trúc chiến lược phát triển dài hạn. Nghị quyết cụ thể hóa các mục tiêu về quy mô và hiệu quả hoạt động: “Phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.5). Các chỉ tiêu này gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả vận hành của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Trên nền tảng đó, KTNN là công cụ điều tiết vĩ mô và lực lượng dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt. Vai trò chủ đạo được thể hiện qua năng lực tác động đến quá trình phát triển của nền kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô nguồn lực nắm giữ.
Nghị quyết tiếp cận phát triển KTNN như một chỉnh thể thống nhất giữa thể chế, tổ chức thực hiện và yếu tố con người. Nghị quyết yêu cầu phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu, đồng thời xác lập chuẩn mực quản trị và cơ chế kiểm soát quyền lực theo hướng “tăng cường công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và đề cao trách nhiệm giải trình; chú trọng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản lý, hoạt động và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.3). Định hướng này gắn trực tiếp với yêu cầu hoàn thiện cơ chế vận hành theo nguyên tắc minh bạch và hiệu quả. Đồng thời, Nghị quyết đặt ra yêu cầu bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.6), qua đó chỉ rõ những rào cản xuất phát từ cơ chế tổ chức và tâm lý thực thi. Những rào cản này tác động trực tiếp đến chất lượng triển khai chính sách. Thực tiễn cho thấy, nếu không xử lý được mối quan hệ giữa rủi ro trong hoạt động kinh tế và trách nhiệm pháp lý, cơ chế dù được thiết kế đúng cũng khó phát huy hiệu quả.
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về KTNN. Nghị quyết xác lập cách tiếp cận từ yêu cầu vận hành của nền kinh tế, đặt KTNN trong chức năng điều tiết và định hướng phát triển. Nghị quyết đồng thời chuyển tiêu chí xác định vai trò chủ đạo sang năng lực tổ chức và dẫn dắt các quá trình phát triển. Vai trò này gắn với khả năng tác động đến cấu trúc và hướng vận động của nền kinh tế, qua đó xác định rõ vị trí của KTNN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Những quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 79-NQ/TW được tiếp tục khẳng định tại Đại hội XIV (2026) của Đảng. Đại hội xác định nhiệm vụ “phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.385). Đại hội đề ra nhiệm vụ triển khai thực hiện chương trình hành động về phát triển KTNN: “nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính công, tài sản công; đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.160), bảo đảm khu vực KTNN thực sự trở thành lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết, định hướng và ổn định nền kinh tế. So với Đại hội XIII, Đại hội XIV đặt vai trò chủ đạo của KTNN trên cơ sở hiệu quả thực thi, gắn trực tiếp với năng lực điều tiết và dẫn dắt các quá trình phát triển của nền kinh tế.
Như vậy, trải qua 40 năm đổi mới (1986-2026) với 9 kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng về KTNN ngày càng sáng rõ và hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam.
2.2. Một số nhận xét và những vấn đề đặt ra
Quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng về KTNN trong 40 năm đổi mới thể hiện sự vận động liên tục, có tính kế thừa và điều chỉnh trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Quan điểm của Đảng về vai trò chủ đạo của KTNN được giữ vững, nhưng nội hàm và phương thức thực hiện có những thay đổi, phù hợp với yêu cầu vận hành của nền kinh tế trong từng giai đoạn.
Ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, tư duy của Đảng tập trung vào việc xác lập lại vị trí của KTNN trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần. Trọng tâm lúc này là thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác, đồng thời khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo như một lực lượng nền tảng. Tuy nhiên, cách hiểu về vai trò chủ đạo còn gắn nhiều với phạm vi hiện diện và mức độ chi phối trực tiếp trong nền kinh tế.
Từ Đại hội IX đến Đại hội XIV, nhận thức của Đảng dần chuyển sang làm rõ nội hàm và cơ chế vận hành của KTNN. Các kỳ Đại hội của Đảng đã từng bước xác định rõ hơn cơ cấu, thành phần của KTNN, mở rộng từ khu vực doanh nghiệp sang các nguồn lực tài chính và tài sản công. Cùng với đó là yêu cầu đổi mới quản lý, đặc biệt là tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng sản xuất, kinh doanh. Sự điều chỉnh này thể hiện quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính sang cơ chế vận hành phù hợp với nguyên tắc thị trường, đồng thời đặt nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, Đảng đặt KTNN trong yêu cầu bảo đảm tự chủ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khu vực này phải giữ vai trò tiên phong trong các lĩnh vực then chốt, gắn trực tiếp với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. KTNN vì vậy vừa tham gia ổn định nền kinh tế, vừa trực tiếp tạo lập các động lực tăng trưởng mới. Các mục tiêu định lượng về quy mô, quản trị và vị thế của doanh nghiệp nhà nước phản ánh rõ xu hướng chuyển từ định tính sang định lượng trong xác định vai trò chủ đạo.
Quá trình đổi mới tư duy lý luận về KTNN của Đảng đã tạo điều kiện cho KTNN phát triển nhưng trong tổ chức thực hiện, còn nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa kịp thời chuyển hóa thành cơ chế vận hành hiệu quả. Giữa chủ trương và thực tiễn vẫn còn tồn tại những khoảng cách, nhiều doanh nghiệp nhà nước (lực lượng nòng cốt của KTNN) chưa phát huy tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế, chưa giữ vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt (Bộ Chính trị, 6-1-2026). Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập còn cồng kềnh, cơ chế tự chủ chậm đổi mới, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Những hạn chế này gắn với các điểm nghẽn về thể chế và tổ chức thực hiện. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ; một số quy định chậm được điều chỉnh; việc phối hợp giữa các cơ quan chưa hiệu quả. Trong khi đó, năng lực đội ngũ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa rõ; tình trạng vi phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công vẫn xảy ra. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa đáp ứng yêu cầu quản lý (Bộ Chính trị, 6-1-2026). Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguồn lực và làm hạn chế vai trò của KTNN trong nền kinh tế.
Từ những vấn đề nêu trên, yêu cầu đặt ra là phải cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng thành những giải pháp trong tổ chức thực hiện. Những điểm nghẽn về thể chế, quản lý và thực thi cần được xử lý đồng bộ để KTNN phát huy vai trò chủ đạo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển KTNN theo hướng phân định rõ chức năng, trách nhiệm và thẩm quyền. Cơ quan quản lý cần phân định dứt điểm chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu. Doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch, có quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Thể chế càng rõ, cơ chế vận hành càng có điều kiện phát huy hiệu lực.
Hai là, phương thức quản lý phải chuyển mạnh từ can thiệp hành chính trực tiếp sang điều tiết bằng thể chế, tiêu chuẩn và công cụ kinh tế. Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Hệ thống thanh tra, kiểm tra, kiểm toán cần được sắp xếp lại theo hướng thống nhất, giảm chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Quản lý cần hướng vào kiểm soát bằng hệ thống, thay cho cách xử lý manh mún theo từng vụ việc.
Ba là, đội ngũ cán bộ quản lý giữ vai trò trực tiếp trong việc chuyển hóa chủ trương thành kết quả thực tế. Vì vậy, cần nâng cao tiêu chuẩn lựa chọn, đánh giá và sử dụng cán bộ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đồng thời, cần xác định rõ ranh giới giữa rủi ro trong hoạt động kinh tế và vi phạm pháp luật để tạo điều kiện cho cán bộ chủ động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ.
Bốn là, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực nhà nước phải chuyển theo hướng tập trung, có trọng điểm, gắn với các lĩnh vực then chốt và có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, mở rộng liên kết với các khu vực khác của nền kinh tế. Hiệu quả của KTNN phải được thể hiện bằng khả năng dẫn dắt phát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu.
Các giải pháp trên chỉ phát huy tác dụng khi được triển khai nhất quán từ nhận thức đến tổ chức thực hiện. Sự thống nhất giữa thể chế, quản lý và con người là điều kiện trực tiếp để KTNN phát huy vai trò chủ đạo một cách thực chất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

3. Kết luận
Quá trình 40 năm (1986-2026) đổi mới cho thấy tư duy lý luận của Đảng về KTNN không ngừng được bổ sung và hoàn thiện, gắn liền với sự vận động của thực tiễn phát triển đất nước. Từ chỗ nhấn mạnh vai trò của kinh tế quốc doanh trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhận thức của Đảng đã từng bước điều chỉnh theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường, trong đó KTNN được xác định là lực lượng vật chất quan trọng thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế. Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng khi xác định KTNN như một chỉnh thể nguồn lực thống nhất, đồng thời làm rõ hơn phương thức thực hiện vai trò chủ đạo theo hướng kiến tạo phát triển. Sự chuyển biến này có ý nghĩa về mặt lý luận và tạo cơ sở để tháo gỡ những điểm nghẽn trong thực tiễn, nhất là trong quản lý, sử dụng nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTNN. Trong kỷ nguyên phát triển mới, việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị và phát triển đội ngũ cán bộ sẽ là yếu tố quyết định để KTNN thực sự phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
 
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (6-1-2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. https://www.evn.com.vn/userfile/User/giangtcdl/files/2026/1/NQ79-20260126152950363.pdf
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.