Tóm tắt: Việc lồng ghép giới trong phát triển bền vững là một trong những chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước Việt Nam, nhằm hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ theo cam kết quốc tế. Bên cạnh đó, nhóm yếu thế do tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra cũng được Việt Nam đặc biệt quan tâm. Từ kết quả khảo sát thực tiễn việc thực hiện chính sách lồng ghép giới đối với lao động di cư của tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị), bài viết làm rõ những quan điểm về bình đẳng giới và lồng ghép giới hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và việc thực hiện chính sách lồng ghép giới ở tỉnh Quảng Bình
Từ khóa: Lồng ghép giới; phát triển bền vững; lao động di cư; biến đổi khí hậu; tỉnh Quảng Bình; (1-2011 - 6-2025)
Chính sách thực hiện bình đẳng giới và lồng ghép giới là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam hướng tới hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững. Sau khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - CEDAW (1979), tháng 12-1982, Việt Nam phê chuẩn, trở thành một trong những nước tham gia Công ước đầu tiên. Tiếp đó, Việt Nam cũng đã tham gia thực hiện cam kết Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995) với 12 lĩnh vực: Phụ nữ với nghèo đói, đào tạo, sức khỏe, bạo hành, xung đột vũ trang, kinh tế; bộ máy quyền lực và ra quyết định; thể chế; quyền con người của phụ nữ; truyền thông, môi trường và trẻ em gái. Từ khi ký Công ước CEDAW đến nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chỉ đạo thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc. Các kế hoạch thực hiện Tuyên bố Thiên niên kỷ đã hướng toàn bộ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước xây được xây dựng bám sát khung quốc tế với các chỉ tiêu quốc gia về bình đẳng giới và lồng ghép giới.
Việt Nam đã coi các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ tới năm 2030 là một ưu tiên quan trọng của quốc gia. Trong quá trình đó, Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ nhằm đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, đặc biệt là trong lĩnh vực giảm nghèo, bảo vệ môi trường và bình đẳng giới. Một số mục tiêu đã hoàn thành như: (i) xóa nghèo đói cùng cực (ii) đạt phổ cập giáo dục tiểu học, (iii) thúc đẩy bình đẳng giới và đạt nhiều tiến bộ trong các chỉ tiêu về y tế như giảm tỷ số tử vong mẹ và tỷ suất tử vong trẻ em, phổ cập tiếp cận các dịch vụ y tế và tăng cường sức khỏe bà mẹ. Những nỗ lực mạnh mẽ đã và đang giúp Việt Nam hoàn thành các chỉ tiêu trong mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trường. Chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thực hiện, giám sát và báo cáo các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Hầu hết các chính sách phát triển kinh tế- xã hội đã được lồng ghép các chỉ tiêu phát triển bền vững (VDGs) và quốc gia hóa của chỉ tiêu MDGs1. Trong các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình hỗ trợ mục tiêu và các dự án khác nhau của quốc gia và ở các địa phương, yêu cầu bắt buộc là phải lồng ghép các chỉ tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là các chỉ tiêu đến năm 2030 mà Việt Nam đang khó có thể hoàn thành.
Tuy vậy, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do tăng trưởng chậm hơn ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Tình trạng bất bình đẳng về thu nhập và phát triển kinh tế xã hội giữa các nhóm dân tộc và khu vực địa lý còn đáng kể. Tác động của biến đổi khí hậu lên cộng đồng thể hiện qua tần suất ngày càng cao của các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt cũng như mực nước biển dâng cao đang ngày càng ảnh hưởng nhiều tới sinh kế của người nghèo. Những vấn đề trên đặt ra những thách thức cho Việt Nam trong nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo phát triển xã hội bền vững giai đoạn hậu Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ 20152
1. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới và lồng ghép giới hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới
Một là, về bình đẳng giới
Theo quan điểm của Ph. Ăngghen, tình trạng không bình quyền giữa nam và nữ là do quan hệ xã hội trước kia để lại. Phong tục tập quán, các yếu tố về nhận thức, sự tác động của văn hóa, xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến bình đẳng giới trong gia đình. Người phụ nữ phải tham gia vào nền kinh tế, thúc đẩy bình đẳng trong gia đình và vì thế cần phải có sự xác lập bình đẳng xã hội giữa nam và nữ trong xã hội. Ph. Ăngghen, cho rằng muốn giải phóng phụ nữ, để cho họ thực sự bình đẳng với nam giới thì phải để cho phụ nữ tham gia sản xuất và tham gia xã hội: “điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội”3. Ph. Ăngghen còn cho rằng: “trong một xã hội nhất định, trình độ giải phóng phụ nữ là cái thước đo tự nhiên của sự giải phóng chung”4.
Như vậy có thể thấy rằng Ph. Ăngghen đã chỉ ra nguyên nhân của của bất bình đẳng giới và biện pháp để thực hiện bình đẳng giới là phu nữ tham gia sản xuất xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng giới là một trong những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh cũng có những quan điểm rất rõ ràng về thúc đẩy vị thế và vai trò của phụ nữ trong phát triển đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định, giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong Lời kêu gọi, ngày 27-2-1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Nguyễn Ái Quốc đã nêu các mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong đó xác định “thực hiện nam nữ bình quyền”5.
Sau khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định Việt Nam đã thực hiện quyền bình đẳng nam - nữ: “dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá”6
Trong Chánh cương văn tắt của Đảng (1930) cũng đã xác định rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, trong xã hội đó thực hiện “nam nữ bình quyền”7.
Từ các quan điểm cơ bản về vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới của các nhà kinh điển Mác- Lênin, Hồ Chí Minh về thúc đẩy giải phóng phụ nữ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã có những quan điểm nhất quán, rõ ràng về thúc đẩy bình đẳng giới trong chỉ đạo xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua các thời kỳ. Ngay từ trong Hiến pháp năm 1946, Điều 9 đã quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”8.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương cụ thể nhằm thúc đẩy vị thế của phụ nữ, bồi dưỡng đào tạo cán bộ nữ và coi trọng đối xử công bằng đối với phụ nữ. Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng khẳng định: “Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình”9.
Đại hội XII (2016) của Đảng xác định phương hướng thực hiện bình đẳng giới: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”10. Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20-1-2018 của Ban Bí thư “về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới” làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong đẩy mạnh công tác phụ nữ và nâng cao vị thế của phụ nữ trong đời sống xã hội.
Đại hội XIII (2021) của Đảng xác định: “Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khán, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”11.
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 26-12-2010 phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020, nêu rõ quan điểm: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước. Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Mục tiêu đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước12.
Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 3-3-2021 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021- 2030, chỉ rõ mục tổng quát: Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời, đề ra các mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực: Về chính trị đến năm 2025 đạt 60%, năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Về kinh tế, lao động, tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030. Về lĩnh vực đời sống gia đình và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, thực hiện giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình không được trả công của phụ nữ còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào năm 2030 so với nam giới. Cùng với đó là những mục tiêu cụ thể về y tế; giáo dục, đào tạo; thông tin, truyền thông. Nghị quyết đề ra 6 nhiệm vụ giải pháp, trong đó xác định: “Thực hiện lồng ghép các nội dung bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và các chương trình, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”13.
Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nêu trên đã thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội XHCN mà Việt Nam đang xây dựng. Qua đó, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam được xếp hạng cao trên thế giới.
Hai là, về lồng ghép giới
Lồng ghép giới là cách tiếp cận đưa quan điểm về bình đẳng giới vào mọi hoạt động lập pháp, chính sách, chương trình phát triển. Quan điểm này thống nhất và xuyên suốt với đường lối của Đảng về công tác phụ nữ. Đảng đã xác định “nam nữ bình đẳng” và giải phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, năm 1930, đã khẳng định nguyên tắc “nam nữ bình quyền” như một giá trị cốt lõi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nhấn mạnh vai trò, vị trí của phụ nữ trong cách mạng Việt Nam, coi việc giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Trên cơ sở đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn đề ra các chủ trương, chính sách nhằm phát huy vai trò của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới14. Đặc biệt là, Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nêu rõ 4 quan điểm, trong đó nêu rõ: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”15. Nghị quyết xác định cần đưa vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách cụ, năm 2006, Việt Nam thông qua Luật Bình đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và thúc đẩy việc xây dựng các chiến lược giới phù hợp trong từng bộ, ngành. Bên cạnh đó, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2021–2030), Luật Phòng, chống thiên tai (2013), Luật Bảo vệ môi trường (2020) đều khẳng định nguyên tắc lồng ghép giới. Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động tham gia các sáng kiến khu vực và toàn cầu như Chương trình nghị sự 2030, Kế hoạch hành động ASEAN về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh. Những nỗ lực này nhằm đảm bảo phụ nữ và nhóm dễ bị tổn thương được tiếp cận công bằng với cơ hội sinh kế, giáo dục, việc làm, qua đó phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ trong quá trình phát triển và thích ứng với biến đổi khí hậu.
2. Thực hiện chính sách lồng ghép giới ở tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là một trong những địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu, với mức độ rủi ro cao thuộc nhóm 20 tỉnh dễ tổn thương nhất cả nước (UNDP, 2012)16. Hằng năm, Quảng Bình phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai như lũ lụt, bão, hạn hán và xâm nhập mặn, trong đó mức độ nghiêm trọng đang có xu hướng gia tăng cả về cường độ lẫn tần suất. Thiên tai không chỉ gây thiệt hại về người và tài sản, mà còn tác động mạnh đến nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên và sinh kế của người dân – đặc biệt là người dân nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Ví dụ, năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo ở Quảng Bình đã tăng vọt từ 9,72% lên 25,36% do ảnh hưởng nặng nề của thiên tai đến nông nghiệp (Bocchini, 2014)17 Trong những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán kéo dài, lũ quét và mưa lớn bất thường đã xảy ra thường xuyên hơn, khiến sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, thiếu nước ngọt và suy giảm sinh kế tại các huyện ven biển. Đặc biệt, đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến gần 1,5 triệu người dân miền Trung, trong đó có Quảng Bình (IFRC, 2020)18.
Tình hình di cư của tỉnh Quảng Bình trong nhiều năm qua phản ánh rõ xu hướng rời bỏ địa phương để tìm kiếm cơ hội mưu sinh và việc làm ở các vùng phát triển hơn. Là một tỉnh ven biển, thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu, cùng với nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào nông – lâm – ngư nghiệp, Quảng Bình gặp không ít khó khăn trong việc tạo việc làm ổn định tại chỗ. Di cư vì lý do kinh tế, đặc biệt là xuất cư đến các đô thị lớn và các tỉnh công nghiệp phía Nam, diễn ra phổ biến, trong đó phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới. Yếu tố giới đóng vai trò quan trọng trong động lực và hình thức di cư: phụ nữ thường tham gia vào các công việc phi chính thức, ít bảo vệ như giúp việc gia đình, buôn bán nhỏ, trong khi nam giới thiên về các ngành xây dựng hoặc lao động tay chân. Điều này dẫn đến sự khác biệt về rủi ro, thu nhập và khả năng tiếp cận dịch vụ giữa hai giới. Di cư không chỉ đặt ra thách thức cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn yêu cầu các chính sách nhạy cảm giới trong hỗ trợ sinh kế, an sinh và bảo vệ người lao động di cư.
Từ thực tiễn trên, tỉnh Quảng Bình đã triển khai thực hiện lồng ghép giới trong chính sách di cư, tái định cư ứng phó với biến đổi môi trường trên một số lĩnh vực sau:
Một là, chuyển đổi sinh kế cho lao động nữ di cư khi môi trường biến đổi
Trước những tác động nặng nề của thiên tai, biến đổi khí hậu và sự cố môi trường, tỉnh Quảng Bình xác định việc ổn định sinh kế, tạo việc làm cho người dân là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược ứng phó. Sau mỗi đợt thiên tai hay khủng hoảng môi trường, hàng chục nghìn lao động lâm vào cảnh mất việc hoặc thu nhập bấp bênh, đặc biệt là tại các huyện ven biển và nông thôn. Để giải quyết thực trạng này, Quảng Bình đã triển khai đồng bộ các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và coi xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một trong những hướng đi chiến lược, giúp người dân nâng cao thu nhập và thích ứng bền vững với các biến động môi trường.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và UNFPA19, trong giai đoạn 2009–2014, tỉnh Quảng Bình có khoảng 26.700 người di cư. Trong đó, phần lớn người dân rời đi theo hướng từ nông thôn đến nông thôn (33,3%) và nông thôn đến thành thị (26%), cho thấy nhu cầu tìm kiếm việc làm và cuộc sống ổn định hơn ở những nơi khác. Tỷ suất di cư thuần của tỉnh là -20,2‰. Theo Niên giám Thống kê Quảng Bình 201920, tỷ suất xuất cư năm 2019 đạt 7,3‰, trong khi tỷ suất nhập cư chỉ 1,9‰, dẫn đến tỷ suất di cư thuần âm lên tới -5,4‰, một trong những mức cao nhất cả nước. Sau giai đoạn bùng nổ xuất cư trước 2020, dịch COVID và các biện pháp giãn cách khiến dòng di cư giảm mạnh năm 2020, rồi phục hồi nhẹ năm 2021–2022. Theo số liệu sơ bộ, năm 2022 Quảng Bình ghi nhận di cư thuần chỉ còn +0,1‰ (tức dân nhập cư nhỉnh hơn xuất cư một chút). Tuy nhiên, bước sang năm 2023, di cư thuần lại âm trở lại (khoảng –2,2‰) khi tỷ lệ xuất cư tăng lên 5,2‰ (nữ 6,9‰, nam 3,5‰) trong khi nhập cư 3,0‰21. Điều này cho thấy Quảng Bình vẫn là địa phương “xuất cư”, chiếm tỷ lệ di cư tương đối lớn trong cơ cấu dân số. Xu hướng chung ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Bình nói riêng là di cư từ nông thôn ra thành thị, nhất là những thành phố lớn và các khu công nghiệp như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, và Đà Nẵng để tìm kiếm cơ hội việc làm. Đây chủ yếu là lao động trong độ tuổi 15–39, trình độ phổ thông trung học trở xuống, làm việc trong các ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ và xây dựng dân dụng. Nguyên nhân chính là cơ hội việc làm và thu nhập tại thành thị cao hơn, đặc biệt tạo điều kiện để lao động nữ đi làm, dẫn đến tăng tỷ lệ nữ di cư. Diễn biến tương tự có thể gặp ở Quảng Bình: nhiều lao động trẻ (đặc biệt nữ) từ các huyện nông thôn tìm việc ở các thành phố hoặc khu công nghiệp trong tỉnh và ở các tỉnh khác. Trong nhiều năm, tỷ suất xuất cư của nữ cao hơn nam. Chẳng hạn, năm 2013, nữ giới có tỷ suất xuất cư 6,8‰ so với 3,0‰ của nam giới (GSO-UNFPA, 2015). Phụ nữ thường rời quê để tham gia vào các công việc phi chính thức, như giúp việc gia đình, phục vụ quán ăn, bán hàng rong hay lao động trong các nhà máy dệt may – những ngành nghề có tính linh hoạt cao nhưng đi kèm với mức độ rủi ro lớn về điều kiện lao động, an toàn và tiếp cận an sinh xã hội.
Hai là, chính sách chuyển đổi sinh kế và hỗ trợ cho phụ nữ di cư
Song song với XKLĐ, tỉnh cũng tập trung triển khai các chính sách phục hồi sinh kế tại chỗ. Hàng loạt mô hình sản xuất an toàn như nuôi trồng thủy sản, làm muối sạch, dịch vụ hậu cần nghề cá, hay phát triển du lịch cộng đồng, sinh thái biển được khuyến khích tại các vùng chịu thiệt hại. Một số ngư dân trẻ chuyển sang làm du lịch, trong khi ở các vùng nông thôn dễ tổn thương do thiên tai, tỉnh đẩy mạnh hỗ trợ ngành nghề thủ công, trồng cây công nghiệp ngắn ngày để giảm phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp truyền thống22.
Tính đến năm 2019, Quảng Bình đã hoàn tất việc chi trả bồi thường thiệt hại do Formosa (trên 2.100 tỷ đồng) và cơ bản ổn định tình hình kinh tế – xã hội. Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Bình, 6 tháng đầu năm 2019 đã giải quyết việc làm cho khoảng 18.300 lao động (đạt 50,08% kế hoạch năm), trong đó có 1.700 người đi XKLĐ23. Trong 6 tháng đầu năm 2023, Quảng Bình có 1.447 người xuất cảnh đi làm việc hoặc du học, cho thấy XKLĐ tiếp tục là kênh sinh kế hiệu quả và bền vững24.
Nhìn chung, với sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền và việc lồng ghép XKLĐ trong chính sách an sinh và thích ứng biến đổi môi trường, Quảng Bình đã từng bước xây dựng được các mô hình di cư lao động có kiểm soát, mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho người dân và góp phần nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng trước các rủi ro khí hậu và môi trường trong tương lai.
Di cư lao động từ Quảng Bình trong những năm vừa qua diễn ra trên cả ba hình thức: nội tỉnh, liên tỉnh và xuất khẩu lao động. Quá trình đô thị hóa và điều kiện kinh tế nông thôn khó khăn đã khiến nhiều lao động nông thôn dịch chuyển tới thành thị hoặc các khu công nghiệp để tìm việc làm. Trong nội tỉnh, người dân trong độ tuổi lao động từ các huyện vùng cao, vùng cát ven biển thường ra thành phố Đồng Hới hoặc các thị trấn để làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, xây dựng. Tuy nhiên, Hàng nghìn lao động Quảng Bình đã rời quê vào các tỉnh phía Nam (như Đồng Nai, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh) làm công nhân nhà máy, hoặc ra Hà Nội, Đà Nẵng làm việc thời vụ trong hơn một thập kỷ qua. Xu hướng này giúp họ gửi tiền về nuôi gia đình, đồng thời giảm áp lực thất nghiệp tại địa phương.
Ba là, thực hiện lồng ghép giới trong chính sách di cư lao động ở Quảng Bình
Để ứng phó thiên tai, Quảng Bình đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ di dân và tái định cư. Những hỗ trợ này nhìn chung hướng đến cả hộ gia đình, chưa phân biệt theo giới. Chính sách hỗ trợ sinh kế như các chương trình hỗ trợ vốn, đào tạo nghề cho đồng bào nghèo được triển khai rộng. Theo báo cáo năm 2024, toàn tỉnh đã có 44.685 phụ nữ được hỗ trợ vay vốn phát triển kinh tế thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi và dự án quay vòng vốn25. Ngoài ra, Quảng Bình tích cực khai thác nguồn hỗ trợ từ Quỹ cộng đồng Phòng tránh thiên tai do Hội Chữ thập đỏ và các mạnh thường quân đóng góp để trợ giúp phụ nữ nghèo phát triển sinh kế gắn với phòng tránh thiên tai. Giai đoạn 2022–2024, Quỹ này đã ủy thác cho Hội LHPN tỉnh hỗ trợ 530 triệu đồng vốn vay quay vòng, giúp 30 phụ nữ nghèo vay phát triển sinh kế (trồng trọt, chăn nuôi) ở vùng thường xuyên bị thiên tai. Cùng với đó, từ nguồn vốn Quốc gia giải quyết việc làm, tỉnh hỗ trợ thêm 431 triệu đồng cho 11 phụ nữ khởi sự kinh doanh nhỏ. Nhờ nguồn vốn ưu đãi này, nhiều người đầu tư mở rộng sản xuất (nuôi gà, trồng rau an toàn, dệt may gia công tại nhà…), vừa tăng thu nhập vừa chủ động dự phòng khi thiên tai gián đoạn công việc nông nghiệp truyền thống. Đây chính là cách lồng ghép yếu tố giới và tính dễ bị tổn thương vào tiêu chí thụ hưởng chính sách.
Bên cạnh đó, Quảng Bình thực hiện tốt việc huy động phụ nữ tham gia các khóa đào tạo chuyển đổi sinh kế. Theo báo cáo của Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Bình26, trong 15 năm (2007-2022) qua các cấp đã tổ chức hơn 1.400 lớp tập huấn về kỹ năng, kiến thức bình đẳng giới lồng ghép trong nhiều lĩnh vực, thu hút trên 45.000 lượt cán bộ, hội viên tham gia. Năm 2023, Trung tâm Phát triển Cộng đồng (PTCĐ) tỉnh với sự tài trợ của Quỹ Liên hợp quốc (UNF) tỉnh thực hiện thực hiện dự án “Thúc đẩy quyền tiếp cận pháp luật về lao động việc làm của phụ nữ khi tham gia thị trường lao động ở trong và ngoài nước tại tỉnh Quảng Bình” từ 1-11-2023 đến 30-4-2025 được tổ chức ở 05 xã: Trường Xuân, Hải Ninh, Vĩnh Ninh (Quảng Ninh) và Hải Phú, Nhân Trạch (Bố Trạch) với mục tiêu thúc đẩy quyền tiếp cận pháp luật về lao động việc làm cho 70% lao động nữ có việc làm hợp pháp và di cư an toàn khi tham gia vào thị trường lao động, trong đó có 5 CLB với 109 thành viên thì 58,1% là nữ. Các hoạt động của CLB như đào tạo kỹ năng, truyền thông pháp luật về di cư, an toàn lao động… đều hướng đến cả nam lẫn nữ; tỷ lệ tham gia nữ của từng CLB tại Trường Xuân (30%) và Hải Ninh (55%) cho thấy nỗ lực khuyến khích phụ nữ tiếp cận thông tin và cơ hội di cư hợp pháp27. Ngoài ra, những chiến dịch tuyên truyền như sự kiện “Di cư an toàn, phòng ngừa di cư trái phép” do Công an tỉnh phối hợp IOM tổ chức tại các huyện ven biển Động Hới, Trương Pháp yêu cầu người dân (đa phần là lao động trẻ, cả nam và nữ) lựa chọn di cư hợp pháp. Mặc dù, các hoạt động này chưa riêng biệt cho giới nào, nhưng chú trọng phổ biến thông tin rộng rãi, giúp nữ lao động nắm được quy trình di cư an toàn. Điều này cho thấy chính quyền và tổ chức quốc tế chú trọng đến tập huấn, truyền thông về an toàn di cư lao động an toàn nhằm tăng cường thông tin, kỹ năng tiếp cận thị trường lao động cho người dân Quảng Bình nói chung và cho phụ nữ nói riêng, tạo điều kiện để lao động nữ di cư lao động một cách an toàn. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có nhiều người vẫn di cư lao động ra nước ngoài trái phép, đặc biệt là bằng đường biển.
3. Một số nhận xét
Một là, những kết quả tích cực
Thứ nhất, Quảng Bình đã ban hành kế hoạch, quyết định cấp tỉnh liên quan đến giới và di cư. Trong những năm 2011-2025, tỉnh Quảng Bình đã ban hành một số kế hoạch và quyết định liên quan đến bình đẳng giới dựa trên kế hoạch quốc gia theo các giai đoạn 2011–2015, 2016–2020 và 2021–2025. Giai đoạn 2011–2015, tỉnh chủ yếu tập trung xây dựng nền tảng thể chế như phân công cán bộ phụ trách, tuyên truyền nâng cao nhận thức và phối hợp giữa các sở, ngành. Giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định 1841/QĐ-UBND năm 2011), tỉnh tiếp tục củng cố nền tảng tổ chức như các giai đoạn trước, đồng thời đưa ra yêu cầu rõ về lồng ghép giới vào chương trình phát triển địa phương. Ngoài ra, các kế hoạch chuyên đề (549/KH‑UBND và 341/KH‑UBND) tập trung vào khía cạnh bạo lực giới và hỗ trợ đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số, cho thấy Quảng Bình đã triển khai bài bản và sâu sát với từng nhóm dễ tổn thương. Giai đoạn này không có văn bản riêng chỉ về giới và di cư, nhưng bằng cách lồng ghép giới vào nhiều lĩnh vực như an sinh, bạo lực, dân tộc thiểu số… tỉnh đang xây dựng nền tảng cho một cách tiếp cận toàn diện hơn, rất có lợi cho khi mở rộng chính sách đến di cư sau này. Giai đoạn 2021–2025 (Kế hoạch 1158/KH-UBND năm 2021), được ban hành với nhiều điểm mới hơn như có chỉ tiêu cụ thể về tỉ lệ nữ tham gia lao động, lãnh đạo, và yêu cầu các ngành phải lồng ghép giới trong các chương trình phát triển, cùng với đó là những yêu cầu cụ thể về lồng ghép giới trong các chính sách ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý thiên tai, phát triển kinh tế – xã hội. Dù chưa có văn bản riêng biệt về “giới và di cư”, nhưng các chính sách hiện hành cho thấy tỉnh đã có những bước đi rõ ràng trong việc lồng ghép yếu tố giới vào các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nguyên nhân và hệ quả của di cư như sinh kế, việc làm, biến đổi khí hậu và an sinh xã hội. Điều này tạo nền tảng quan trọng để Quảng Bình có thể xây dựng chính sách toàn diện hơn về di cư có nhạy cảm giới trong tương lai.
Thứ hai, các chính sách, chương trình lồng ghép giới đã được đưa về tận cơ sở. Hệ thống tổ chức Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động… và các dự án của Việt Nam và quốc tế (IOM, ILO, UN Women, Trung tâm Phát triển Cộng đồng tỉnh…) đã phối hợp thực hiện nhiều hoạt động cụ thể. Các lớp huấn luyện nghề, phiên giao dịch việc làm lưu động được tổ chức ngay tại các xã ven biển và miền núi, hỗ trợ tăng cơ hội việc làm cho lao động địa phương cả nam lẫn nữ. Các câu lạc bộ “di cư an toàn” đã tạo diễn đàn cho người dân nói chung và phụ nữ nói riêng được tư vấn pháp luật, kỹ năng tìm việc, hướng di cư hợp pháp. Ngoài ra, Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh từ 2012 thông qua việc cho vay vốn, hỗ trợ sinh kế cũng góp phần hỗ trợ việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho phụ nữ.
Thứ ba, các chương trình di dời dân khỏi vùng nguy hiểm, hỗ trợ nhà ở phòng tránh thiên tai ở Quảng Bình đã tiếp cận đúng đối tượng, có nhạy cảm giới tương đối tốt, trong đó ưu tiên hộ do phụ nữ làm chủ, hộ có hoàn cảnh đặc biệt.
Hai là, một số tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, việc thực hiện chính sách lồng ghép giới trong phát triển bền vững đối với lao động di cư dưới tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương có nơi, có lúc chưa thực sự sâu sát, nhất là ở cấp cơ sở. Việc phổ biến, nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm thành công trong lĩnh vực xuất khẩu lao động ở một số địa phương còn chậm, thiếu tính chủ động và sáng tạo.
Thứ hai, mặc dù Nghị quyết số 17/2021/NQ-HĐND của tỉnh Quảng Bình đã đề ra chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, nhưng các chương trình đào tạo vẫn chủ yếu mang tính chung cho cả hai giới, chưa có định hướng hoặc ưu tiên cụ thể dành cho lao động nữ di cư hay phụ nữ sống ở khu vực dễ bị tổn thương bởi thiên tai, biến đổi môi trường. Trong khi đó, theo UNDP, lao động nữ di cư thường làm việc trong các ngành nghề giá trị thấp như giúp việc gia đình, may mặc, vốn dễ bị bạo lực, ít được bảo vệ và thiếu cơ hội nâng cao kỹ năng, khiến họ càng khó tiếp cận các khóa học nghề kỹ thuật hoặc có thể bị bỏ lỡ hoàn toàn khỏi các chính sách hỗ trợ. Tình trạng này phản ánh một bất cập rộng hơn trong khung chính sách của tỉnh liên quan đến di cư và ứng phó với biến đổi khí hậu, khi các văn bản chính thức hầu như không đặt ra yêu cầu phân tích hay chỉ tiêu phân tách theo giới.
Thứ ba, thiếu dữ liệu phân tích giới. Tỉnh Quảng Bình chưa có khảo sát, điều tra thường xuyên về tác động khác biệt theo giới của biến đổi khí hậu hay di cư. Như báo cáo UN Women tại Việt Nam nêu, các lĩnh vực nhạy cảm với biến đổi khí hậu ở Việt Nam thiếu số liệu và bằng chứng liên quan đến giới. Ngoài ra, không có số liệu riêng về phụ nữ di cư, phụ nữ chịu ảnh hưởng thiên tai, hay nhu cầu đào tạo nghề của lao động nữ. Do đó việc hoạch định chính sách thường chỉ dựa trên thống kê chung, không phản ánh đặc điểm dân số theo giới.
Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Bình đã thực hiện và có kết quả nhất định trong việc thực hiện chuyển đổi sinh kế, di cư lao động và ứng phó với biến đổi môi trường. Một số chính sách đã bước đầu nhắc đến nhóm yếu thế, trong đó có phụ nữ, đồng thời có sự tham gia của các tổ chức như Hội Liên hiệp Phụ nữ trong truyền thông, hỗ trợ sinh kế và nâng cao năng lực cộng đồng. Tuy nhiên, việc lồng ghép giới trong các chính sách di cư và biến đổi môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Các chính sách hiện hành nhìn chung chưa đưa ra chỉ tiêu phân tách theo giới, thiếu phân tích tác động khác biệt đối với nam và nữ, đặc biệt là phụ nữ di cư hoặc phụ nữ ở các khu vực chịu rủi ro cao. Nhiều chương trình hỗ trợ đào tạo nghề vẫn còn thiết kế theo hướng trung tính giới, chưa tính đến nhu cầu, thời gian, kỹ năng và hoàn cảnh cụ thể của phụ nữ. Đặc biệt, việc thiếu hụt dữ liệu phân tách theo giới và thiếu bằng chứng kết nối giữa biến đổi khí hậu – di cư –bất bình đẳng giới là trở ngại lớn trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cũng như kế hoạch ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu của Quảng Bình tuy có đề cập đến vấn đề bình đẳng giới, nhưng chủ yếu dừng ở mức độ định hướng chung, chưa tích hợp đầy đủ phân tích giới một cách hệ thống và chưa làm rõ sự khác biệt về nhu cầu, mức độ dễ bị tổn thương và khả năng tiếp cận nguồn lực giữa nam và nữ. Từ những kết quả và hạn chế này, để đạt được mục tiêu như Chính phủ đề ra, địa phương cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng tích hợp giới một cách rõ ràng hơn.

Ngày nhận bài: 6-7-2025; ngày thẩm định đánh giá: 25-9-2025; ngày duyệt đăng: 30-9-2025
1. Xem: Ngân hàng thế giới: Đánh giá giới tại Việt Nam, năm 2012, tr. 97-104
2. Xem: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo quốc gia kết quả thực hiện 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam, năm 2015, tr 144-145
3. C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 21, tr. 116
4. C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 20, tr. 361
5, 7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 3, tr. 22, 1
6. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 10, tr. 282
8. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36134.aspx
9. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi, ngày truy cập: 24-6-2025
10. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang-1600, ngày truy cập: 24-6-2025
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H, 2021, T. I, tr. 169
12. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-2351-QD-TTg-phe-duyet-Chien-luoc-quoc-gia-binh-dang-gioi-116501.aspx
13. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Nghi-quyet-28-NQ-CP-2021-Chien-luoc-quoc-gia-ve-binh-dang-gioi-giai-doan-2021-2030-466613.aspx
14. Phùng Thị An Na: “Giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về nam nữ bình quyền và giải phóng phụ nữ”, https://lyluanchinhtri.vn/gia-tri-ben-vung-cua-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nam-nu-binh-quyen-va-giai-phong-phu-nu-6280.html, ngày truy cập: 24-6-2025
15. https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=23675
16. UNDP. 2012. A preliminary analysis of disaster and poverty data in Quang Binh province, Vietnam
17. Bocchini, F.2014. One typhoon after another: Viet Nam in Fall 2013. Climate change and natural disasters in the Central Region
18. IFRC (International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies). 2020. Operation Update Report Vietnam: Floods. Updated n°1; 1 December 2020
19. Tổng cục Thống kê (GSO) & Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA): Chuyên khảo di cư và đô thị hóa ở Việt Nam. Nxb Thống kê, H, 2015
20. Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2019 (Bảng 5.10: Tỷ suất xuất cư, nhập cư và di cư thuần theo địa phương, Nxb Thống kê, H, 2020
21. Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2023, Nxb Thống kê, H, 2024
22. “Nhìn lại 03 năm thực hiện Nghị quyết số 02‑NQ/TU ngày 22/12/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về khắc phục hậu quả lũ lụt, sớm ổn định đời sống nhân dân”, https://quangbinh.dcs.vn/chi-tiet-bai-viet/-/view- article/1/1537175143384/1706492236117 , ngày truy cập 24-6-2025
23. Minh Hiếu: “Quảng Bình nỗ lực giải quyết việc làm cho lao động bị ảnh hưởng sự cố môi trường biển”, https://vneconomy.vn/quang-binh-no-luc-giai-quyet-viec-lam-cho-lao-dong-bi-anh-huong-su-co-moi-truong-bien.htm, ngày truy cập: 24-6-2025
24. Trong 6 tháng đầu năm 2023, tỉnh Quảng Bình có hơn 13.000 lượt người được tư vấn việc làm, xuất khẩu lao động và du học, https://sldtbxh.quangbinh.gov.vn/chi-tiet-tin/-/view-article/1/1453278460148/1686715643426, ngày truy cập 24-6-2025
25. Năm 2024, tỉnh Quảng Bình có 44.685 phụ nữ được hỗ trợ vay phát triển kinh tế,
https://quangbinh.gov.vn/chi-tiet-tin/-/view-article/1/14012495793617/1737338104342/Nam-2024-toan-tinh-co-44-685-phu-nu-%C4%91uoc-ho-tro-vay-phat-trien-kinh-te-, ngày truy cập: 25-6-2025,
26. “Một số kết quả qua 15 năm thi hành Luật Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”, https://quangbinh.dcs.vn/chi-tiet-bai-viet/-/view-article/1/1537175143384/1659584071826, ngày truy cập: 4-7-2025
27. “Để phụ nữ tự tin tham gia thị trường lao động”, https://www.baoquangbinh.vn/xa-hoi/202501/de-phu-nu-tu-tin-tham-gia-thi-truong-l”ao-dong-2223698/, ngày truy cập: 4-7-2025