Tóm tắt: Bài viết phân tích, chỉ rõ bốn nấc thang trong quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới: 1) Đại hội VI với những nhận thức mới về vai trò, vị trí lâu dài của kinh tế tư nhân - coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; 2) Đại hội X với nhận thức mới kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; 3) Đại hội XII với quan điểm kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; 4) Nghị quyết số 68-NQ/TƯ, ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị khóa XIII, Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng: kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.

Từ khóa: Nhận thức lý luận; Kinh tế tư nhân; Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ Đại hội VI (1986) của Đảng, trên cơ sở tổng kết lý luận phát triển kinh tế nói chung, phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) nói riêng thời kỳ trước đổi mới, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, Đảng đã có những bước phát triển nhận thức lý luận đúng đắn về phát triển KTTN ở Việt Nam. Đây là một trong những đóng góp lý luận về xây dựng CNXH ở những nước có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội như Việt Nam. Năm 2025, trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng là một trong những điểm mới của Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
 
1. Xuất phát từ thực tiễn đất nước những năm 80 của thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng nhận rõ, “không thể đưa tất cả những người làm ăn cá thể vào các tổ chức kinh tế tập thể trong một thời gian ngắn. Có những ngành, nghề đưa vào làm ăn tập thể chưa bảo đảm hiệu quả. Trong khi nguồn vốn của nhà nước và của tập thể còn eo hẹp, thì nguồn vốn còn dư trong nhân dân hầu như chỉ đưa vào tiêu dùng hoặc cất giữ và mua hàng tích trữ”1. Đồng thời vận dụng quan điểm của V.I. Lênin “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”2, Đại hội VI của Đảng đã đề ra chủ trương đúng, phù hợp thực tiễn Việt Nam: “Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội”3, “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”4. Trên tinh thần đó, Đại hội VI chỉ rõ: “Không nên có thành kiến, phân biệt đối xử, gây khó khăn cho những người lao động cá thể chưa muốn tham gia các tổ chức kinh tế tập thể hoặc xin rút ra khỏi các tổ chức đó”5. Đồng thời, Đại hội VI cũng khẳng định: “Nhưng không thể xóa bỏ thương nghiệp nhỏ tự do theo ý muốn chủ quan bằng mệnh lệnh hành chính, mà chỉ có thể thu hẹp nó bằng sự thay thế tốt hơn của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và biết sử dụng nó trong những lĩnh vực mà thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chưa thể kinh doanh tốt hoặc chưa cần kinh doanh”6. Đây là những quan điểm lớn, đúng đắn của Đại hội VI về phát triển KTTN ở Việt Nam.
Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định phải “Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất”7. Trên cơ sở đó, Đại hội VII khuyến khích “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”8. Kinh tế cá thể “được phát triển trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn, không hạn chế việc mở rộng kinh doanh”9. Như vậy, quan điểm của Đảng về phát triển KTTN từ Đại hội VI được tiếp tục củng cố, phát triển ở Đại hội VII.
Đại hội VIII (1996) của Đảng tổng kết 10 năm đổi mới và thực hiện chính sách phát triển KTTN đã thẳng thắn nhận thấy “Chưa giải quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt thành phần kinh tế này”10, mặc dù KTTN chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế.  Tiếp tục tinh thần đổi mới nhận thức về KTTN của Đại hội VII, Đại hội VIII khẳng định: “khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh”11. Đại hội VIII cũng khẳng định kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài, do vậy Nhà nước phải giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học, công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của kinh tế tư bản tư nhân12... Trên cơ sở đó, Đại hội VIII chỉ rõ, đối với KTTN, Nhà nước cần “thiết lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt”13. Để thực hiện mục tiêu này, quan điểm của Đại hội VIII là khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm, mọi công dân tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật14. Nhờ những tư tưởng quan trọng này mà kinh tế cá thể, tiểu chủ đã phát triển nhanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ, góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế-xã hội của đất nước. Kinh tế tư bản tư nhân bước đầu được phát triển, mặc dù mới tập trung nhiều ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu15. Đại hội VIII cũng chỉ rõ, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vừa chưa được phát huy mạnh mẽ các tiềm năng, vừa chưa bảo đảm hoạt động có trật tự, kỷ cương theo pháp luật; cần mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với KTTN trong và ngoài nước16.
Đại hội IX (2001) của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng lâu dài của kinh tế cá thể, tiểu chủ ở thành thị và nông thôn. Do vậy, Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển. Đảng, Nhà nước cũng khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài17. Đại hội IX, tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”18.
Đại hội IX có bước tiến lớn về nhận thức khi đề ra nhiệm vụ “Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội cho mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế. Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm cơ hội và khả năng lựa chọn bình đẳng của các thành phần kinh tế trong tiếp cận về vốn, đất đai, lao động, công nghệ, trong sản xuất, kinh doanh và xuất, nhập khẩu... tiến tới xây dựng một luật áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc các thành phần kinh tế”19. Đây là bước phát triển về lý luận của Đảng đối với KTTN. Chủ trương phát triển KTTN, chủ trương bình đẳng giữa các thành phần kinh tế được Đảng đề ra từ khi bắt đầu đổi mới (1986), nhưng đây là lần đầu tiên Đảng yêu cầu hiện thực hóa chủ trương bình đẳng về cơ hội trong tiếp cận vốn, đất đai, lao động, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và xuất, nhập khẩu. Bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn vốn đầu tư là một trong những bất cập mà các thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước ở Việt Nam chưa được thụ hưởng. Trên tinh thần ấy, NQTƯ 5 khóa IX “về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” được ban hành ngày 18-3-2002. Nghị quyết đánh giá cao vai trò của KTTN, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam. Nghị quyết cũng thẳng thắn thừa nhận quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển KTTN chưa được làm rõ để tạo sự thống nhất cao. Trên tinh thần đó, Nghị quyết thống nhất các quan điểm chỉ đạo phát triển KTTN: Một là, KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Hai là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và định hướng, quản lý sự phát triển của KTTN theo pháp luật, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Ba là, Nhà nước bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng CNXH. Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với KTTN. NQTƯ 5 khóa IX cũng khẳng định Đảng, Nhà nước tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho sự phát triển của KTTN; sửa đổi, bổ sung một số chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, lao động - tiền lương; khoa học và công nghệ để thúc đẩy KTTN phát triển. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện Nghị quyết này trên thực tế còn chậm và chưa hiệu quả.
 
2. Đại hội X (2006) của Đảng tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX về KTTN xác định: “Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản lý tốt”20. Trên cơ sở rút kinh nghiệm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, nhất là NQTƯ 5 khóa IX, Đại hội X tiếp tục coi KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và tiếp tục tinh thần bình đẳng cùng các thành phần kinh tế khác trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Đặc biệt, xuất phát từ tổng kết thực tiễn, cũng lần đầu tiên tại Đại hội X, Đảng đánh giá “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”21. Đây là bước đột phá trong nhận thức lý luận của Đảng về vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Đại hội X tiếp tục khẳng định: “Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu”22, đề ra kế hoạch phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân; đồng thời nêu rõ: “Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin. Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”23.
Như vậy, tại Đại hội X, Đảng đã có bước phát triển vượt bậc trong nhận thức lý luận về KTTN. Điều này thể hiện ở chỗ: 1) Khẳng định vai trò quan trọng của KTTN với tư cách là một trong những động lực của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. 2) Tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng của KTTN trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận cơ hội, nguồn lực kinh doanh. 3) Cho phép KTTN phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Chính những quan điểm lý luận này đã thúc đẩy, tạo cơ hội cho KTTN phát huy sức mạnh nội tại và có cơ hội phát triển ở Việt Nam. Đại hội X cũng chỉ rõ: “Điều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân - một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội”24. Trên cơ sở này, Đại hội X đề ra các chính sách và giải pháp: Một là, tiếp tục phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp tư nhân, không hạn chế quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn. Hai là, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận các nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của Nhà nước, kể cả quỹ hỗ trợ phát triển; được đáp ứng thuận lợi nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Ba là, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn KTTN có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ phần. Bốn là, khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế. Khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân lớn bán cổ phần cho người lao động. Năm là, bảo vệ tài sản hợp pháp của công dân và doanh nghiệp. Loại bỏ các quy định pháp luật không phù hợp về việc khám xét nơi ở và làm việc, tịch thu hoặc tạm giữ tài sản của công dân và doanh nghiệp25. Như vậy, đến Đại hội X, nhận thức lý luận về phát triển KTTN của Đảng đã được hoàn thiện, bổ sung khá đầy đủ, toàn diện về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý.
Đại hội XI (2011) của Đảng tiếp tục tinh thần của các kỳ Đại hội trước, khẳng định các thành phần kinh tế ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, tồn tại lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế, “Khuyến khích phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân”26. Đại hội XI cũng đề ra nhiệm vụ “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”27; “thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân, khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”28; “Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật”29. Có thể nói, Đại hội XI chỉ tiếp tục thực hiện và hiện thực hóa các luận điểm về KTTN mà Đại hội X đã đề cập.
 
3. Đại hội XII (2016) của Đảng tổng kết việc phát triển KTTN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI, chỉ rõ: “Hầu hết doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ, thiếu liên kết, khả năng ứng phó với các rủi ro yếu, nhiều doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động”30. Một trong những nguyên nhân của hạn chế này theo Đại hội XII của Đảng là do “Chưa thật sự phát huy đầy đủ quyền tự do kinh doanh của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật”31.
Đại hội XII của Đảng có một bước tiến mới trong đánh giá vai trò của KTTN ở Việt Nam, khi khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”32. So với Đại hội X, XI, Đại hội XII đã bổ sung thêm tính từ “quan trọng” vào vai trò, vị trí của KTTN. Điều quan trọng nữa là, để bảo đảm bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thực tế, Đại hội XII yêu cầu “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật”33; “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”34.
Để hiện thực hóa chủ trương của Đại hội XII về phát triển KTTN, HNTƯ 5 khóa XII đã  ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017, “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết đánh giá và chỉ ra rằng, KTTN ở Việt Nam kể từ khi thực hiện NQTƯ 5 khóa IX “về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39-40% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế. Nghị quyết cũng thừa nhận phát triển KTTN ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ tổng kết thực tiễn, NQTƯ 5 khóa XII khẳng định: Một là, phát triển KTTN lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan; là một biện pháp để giải phóng sức sản xuất, huy động, phân bổ nguồn lực phát triển. Hai là, KTTN là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Ba là, phải xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển lành mạnh, đúng định hướng. Bốn là, KTTN được phát triển ở tất cả các ngành, các lĩnh vực mà luật pháp không cấm. Năm là, khuyến khích KTTN tham gia góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn. Sáu là, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng phát triển, phát huy đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh35.
Đại hội XIII (2021) của Đảng, trên cơ sở quan điểm của các Đại hội trước về KTTN tiếp tục xác định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”36. Đồng thời, Đại hội cũng khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động”37.
 
4. Nghị quyết số 68-NQ/TƯ, ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị khóa XIII “về phát triển kinh tế tư nhân” đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về KTTN. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về phát triển KTTN; trong đó, lần đầu tiên Đảng đề xuất quan điểm: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”38. Trên cơ sở đó, xóa bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về KTTN Việt Nam; đánh giá đúng vai trò quan trọng của KTTN đối với phát triển đất nước; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp cho KTTN phát triển. Đồng thời, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước, lấy doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nỗ lực vươn lên; tôn vinh, cổ vũ, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật, tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội39. Tiếp đó, Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong phần nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược cũng chỉ rõ “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”40.
Như vậy, trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay, có bốn bước đột phá trong phát triển nhận thức lý luận của Đảng về phát triển KTTN: Một là, Đại hội VI với những nhận thức mới về vai trò, vị trí lâu dài của KTTN; kế thừa tư tưởng của V.I. Lênin, coi “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”. Hai là, Đại hội X, coi KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế với những quan điểm cụ thể hơn về phát triển KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Ba là, Đại hội XII với quan điểm KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế với các quan điểm cụ thể được triển khai ở NQTƯ 5 “về phát triển kinh tế tư nhân” trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bốn là, Nghị quyết số 68-NQ/TƯ, ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị khóa XIII và Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng: phát triển KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đây là kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển KTTN vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, quan điểm KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, cũng là một trong những điểm mới của Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.



 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 12-2025
1, 2, 3, 4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H, 1987, tr. 55, 56, 55-56, 56, 60, 69
7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, H, 1991, tr. 66, 116, 117
10, 11, 12, 13, 14, 15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H,1996, tr. 65-66, 92, 96, 103-104, 114, 158, 164-169
17, 18, 19. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 31, 95-96, 320-321
20, 21, 22, 23, 24, 25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, CTQG, H, 2006, tr. 165, 83, 84, 86-87, 197-180, 236-237
26, 27, 28, 29. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 36, 101, 110-111, 209
30, 31, 32, 33, 34. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 99, 101, 103, 105, 107-108
35. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương, H, 2017, tr. 94-97
36, 37. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 129, 130
38. Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 “về phát triển kinh tế tư nhân”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/thuong-mai
39. Xem: Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025 “về phát triển kinh tế tư nhân”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/thuong-mai
40. “Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Báo Nhân Dân, ngày 15-10-2025.