Tóm tắt: Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, tạo ra bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam nói riêng, cách mạng của 3 nước Đông Dương nói chung. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sự gắn bó, đoàn kết giữa 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập và kháng chiến chống kẻ thù chung được tăng cường, củng cố vững chắc. Năm 1945, cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và Lào đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Nhà nước Lào độc lập ra đời. Đây là thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, đồng thời là thắng lợi của nhân dân 3 nước Đông Dương. Sau sự kiện này, liên minh 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) tiếp tục được tăng cường, góp phần vào thắng lợi to lớn của cách mạng 3 nước, nền hòa bình, độc lập dân tộc của 3 nước được củng cố vững chắc.

Từ khóa: Đảng Cộng Đông Dương; 3 nước Đông Dương; đoàn kết; đấu tranh giành độc lập; kháng chiến

1. Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia (1930-1945)
Tháng 9 - 1858, liên quân  Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sau khi chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và Campuchia, năm 1887, thực dân Pháp lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, dưới sự cai trị của một viên toàn quyền. Thực dân Pháp tiếp tục sáp nhập Lào (năm 1893), Quảng Châu Loan (1900) vào Liên bang Đông Dương. Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX, 3 nước Đông Dương có chung kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược.
Để chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân 3 nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, đặc biệt kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung tháng 10-1930 của Đảng cho rằng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo phong trào cách mạng của cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia; vì 3 nước Đông Dương “tuy tiếng nói, phong tục và nòi giống khác nhau, nhưng về mặt chánh trị và kinh tế thì cần phải liên lạc mật thiết với nhau”1. Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ chánh của Đảng là lãnh đạo cho công nông và quần chúng lao khổ ra tranh đấu để cướp chánh quyền”2; trong bối cảnh hiện tại của Đông Dương lúc này, Nghị quyết chỉ rõ: “Chiếu theo tình hình hiện tại ở Đ.D (Đông Dương – TG) thì nhiệm vụ của Đảng là phải khoách trương phong trào tranh đấu cho đều khắp xứ Đ.D (Đông Dương – TG) phải làm cho phong trào tranh đấu ở những chỗ đã có được thêm sâu thêm mạnh và phải hết sức làm cho phong trào c.m (cách mạng – TG) lan rộng ra những chỗ chưa có”3.
Để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập hệ thống tổ chức đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên. Căn cứ vào tình hình cụ thể, các cấp ủy đảng đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, xây dựng cơ cở của Đảng, cơ sở cách mạng và vận động quần chúng đứng lên đấu tranh mạnh mẽ chống lại ách thống trị của thực dân Pháp xâm lược.
Nhận định về tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân 3 nước Đông Dương, Đảng chỉ rõ: “Phong trào dân tộc ở Đông Dương từ khi bị đế quốc Pháp cai trị đã trải qua nhiều đoạn đấu tranh vẻ vang. Khi ôn hòa, khi đổ máu, tất cả các dân tộc Đông Dương, từ Việt Nam, Miên, Lào đến các dân tộc thiểu số Thổ, Thượng, v.v… đã nhiều lần nổi dậy chống chính sách cướp bóc tàn ác và ách thống trị nặng nề của đế quốc”4.  Khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, xác định nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chủ yếu nhất. Hội nghị đề ra chủ trương cho cách mạng Đông Dương lúc này là phải “đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”5.
Về quan hệ giữa nhân dân các dân tộc Đông Dương, Hội nghị khẳng định: “Không một dân tộc nào có thể giải phóng riêng rẽ vì Đông Dương ở dưới quyền thống trị duy nhất của đế quốc Pháp … Không có thể một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng liên quan đến cả toàn thể nền thống trị của đế quốc Pháp”6. Tuy vậy, Việt Nam, Lào và Campuchia là 3 quốc gia riêng biệt, nên Đảng xác định: “Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình”7. Để trực tiếp lãnh đạo phong trào chống đế quốc, Hội nghị đề ra nhiệm vụ: “Phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những đảng bộ tự trị của các dân tộc thiểu số”8.
Ngày 28-1-1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Dương. Tháng 5-1941, Người triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ Tám. Tại Hội nghị, Đảng đã xác định “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông, mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của Pháp – Nhật”9. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong  lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”10.
Để tập hợp nhân dân mỗi nước đứng lên chống Pháp - Nhật giành độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương coi việc thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập ở Việt Nam tổ chức “Việt Nam độc lập đồng minh” (gọi tắt là Việt Minh). Đối với Lào và Cao Miên, Hội nghị chủ trương giúp đỡ nhân dân hai nước thành lập “Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh”. Trên cơ sở sự ra đời của mặt trận ở mỗi nước, sẽ tiến tới thành lập mặt trận chung của 3 nước Đông Dương là “Đông Dương độc lập đồng minh”.
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Cũng đúng vào thời điểm đó, đã diễn ra Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp tại Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngày 12-3-1945) Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ đảng “thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa; động viên mau chóng quần chúng nhân dân lên mặt trận cách mạng, tập dượt cho quần chúng mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa”. Chỉ thị yêu cầu các địa phương “Phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, để làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa” và “sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”11.
Tháng 8 - 1945, chớp thời cơ Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Song do điều kiện mỗi nước, khởi nghĩa diễn ra và giành thắng lợi ở mức độ khác nhau.
Tại Việt Nam, trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Tuyên Quang xác định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập dân tộc đã tới”12. Hội nghị quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào vào Đông Dương. Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và truyền đi bản Quân lệnh số 1 ban bố lệnh khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 16-8-1945, tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đại hội Quốc dân được tổ chức. Đại hội thông qua Mệnh lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước đã đứng dậy khởi nghĩa thành công trên toàn quốc. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.
Tại Lào, ngày 14-8, Xứ ủy Ai Lao thành lập Ban Chỉ đạo khởi nghĩa Viêng Chăn. Đến ngày 23-8, với sự phối hợp, giúp đỡ của cán bộ và người Việt ở Lào, cuộc khởi nghĩa Viêng Chăn giành thắng lợi. Cùng với khởi nghĩa Viêng Chăn, khởi nghĩa còn diễn ra thắng lợi tại một số tỉnh khác như: Thà Khẹc, Xavănnakhet,… Từ những thắng lợi đó, ngày 12-10-1945, Chính phủ Lào Issala được thành lập13. Trong khi đó, ở Campuchia, do cơ sở đảng bị khủng bố và do chính quyền thân Nhật còn mạnh, nên cuộc tổng khởi nghĩa không thực hiện được.
Đánh giá về ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám đối với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trước ngày Cách mạng tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. “Cách mạng tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”14.
Về ý nghĩa cuộc Cách mạng tháng Tám của Việt Nam đối với cách mạng thế giới và cách mạng 3 nước Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Cách mạng tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập”15.
Đánh giá ý nghĩa của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Lào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane khẳng định: “Đây là thắng lợi đầu tiên của nhân dân ta trở lại làm chủ đất nước và vận mệnh của mình sau hơn một trăm năm sống dưới ách nô lệ và bị chia cắt. Thắng lợi đó đã mở đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên mà nhân dân ta được huy động và tự giác tham gia vào cuộc chiến đấu sống còn với kẻ thù để cứu nhà, cứu nước”16.
Thành công của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 khẳng định đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng, đường lối kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản với thực tiễn cách mạng ở 3 nước Đông Dương. Đường lối cách mạng đúng đắn này tiếp tục được Đảng Cộng sản Đông Dương và sau này là 3 Đảng của 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đem lại nền hòa bình, độc lập trọn vẹn cho 3 nước vào mùa Xuân năm 1975.
2. Liên minh 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975)
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và nhà nước Lào độc lập ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp gây chiến và từng bước đánh chiếm Việt Nam, sau đó đánh chiếm sang Campuchia và Lào. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai, thực dân Pháp vẫn coi Đông Dương là một chiến trường, đặt Đông Dương trong một thể thống nhất về chính trị, quân sự, kinh tế. Tuy vậy, để dễ bề thống trị, năm 1949, Pháp lập ra các chính phủ bù nhìn “Quốc gia Việt Nam”, “Vương quốc Cao Miên”, “Vương quốc Lào” và bày trò “trao trả độc lập” cho các chính quyền này; đặt Lào, Campuchia và Việt Nam trong “Khối các quốc gia liên kết” dưới quyền cai trị của hệ thống cao ủy và tư lệnh quân đội Pháp.
Trước âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhận rõ được kẻ thù chung của 3 dân tộc và khẳng định quyết tâm đoàn kết nhân dân 3 nước, tiếp tục chiến đấu giành lại độc lập trọn vẹn.
Sau khi Chính phủ Lào Issala được thành lập, ngày 16-10-1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký với Chính phủ Lào Hiệp ước tương trợ Lào- Việt; ngày 30-10, ký Hiệp ước về Tổ chức Liên quân Lào-Việt17. Đây là những văn kiện chính thức đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ độc lập Lào, tạo cơ sở pháp lý để hai dân tộc hợp tác, liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Đầu năm 1947, Đặc ủy kiều bào và Tổng hội Việt kiều cứu quốc quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Lào-Miên.
Thu Đông năm 1947, với việc đánh bại cuộc tấn công của quân đội Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc, nhân dân Việt Nam đã làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo điều kiện xây dựng lực lượng kháng Pháp ở 3 nước Đông Dương. Năm 1948, Ban Xung phong Lào-Bắc được thành lập để xây dựng lực lượng kháng chiến phía Bắc Lào và xúc tiến việc thành lập Khu giải phóng Lào. Năm 1949, căn cứ vào sự phát triển của cách mạng 3 nước, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (tháng 1-1949) quyết định mở rộng mặt trận Miên-Lào. Tháng 2-1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức hội nghị quán triệt Đề cương cách mạng Miên- Lào, chủ trương lập Ban Lào-Miên để nắm bắt tình hình và xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
 Năm 1950, Chiến dịch Biên giới của Việt Nam giành thắng lợi đã khai thông cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới. Năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam phát triển mạnh, đưa cuộc kháng chiến của 3 nước Đông Dương sang giai đoạn mới. Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, tại Đại hội II (2-1951) của Đảng, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập ở mỗi nước tổ chức đảng riêng để trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến. Tại Việt Nam, tháng 2-1951, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam. Tại Campuchia, tháng 7-1951, Đảng Nhân dân cách mạng Khơme được thành lập và tháng 3-1955, Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập.
Về việc tăng cường đoàn kết giữa nhân dân 3 nước Đông Dương, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội II (1951) của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên-Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kẻ thù của chúng ta và của cả dân tộc Miên-Lào. Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên-Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên-Lào và tiến tới thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt-Miên-Lào”18.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội II của Đảng, ngày 11-3-1951, Hội nghị đoàn kết nhân dân 3 nước Đông Dương được triệu tập tại Tuyên Quang, Việt Nam. Dự Hội nghị có đại biểu của Mặt trận Liên Việt (Việt Nam), Mặt trận Khơme (Campuchia), Mặt trận Issala (Lào). Hội nghị quyết định “Thành lập Liên minh nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau; định ra một chương trình hành động chung của liên minh ba nước”. Hội nghị nhất trí xác định: “Ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia đều có kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Cuộc kháng chiến của ba dân tộc là một bộ phận khăng khít của phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Nhiệm vụ của cách mạng tại ba nước Đông Dương là đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập, xây dựng ba quốc gia mới, làm cho nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ”19. Việc thành lập Liên minh Việt-Miên-Lào là một bước tiến mới của sự nghiệp đoàn kết đấu tranh của nhân dân 3 nước Đông Dương chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ.
Sau khi Liên minh Việt-Miên-Lào được thành lập, việc phối hợp chiến đấu giữa nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia được nâng lên tầm cao mới. Để giúp đỡ và phối hợp chiến đấu, Chính phủ Việt Nam đã thành lập các đoàn chuyên gia và quân tình nguyện sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia. Các chuyên gia và bộ đội tình nguyện Việt Nam đã đoàn kết, giúp đỡ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân Lào, Campuchia xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang quần chúng, phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Trong những năm 1952-1954, thắng lợi của sự hợp tác và liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia trên mọi chiến trường đã góp phần rất quan trọng làm thất bại Kế hoạch Nava của Pháp, giành thắng lợi quyết định ở chiến trường Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký Hiệp định Geneve, buộc chính phủ Pháp phải “cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Cao Miên, Lào và Việt Nam”, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp trên toàn Đông Dương vào năm 1954.
Sau năm 1954, thế chân thực dân Pháp, Mỹ trực tiếp can thiệp và xâm lược 3 nước Đông Dương. Đông Dương lại trở thành một chiến trường và nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia lại một lần nữa đứng lên, đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc.
Trong giai đoạn từ 1954 đến năm 1964, với sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân 3 nước, nhân dân Lào đã đánh bại chiến lược hai mặt phản cách mạng của Mỹ và chính quyền tay sai, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, đưa đến việc ký kết Hiệp định Geneve năm 1962 về Lào. Với tư cách là một trong những nước ký kết Hiệp định, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ngừng đấu tranh đòi Mỹ và phái hữu ở Lào cũng như các nước hữu quan khác nghiêm chỉnh thực hiện những điều đã ký kết, bảo đảm nền trung lập của Lào.
Tại Campuchia, nhân dân Campuchia đấu tranh kiên cường chống lại âm mưu đe dọa, gây sức ép của Mỹ, giữ vững đường lối hòa bình, trung lập của mình.
Tại Việt Nam, nhân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Thắng lợi của nhân dân Lào và Campuchia cùng với thắng lợi của nhân dân Việt Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, đưa sự nghiệp đấu tranh của nhân dân 3 nước bước sang thời kỳ mới.
Để đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia, giữa năm 1964, Mỹ dùng không quân tiến công vùng giải phóng Lào; năm 1965, đưa quân trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam; tăng cường đe dọa, gây sức ép đối với Campuchia.
Trước hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ, tháng 3-1965, đoàn đại biểu 3 nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã tổ chức Hội nghị nhân dân Đông Dương ở Phnôm Pênh, Campuchia và ra tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt ngay hành động khiêu khích và xâm lược chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút ngay khỏi Lào những lực lượng vũ trang, nhân viên quân sự và vũ khí đạn dược, chấm dứt ngay hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và đồng minh của Mỹ ở Campuchia. Hội nghị này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong thư gửi Quốc vương Norodom Sihanouk, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hội nghị nhân dân Đông Dương... đã đánh dấu bước tiến lớn trong sự nghiệp đoàn kết, chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược”20.
Với sự phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung, đến năm 1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân 3 nước Đông Dương giành được những thắng lợi quan trọng. Để cứu vãn nguy cơ thất bại, Mỹ tiến hành đảo chính ở Campuchia, lật đổ chính phủ trung lập và trực tiếp đưa quân xâm lược Campuchia và Lào, mở rộng quân tham chiến ra toàn Đông Dương. Ngay sau khi Mỹ đưa quân xâm lược Campuchia, Chính phủ 3 nước đã quyết định tổ chức Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương bàn sự hợp tác cùng chống Mỹ xâm lược. Hội nghị “Khẩn thiết kêu gọi nhân dân ba nước hơn bao giờ hết hãy đề cao cảnh giác, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở ba nước cho tới thắng lợi hoàn toàn”21. Hội nghị cấp cao nhân dân 3 nước Đông Dương đã tăng cường tình đoàn kết giữa 3 dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia trong một giai đoạn mới, phát triển toàn diện, vượt bậc và vững chắc.
Với sự nhất trí đẩy mạnh đoàn kết cùng chống kẻ thù chung, từ năm 1965 đến năm 1975, nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã hợp sức đánh bại các chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, các cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam; làm phá sản “chiến tranh đặc biệt”, rồi “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mỹ ở Lào; đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Khmer hóa chiến tranh”, “Lào hóa chiến tranh” của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Hiệp định Viêng Chăn, năm 1973 về Lào.
Việc ký Hiệp định Paris và Hiệp định Viêng Chăn năm 1973 đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân 3 nước Đông Dương sang giai đoạn mới. Đỉnh cao của quan hệ đoàn kết chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương là sự phối hợp hành động trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã nhất loạt nổi dậy làm cho Mỹ và chính quyền tay sai ở 2 nước không thể đối phó nổi. Ngày 17-4-1975, với sự chi viện của Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng cách mạng Campuchia giải phóng thủ đô Phnom Pênh. Ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh của nhân dân Việt Nam toàn thắng, thành phố Sài Gòn và toàn miền Nam Việt Nam được giải phóng. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam và Campuchia tạo thêm những điều kiện hết sức thuận lợi, mang tính chất nhân tố trực tiếp cho cách mạng Lào giành thắng lợi quyết định vào tháng 5-1975.
Nói về sự phối hợp chiến đấu và sự giúp đỡ lẫn nhau giữa nhân dân 3 nước tromg cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cayxon Phomvihan khẳng định: “là sự giúp đỡ bằng tính mạng, xương máu và sức lực, là sự giúp đỡ trên tinh thần “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, sự giúp đỡ trên tinh thần quốc tế vô sản chân chính và không tính toán đến sự đền đáp”22.
Như vậy, thắng lợi vĩ đại trong mùa Xuân năm 1975 của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia là sự tiếp nối cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc được mở đầu bằng Cách mạng tháng Tám năm 1945; là thắng lợi của đường lối kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng; là sự phát triển toàn diện và vững chắc của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân 3 nước từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh của 3 dân tộc. Đánh giá về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam, Đại hội IV (1976) của Đảng khẳng định: “Thắng lợi của chúng ta cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, của mối quan hệ đặc biệt đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ thù chung của ba dân tộc23.
Sự đoàn kết giữa 3 dân tộc là động lực để nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết hoàn thành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đem lại hòa bình, độc lập, thống nhất cho 3 dân tộc. Hiện nay, tình đoàn kết giữa 3 nước, 3 dân tộc tiếp tục là động lực để nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia vượt qua khó khăn, thách thức xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tình đoàn kết giữa nhân dân 3 nước tuy có lúc thăng trầm khác nhau, song nó đã trở thành quy luật, tài sản vô giá của 3 dân tộc và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân 3 nước tiếp tục phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.
 


1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 2, tr. 111, 108, 111
4, 5, 6, 7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 6, tr. 531, 539, 541, 541-542, 561
9, 10, 11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 7, tr. 112, 113, 367, 423
13. Xem: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930-2007) – Biên niên sự kiện, Nxb CTQG, H, 2011, T. 1, tr. 112-117
14, 15, 18, 20. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 7, tr. 26, 27, 40, 509