Tóm tắt: Nhận định về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng khẳng định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động nhanh, sâu rộng đến mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Tiến bộ công nghệ có thể làm thay đổi bản chất của thương mại, đầu tư và lao động toàn cầu, tạo cơ hội cho các nước đi sau tăng tốc phát triển nhưng cũng có thể khiến cho các khâu sản xuất có thể chuyển ngược trở lại các quốc gia phát triển, làm hạn chế dòng dịch chuyển vốn toàn cầu”1 . Trong đó tập trung phát triển kinh tế số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược để phát triển nền kinh tế Việt Nam, góp phần giảm bớt khoảng cách tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế trên thế giới. Đây là một trong những quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển mới được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII (2021) của Đảng và được coi là bước đổi mới tư duy lý luận của Đảng về kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Kinh tế số; Đảng Cộng sản Việt Nam; Đại hội XIII
1. Quá trình hình thành quan điểm phát triển kinh tế số trước Đại hội XIII của Đảng
Trên thực tế, trong 10 năm qua, kinh tế số Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh. Với dân số hơn 96 triệu người, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số ở mức khá trong khu vực ASEAN. Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện xu hướng số hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế... Đến nay, Việt Nam có khoảng 64 triệu người dùng internet, trung bình 1 ngày người Việt dành 3 giờ 12 phút sử dụng internet trên thiết bị di động như điện thoại thông minh; việc sử dụng tập trung vào nhóm các ứng dụng mạng xã hội và truyền thông liên lạc (52%), ứng dụng xem video (20%) và game (11%), cùng các ứng dụng cho công việc2.
“Kinh tế số” là một thuật ngữ không phải mới mẻ, đã được đề cập khá lâu trước khái niệm “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Tuy nhiên, chỉ khi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện thì kinh tế số mới được nhắc đến nhiều hơn và trở thành xu thế phát triển, vì nó gắn với công nghệ hiện đại như: Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số...3. Theo định nghĩa của nhóm cộng tác kinh tế số của Trường Đại học Oxford, kinh tế số là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet”4.
Ở Việt Nam, kinh tế số được hiểu là toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số và phát triển kinh tế số sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Trong đó công nghệ số là một bước phát triển ở trình độ cao hơn của công nghệ thông tin (CNTT) với sự xuất hiện một số công nghệ mang tính đột phá của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới, cả các nước phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đều rất coi trọng phát triển kinh tế số, coi đây là bước phát triển mới, mô hình kinh tế mới trong tương lai và đều đưa ra các giải pháp để chuyển đổi sang kinh tế số. Ở Việt Nam, kinh tế số đã dần được định hình rõ nét hơn.
Trước khi thuật ngữ “kinh tế số” được đưa vào trong chiến lược, mục tiêu phát triển tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng thì trong các văn kiện trước đó, Đảng đã chủ trương phát triển “kinh tế tri thức” mà nền tảng của nó chính là sự phát triển của CNTT.
Phát triển kinh tế tri thức được đề cập đầu tiên tại Đại hội IX (2001), đây được coi là cách thức để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước, “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian... Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến... từng bước phát triển kinh tế tri thức”5. Tư tưởng này tiếp tục được kế thừa tại Đại hội X (2006) với chủ trương: “Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa”6. Đại hội XI (2011) tiếp tục đưa ra những quan điểm cụ thể hơn về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Đảng khẳng định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”7. Để phát triển kinh tế tri thức, Đảng đã đưa ra phương hướng: “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”8. Đây là phương hướng tổng quát, vừa có ý nghĩa trước mắt, vừa định hướng lâu dài trong mục tiêu phát triển. Với làn sóng phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và sớm có nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi sang nền kinh tế số. Ngày 1-7-2014, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 36-NQ/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”. Đây là văn bản hết sức quan trọng, mang tầm chiến lược, đề ra những định hướng lớn cho sự phát triển ngành CNTT nước ta trong thời kỳ mới, một trong những quan điểm chỉ đạo quan trọng là: ứng dụng, phát triển CNTT là một yếu tố quan trọng trong bảo đảm thực hiện thành công ba đột phá chiến lược, cần được chú trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể hóa định hướng và nội dung cho việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, ngày 15-4-2015, Chính phủ ra Nghị quyết số 26/NQ-CP “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”, xác định rõ mục tiêu để CNTT thực sự trở thành phương thức phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hoạt động góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đến Đại hội XII (2016), Đảng tiếp tục chủ trương phát triển kinh tế tri thức với những thành tựu của khoa học, công nghệ cùng với các yếu tố khác về nhân lực làm động lực chủ yếu: “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”9. Như vậy, việc phát triển kinh tế tri thức với việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó nhận định “Kinh tế số được hình thành, phát triển nhanh, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế; công nghệ số được áp dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ”10 và yêu cầu phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số.
Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 14-1-2020, “Về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam” đã đưa ra nhận định: “Dựa trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, học máy sâu, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, internet vạn vật,...), chuyển đổi số đang tạo ra không gian phát triển mới - kinh tế số, xã hội số, chính phủ điện tử... Theo mô hình của một số nước có nền kinh tế phát triển dựa trên các doanh nghiệp công nghệ số, đến năm 2030, Việt Nam cần ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số để phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, ứng dụng thành tựu công nghệ số rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và thực hiện chuyển đổi số quốc gia. Bốn loại doanh nghiệp công nghệ số cần tập trung phát triển bao gồm: (i) Các tập đoàn, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ lớn trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực công nghệ số, đầu tư nghiên cứu công nghệ lõi; (ii) Các doanh nghiệp công nghệ thông tin đã khẳng định được thương hiệu đảm nhận các sứ mệnh tiên phong nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ số và chủ động trong sản xuất; (iii) Các doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới trong các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội; và (iv) Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo về công nghệ số”11. Ngày 3-6-2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg “Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, Việt Nam thuộc nhóm ít các nước trên thế giới sớm ban hành chiến lược chuyển đổi số quốc gia, chiến lược về một quốc gia số. Chương trình đề ra mục tiêu: Đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; năm 2030 chiếm 30% GDP. Năm 2025, 50% dân số có tài khoản thanh toán điện tử và đến năm 2030 là trên 80%...12. Với việc Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển kinh tế số trên nền tảng công nghệ mới, nhiều ứng dụng công nghệ số được sử dụng mạnh mẽ và rộng rãi đặc biệt trong năm 2020, kinh tế số đã có nhiều đóng góp thiết thực trong sự hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi công nghệ toàn cầu.
Như vậy, Đảng, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng của công nghệ số. Đón bắt xu hướng phát triển cũng như thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất ở đa dạng các ngành nghề, cho thấy sự nhanh, nhạy và năng động của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mới.
2. Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế số của Đại hội XIII
Thế giới bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với tốc độ phát triển nhanh và mạnh hơn nhiều so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi mà Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong đó, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và khả năng tụt hậu xa hơn về kinh tế vẫn là thách thức lớn.
Đại dịch Covid-19 đã phần nào thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế số đi nhanh hơn. Việt Nam đã phát triển nhiều phương thức trực tuyến trong điều hành, làm việc, đào tạo của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, trường học,... Hiện nay, phổ biến nhất trong các doanh nghiệp đó là số hóa trong lưu trữ, xử lý dữ liệu từ sản xuất đến đưa sản phẩm ra thị trường. Mạng lưới 5G của Việt Nam cũng đang thử nghiệm, dự kiến bắt đầu triển khai từ năm 2021.Tại Việt Nam, mức giá cước dịch vụ Internet vừa phải, cước dịch vụ internet băng thông rộng cố định ở mức thấp nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cùng với đó, thương mại điện tử, giao dịch kinh tế không dùng tiền mặt ngày càng phát triển tại Việt Nam, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp kịp thời nắm bắt, ứng dụng các công cụ của kinh tế số cũng như quá trình thực hiện Chính phủ điện tử được triển khai nhanh và quyết liệt hơn13.
Để đạt được mục tiêu mà Đại hội XIII (2021) của Đảng đề ra, đến năm 2025 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao14, một trong những nhiệm vụ trọng tâm, bước đột phá chiến lược là tập trung phát triển mạnh mẽ kinh tế số. Bởi lẽ, kinh tế số được xác định là động lực phát triển quan trọng để đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh trở thành quốc gia có công nghệ phát triển, đưa nền kinh tế Việt Nam thay đổi về chất và có bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình phát triển mới.
Nếu như các kỳ Đại hội trước mới chỉ đề cập đến phát triển kinh tế tri thức thì Đại hội XIII đã nhấn mạnh phát triển kinh tế số, xã hội số. Đây là một chủ trương mới, mang tính đột phá và là một bước tiến rất quan trọng phù hợp xu thế tất yếu của thế giới, chủ động đón làn sóng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Đại hội XIII của Đảng đề ra 12 định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn 2021-2030, trong đó, định hướng thứ hai xác định: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước... đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”15. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đưa ra 5 quan điểm phát triển, trong đó quan điểm thứ nhất xác định: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”16. Phát triển kinh tế số được Đại hội XIII đưa thành một trong những chỉ tiêu chủ yếu của phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong những năm tới: Đến năm 2025, kinh tế số phải đạt khoảng 20% GDP17; đến năm 2030, kinh tế số đạt khoảng 30% GDP18.
Để thực hiện các định hướng, quan điểm và chỉ tiêu về phát triển kinh tế số, Đại hội XIII đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
- Tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIII đã nhấn mạnh rất rõ CNH, HĐH phải dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để có sự bứt phá, vượt lên trong một số ngành, lĩnh vực, đồng thời “Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và phát triển kinh tế số”19.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII yêu cầu phải quan tâm tới thể chế cho phát triển kinh tế số, “Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới”20. Chủ trương này còn được cụ thể hóa, thể hiện rõ hơn trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, “Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý, thử nghiệm cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số, phát triển các mô hình kinh tế mới, khởi nghiệp sáng tạo, cung cấp dịch vụ công, quản lý và bảo vệ môi trường...”21, “Thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số”22.
- Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây là một nội dung lớn, chính thức được đề ra từ Đại hội XI và được tiếp tục thực hiện trong Đại hội XII, Đại hội XIII. Đại hội XIII nhấn mạnh mô hình tăng trưởng mới cần tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế số, không chỉ cho cả nền kinh tế nói chung mà còn cho từng ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng.
Về công nghiệp, “Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghiệp sản xuất rôbốt, ôtô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an toàn thông tin, công nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu”23. Việc phát triển doanh nghiệp CNTT, viễn thông, công nghệ số cũng được nhấn mạnh: “Phát triển một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, doanh nghiệp số chủ lực thực hiện tốt vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ số, làm nền tảng cho nền kinh tế số, xã hội số gắn với bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”24. Về nông nghiệp, cần “phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, vùng chuyên canh hàng hóa chất lượng cao. Phát triển mạnh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái”25. Về dịch vụ, “Đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ số”26, nhất là với các dịch vụ viễn thông và CNTT, logistic, vận tải, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, pháp lý, kế toán, kiểm toán, y tế, giáo dục đào tạo... Về kết cấu hạ tầng, “xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại”27, “Xây dựng hạ tầng số và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật an toàn, an ninh thông tin”28.
Phát triển kinh tế số được đưa thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII. Nhiệm vụ trọng tâm thứ hai xác định “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”29. Đột phá chiến lược thứ ba có nội dung “chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”30.
Từ mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế số cũng như những nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển kinh tế số theo chủ trương của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII đề ra cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau: Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách để thúc đẩy kinh tế số phát triển. Thứ hai, thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện, trong đó thúc đẩy chuyển đổi số trong các doanh nghiệp, phát triển các nền tảng số trong các ngành, lĩnh vực kinh tế. Thứ ba, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực. Thứ tư, xây dựng, phát triển hạ tầng số.
Có thể thấy, trước làn sóng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số đang từng bước được vận dụng vào trong mọi mặt hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của đất nước. Đối với kinh tế, việc số hóa nền kinh tế là động lực đặc biệt quan trọng và chủ yếu cho mô hình tăng trưởng kinh tế mới và là một trong những khâu đột phá quan trọng để phát triển nền kinh tế Việt Nam, góp phần giảm bớt khoảng cách tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế trên thế giới. Tập trung phát triển mạnh mẽ nền kinh tế số, đưa nền kinh tế Việt Nam thay đổi về chất và có bước nhảy vọt trong tiến trình phát triển mới là một trong những quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển mới của Đại hội XIII của Đảng. Đây được coi là bước đổi mới tư duy lý luận của Đảng về kinh tế trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và xu thế phát triển thế giới.

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 10/2021
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
** Đại học Bách Khoa Hà Nội
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. II, tr. 89
2. Đàm Thị Hiền: “Phát triển kinh tế số ở Việt Nam: Thách thức và gợi ý giải pháp”, dẫn theo https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam-thach-thuc-va-goi-y-giai-phap-335725.html , ngày 7-7-2021
3. Xem Phạm Việt Dũng: “Kinh tế số-cơ hội “bứt phá” cho Việt Nam”, Trang thông tin điện tử Hội đồng lý luận Trung ương, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/kinh-te-so---co-hoi-but-phacho-viet-nam.html, ngày 25-8-2020
4. Đặng Văn Sáng: “Xu hướng phát triển kinh tế số trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam”, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/xu-huong-phat-trien-kinh-te-so-tren-the-gioi-va-ham-y-cho-viet-nam-330697.html, ngày 20-12-2020
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 91
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 28-29
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 183, 220
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 90
10. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019 “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Nghi-quyet-52-NQ-TW-2019-chinh-sach-chu-dong-tham-gia-cuoc-Cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-425113.aspx
11. Thủ tướng Chính phủ: Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 14-1-2020 “Về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Chi-thi-01-CT-TTg-2020-thuc-day-phat-trien-doanh-nghiep-cong-nghe-so-Viet-Nam-438985.aspx
12. Xem Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 3-6-2020 “Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Quyet-dinh-749-QD-TTg-2020-phe-duyet-Chuong-trinh-Chuyen-doi-so-quoc-gia-444136.aspx
13. Xem Tô Trọng Hùng: “Nhận thức về kinh tế số và một số giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam”, dẫn theo https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nhan-thuc-ve-kinh-te-so-va-mot-so-giai-phap-phat-trien-nen-kinh-te-so-o-viet-nam-81304.htm, ngày 10-6-2021
14. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 112
15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 114-115, 214, 113, 218, 123, 132, 223, 225, 245, 247, 241, 247, 249, 250-251, 200-201, 204.