Tóm tắt: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn coi trọng lĩnh vực văn hóa. Đảng đã ban hành nhiều văn kiện để định hướng, lãnh đạo lĩnh vực đặc biệt quan trọng này. Sau 35 năm Đảng khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng, phát triển và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Nghiên cứu các quan điểm của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đổi mới, có thể thấy sự sáng tạo, tính cách mạng, khoa học trong tư duy lý luận của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa-con người Việt Nam, từ năm 1986 đến nay. Bên cạnh đó, cần chú ý một số vấn đề đặt ra để tiếp tục xây dựng, phát triển, phát huy giá trị văn hóa-con người Việt Nam hiện đại, trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh mềm của dân tộc như Đại hội XIII của Đảng đề ra.
Từ khóa: Quan điểm của Đảng; tư duy lý luận; giá trị văn hóa Việt Nam; đổi mới
1. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng
Từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề văn hóa và phát triển văn hóa chiếm vị trí trung tâm trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các văn kiện Đại hội, nghị quyết của Đảng ban hành thể hiện nhận thức, tư duy lý luận toàn diện của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Phát triển văn hóa luôn gắn với phát triển toàn diện con người Việt Nam, vừa giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa hiện đại, phù hợp với tiến trình phát triển văn hóa, văn minh thế giới đương đại.
Về vai trò của văn hóa (bao hàm cả văn học, nghệ thuật.), Đại hội VI của Đảng (12-1986) khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”1. Đề cao vai trò của văn hóa trong đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng, nhận thức, dứt khoát xóa bỏ cơ chế cũ không còn phù hợp, tìm tòi xây dụng cơ chế mới, Đảng nhấn mạnh: đồng thời với xây dựng kinh tế, phải coi trọng các vấn đề văn hóa, tạo ra môi trường văn hóa phù hợp cho sự phát triển, lấy văn hóa làm động lực và mục tiêu của đổi mới. Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28-11-1987 của Bộ Chính trị (khóa VI) “Về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”, khẳng định: “... văn hóa là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa là một động lực mạnh mẽ đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”2. Nghị quyết cũng đã có sự điều chỉnh mới cả nội dung và cách diễn đạt để thành luận điểm: “Nền văn hóa mới Việt Nam xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin là một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc”3. Với nhận thức đó, Đảng đã phê phán quan niệm khá phổ biến trước đây coi văn hóa là hoạt động phi sản xuất, có tính tiêu dùng, hoặc chỉ là phương tiện giản đơn nhằm tuyên truyền cho chính trị. Nghị quyết chỉ rõ: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người”4. Nghị quyết nêu bật sức mạnh của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, trong các văn kiện Đảng nhấn mạnh tác dụng của văn hóa trong việc góp phần thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng con người mới XHCN, có chức năng bồi dưỡng đạo đức, tình cảm và năng lực thẩm mỹ cho con người, thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng tăng của nhân dân.
Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, tháng 7-1998, HNTƯ5 khóa VIII thông qua Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”5. Nghị quyết này được coi là cương lĩnh phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới. Nội dung của Nghị quyết đưa ra nhiều quan điểm, luận điểm định hướng mang tính khoa học và tầm nhìn xa của Đảng, nổi bật là luận điểm phải làm cho văn hóa biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển. Đây là Nghị quyết chuyên đề sâu sắc và toàn diện, có ý nghĩa chiến lược lâu dài về văn hóa của Đảng, kể từ sau khi Đảng ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam, năm 1943. Nghị quyết mở ra một bước ngoặt trong tư duy lý luận về vai trò của văn hóa, trở thành một cương lĩnh hành động trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Như vậy, từ năm 1986 đến năm 1998, qua hơn ba nhiệm kỳ Đại hội Đảng, đến HNTƯ 5 khóa VIII, nội hàm của luận điểm phát triển văn hóa của Đảng đã phát triển rất rộng, song về cơ bản, tiếp cận từ các văn kiện của Đảng, có thể khái quát thành ba nội dung chính sau:
Thứ nhất, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với phát triển văn hóa. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, văn hóa là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương; phải là chất kết dính, điều tiết, lành mạnh hóa quan hệ cộng đồng, xã hội, thật sự là nền tảng tinh thần của xã hội.
Thứ ba, gắn kết thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, bảo đảm sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước.
Luận điểm về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được thể hiện nhất quán và có sự phát triển trong phương hướng, quan điểm và những định hướng nhiệm vụ trong các văn kiện Đại hội IX, X, XI, XII, XIII của Đảng và nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị các nhiệm kỳ.
Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội IX (tháng 4- 2001) của Đảng dành riêng phần V (trong 10 phần) để bàn về việc “phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đại hội tiếp tục khẳng định “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội”6. Đại hội IX xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Để đạt được mục tiêu đề ra, các chương trình hành động cũng phải được triển khai đồng bộ: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”, phong trào “Người tốt, việc tốt”, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người ”7.
Phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng
Đến Đại hội X (tháng 4-2006), Đảng đề cao vai trò của văn hóa trong chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đồng thời ngăn chặn “luồng văn hóa độc hại” xâm nhập vào nước ta từ nhiều con đường khác nhau. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TƯ, ngày 16-6-2008, về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm giữ gìn, bảo vệ “bản sắc văn hóa dân tộc” trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đồng thời, Đại hội khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”8. Đây là sự khẳng định lại và tiếp nối quan điểm về văn hóa từ những kỳ Đại hội trước. Đồng thời, Đại hội X của Đảng đề ra yêu cầu đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống
Trên thực tế, thực hiện chủ trương trên của Đảng, từ năm 1998 đến năm 2008, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo vệ và phát huy giá trị, công tác xã hội hóa đã thu hút đông đảo các tổ chức và cá nhân tham gia bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa, góp phần tích cực giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Phát triển sâu sắc tư duy văn hóa từ con người, vì con người; xây dựng văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội
Đại hội XI (1-2011) của Đảng đã đề cập đến vấn đề văn hóa và phát triển với những nhận thức sâu sắc hơn, ngày càng đề cao vị trí, vai trò của văn hóa, tiếp cận với bản chất đích thực, vốn có của văn hóa là từ con người, vì con người. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng không chỉ nhấn mạnh “tính văn hóa” trong mọi hoạt động của đời sống xã hội mà đã đặt vấn đề đưa văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả trong mọi hoạt động cả chính trị và kinh tế: “Đưa phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,”9 và coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”10. Đặc biệt, với việc Nghị quyết HNTƯ 9 khóa XI (Nghị quyết 33-NQ/TW), ngày 9-6-2014 “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã khẳng định mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”11.
Phát triển toàn diện con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết Đại hội XII (1-2016) của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật”12. Đồng thời, Đại hội XII cũng định hướng phải huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc. Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội.
Những điểm mới về văn hóa nêu trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng phản ánh bước tiến về tư duy lý luận của Đảng, là những định hướng chính trị cho toàn Đảng, toàn dân phấn đấu triển khai, tạo những chuyển biến mới trong đời sống văn hóa, xã hội.
Phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam
Tại Đại hội XIII (1-2021) của Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình bày tại Đại hội XIII, nhấn mạnh việc “phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam”. Đặc biệt đã nhấn mạnh: trong mối quan hệ với kinh tế, văn hóa được xem là nguồn lực nội sinh, là “sức mạnh mềm” (thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội XIII) để thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước. Chính vì vậy, trong giai đoạn tiếp theo cần phải “tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”13. Đây là một trong những nội dung mới trong công tác phát triển văn hóa. Việc nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa dân tộc có ý nghĩa quan trọng, bởi trong văn hóa, giá trị là sự kết tinh những gì tinh túy nhất, được hình thành trong lịch sử, được thời gian kiểm nghiệm, chứng minh, là niềm khát khao vươn đến của mỗi người. Khi xác định và xây dựng được hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa dân tộc sẽ góp phần định hướng, giáo dục, điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của con người theo hướng tiến bộ, tích cực. Chỉ khi nào xã hội tạo được sự phát triển hài hòa, cân đối giữa giá trị, nhu cầu vật chất và giá trị, nhu cầu tinh thần, văn hóa, khi đó xã hội mới phát triển bền vững.
2. Một số kết quả
Sau 35 năm Đảng khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã đạt kết quả quan trọng. Qua việc ban hành nhiều văn kiện về văn hóa, cho thấy sự sáng tạo, tính cách mạng và khoa học trong tư duy lý luận của Đảng; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên.
Kết quả sự lãnh đạo phát triển văn hóa của Đảng được khẳng định trong thực tiễn đổi mới, phát triển đất nước; được thế giới ghi nhận, đánh giá cao. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng. Những phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Gia đình văn hóa”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với cuộc vận động “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đang tạo ra một cuộc sống tinh thần mang tính cộng đồng cao trong làng, xã trên phạm vi cả nước
Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo. Điển hình là 26 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, 105 di tích quốc gia đặc biệt; 3.461 di tích quốc gia; khoảng 10.000 di tích cấp tỉnh/thành; 271 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia (trong số gần 69.000 di sản) đã được công nhận; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm như (Lễ hội Hoa Tam giác mạch ở Hà Giang, Lễ hội trái cây ở Bắc Giang, Lễ hội hoa Ban ở Điện Biên, Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ, Lễ hội sen Đồng Tháp, lễ hội dừa Bến Tre), nhất là các hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc (Lễ hội Óc om bóc và Đua ghe Ngo của đồng bào Khơ Me, Lễ hội dân tộc Chăm) góp phần gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy du lịch phát triển. Đây là những tài sản vô giá và là sản phẩm văn hóa-du lịch phục vụ thiết thực nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tích cực đưa văn hóa trở thành động lực của phát triển kinh tế-xã hội.
Về mặt thể chế, các văn kiện cũng nhấn mạnh rằng công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc.
Bên cạnh những thành tựu đạt được đó, do những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, lĩnh vực văn hóa cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước như:
- Một số chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, văn học, nghệ thuật rất chậm được thể chế hóa, lại không đồng bộ, lạc hậu nhanh và đôi khi không được thể chế hóa. Nếu tình trạng này vẫn còn diễn ra trong những năm tới, thì tâm lý nghi ngại tính hiệu quả của các Nghị quyết vẫn khó tránh khỏi.
- Việc xây dựng những giá trị cốt lõi con người Việt Nam mới chưa đạt được. Con người Việt Nam mới phải phát huy được những tinh hoa và hạn chế được những thói hư tật xấu hình thành từ trong văn hóa truyền thống; chọn lọc để tiếp nhận được những phẩm chất phù hợp với thời đại CNH, HĐH mà người Việt Nam hiện còn thiếu.
Có ba xu hướng đang diễn ra của quá trình tiếp nhận trên: Học hỏi có chọn lọc để tạo cho sự phát triển của quá trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc; bắt chước, mô phỏng, thiếu sáng tạo để tạo ra những sản phẩm văn hóa ngô nghê, lai căng, hỗn tạp; sự lệ thuộc, đề cao tuyệt đối hóa nước ngoài rồi phủ định, hạ thấp văn hóa dân tộc. Hiện tại, xu hướng thứ nhất đang ở tình trạng non yếu, mờ nhạt; trong khi xu hướng thứ hai và ba có biểu hiện lấn át hơn. Bên cạnh đó, xu hướng vận động của văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại khi xuất hiện ngày càng nhiều biểu hiện xuống cấp, người khá giả, giàu có nhiều hơn nhưng sự suy thoái về nhân cách, đạo đức lại tăng lên. Giáo dục phát triển mạnh về quy mô và số lượng nhưng đang có biểu hiện lúng túng về mục tiêu và sa sút về chất lượng đào tạo. Lối sống ích kỷ, coi thường pháp luật, các ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng, căn bệnh “vô cảm” đang lan rộng.
- Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (với những ấp, khu phố văn hóa, xã, phường, thị trấn văn hóa, gia đình văn hóa, nhà văn hóa...) dường như chưa thực sự gắn kết với không gian văn hóa truyền thống của người nông dân Việt Nam. Nhiều cơ sở dịch vụ văn hóa mở tràn lan, chạy theo lợi nhuận, hoạt động biến tướng, trá hình, nhiều hoạt động xây dựng đời sống văn hóa mắc bệnh hình thức, bệnh phong trào, chạy theo thành tích.
Các sinh hoạt văn hóa truyền thống tại địa phương như thờ cúng tổ tiên, hội làng, đình chùa có sức cuốn hút sự tham gia của người dân nông thôn nhưng quản lý, định hướng còn yếu kém, thiếu kịp thời nên việc phục hồi và phát huy giá trị văn hóa truyền thống nhiều nơi mang tính tự phát, hoặc theo phong trào, thiếu bền vững. Do đó, chưa khai thác, phát huy được nhiều giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống. Nhiều nơi các cấp chính quyền chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; thậm chí hiện tượng xâm hại nghiêm trọng các di sản văn hóa cổ xảy ra ở nhiều địa bàn... Đó là những những nguy cơ tiềm ẩn làm xói mòn các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, gây mất trật tự an ninh xã hội, cản trở sự phát triển bền vững.
35 năm đổi mới và thực tiễn xây dựng nền văn hóa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, cho thấy, để thực hiện mục tiêu xây dựng văn hóa - con người Việt Nam thực sự trở thành nền tảng tinh thần xã hội vững chắc, làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, biến thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự nghiệp đẩy CNH, HĐH đất nước, trong nhận thức lý luận và trong lãnh đạo thực tiễn, chú trọng một số vấn đề như: Thứ nhất, trong xây dựng, hoạch định đường lối phát triển văn hóa, cần chú trọng tính phù hợp giữa chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với thực tiễn của đất nước, con người Việt Nam từng thời kỳ; chú ý đến đặc điểm khu vực văn hóa - dân tộc. Trong quá trình chỉ đạo thực tiễn, các phương thức tiến hành phải có tính khả thi, có tính lịch sử cụ thể của chủ trương đó. Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hóa, “thế giới phẳng”, muốn thực sự xây dựng một xã hội “tất cả vì con người” thì không đóng cửa khép kín mà phải mở cửa hội nhập với những giá trị tiên tiến của nhân loại, đồng thời không ngừng giữ gìn, xây dựng, phát triển và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam. Thứ ba, giai đoạn phía trước còn nhiều nội dung cần hoàn thiện, về văn hóa, cần tiếp tục hoàn thiện quan điểm “văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội”. Thực sự coi văn hóa là “nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển”, văn hóa phải thấm sâu vào mọi mặt, mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luậtđể trở thành động lực, sức mạnh mềm của đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập thế giới, như tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 4/2021
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb CTQG, H, 2010, tr. 127
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2010, T. 48, tr. 479, 480
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, H, 2010, T. 48, H, 1991, tr. 479
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, H, 1998, tr. 55
6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng”, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb CTQG, H, 2013, tr. 476, 531
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb CTQG, H, 2013, tr. 642
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 169, 223
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb CTQG, H, 2013, tr. 738
11. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, http://dangcongsan.vn/thoi-su/nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-9-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-251604.html
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 126, 127
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, tr. 143.