24/01/2026 - 04:59 PM - 482 lượt xem
Tóm tắt: Nhằm bảo đảm cho thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, trực tiếp là Tiểu ban Văn kiện đã soạn thảo Dự thảo các văn kiện; Đảng tổ chức lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nội dung Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có những điểm mới căn bản, mang tính đột phá về xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam, phản ánh sự phát triển tư duy lý luận và đường lối văn hóa của Đảng trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Dự thảo các văn kiện; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; những điểm mới; đường lối văn hóa; xây dựng văn hóa; phát triển con người
1. Khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh mới
Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam (Dự thảo Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới) nhận định: “Vai trò ngày càng nổi trội của văn hóa trong sự phát triển bền vững, văn hóa ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tạo ra những giá trị vật chất mới và chính văn hóa đang trở thành một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của nhiều quốc gia”1. Một trong những điểm mới trong xây dựng văn hóa Việt Nam của Đảng là chủ trương: “... phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, để văn hóa thật sự trở thành nền tảng vững chắc”2; “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”3.
Chủ trương này thể hiện sự phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa. Từ chỗ “đi sau, bổ trợ”, văn hóa chính thức được xác lập vị trí ngang tầm với kinh tế, chính trị và xã hội, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “... đặt văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội”4.
Kế thừa quan điểm: “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XIII (2021) của Đảng, trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Dự thảo Báo cáo chính trị), xác định: “... phát triển văn hóa, con người là nền tảng”5. Nghĩa là, xây dựng văn hóa và phát triển con người được xác định là vấn đề cốt yếu, một trong những trụ cột, có vai trò đặc biệt quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước. Văn hóa là cái tạo nên “gốc rễ”, “cốt lõi” cho sự phát triển của đất nước. Giống như nền móng của một ngôi nhà, văn hóa tạo ra những giá trị căn bản để xã hội vận hành các giá trị: đạo đức, lối sống, chuẩn mực, niềm tin, truyền thống, bản sắc. Không có nền tảng văn hóa thì xã hội dễ rơi vào khủng hoảng giá trị, mất phương hướng, xung đột chuẩn mực và làm đảo lộn bậc thang giá trị. Nền tảng không vững thì không thể xây dựng xã hội văn minh, con người phát triển toàn diện.
Dự thảo Báo cáo chính trị phân tích những hạn chế trong xây dựng văn hóa và cho rằng: “Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển”6. Dự thảo Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới chỉ rõ: “... xây dựng, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”7. Dự thảo Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”8.
Với quan điểm đó, Đảng xác định văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần hay các giá trị truyền thống, mà là một nguồn lực nội sinh đặc biệt quan trọng, quyết định chiều sâu, chất lượng và sự phát triển bền vững đất nước. Sức mạnh nội sinh của văn hóa bắt nguồn từ các giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử như: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình; ý chí tự lực, tự tôn, tự cường dân tộc. Những giá trị ấy tạo nên bản lĩnh dân tộc, trở thành điểm tựa tinh thần đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc đã chứng tỏ: tự lực, tự cường luôn là giá trị cốt lõi giúp dân tộc ta đánh bại kẻ thù xâm lược. Nếu như trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tự lực, tự cường là để giành độc lập, tự do, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thì hiện nay, tự lực, tự tôn, tự cường dân tộc là để xây dựng đất nước: giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc. Tinh thần đó tạo động lực và mở ra cơ hội để xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đó chính là “sức mạnh mềm” của dân tộc, giúp Việt Nam không bị đồng hóa bởi sự “xâm lăng về văn hóa” trong hơn nghìn năm Bắc thuộc và là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, “sức mạnh mềm” của đất nước góp phần truyền cảm hứng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc; ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến của mỗi người dân để xây dựng và phát triển đất nước. Khi văn hóa đóng vai trò “sức mạnh mềm”, sẽ không chỉ thúc đẩy sức mạnh nội sinh mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. “Sức mạnh mềm” của văn hóa chính là phương tiện hiệu quả để lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế bằng tinh thần thân thiện, cởi mở và nhân văn. Đồng thời, sự chủ động lan tỏa giá trị văn hóa cũng là cách thức để bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những giá trị tốt đẹp của nền văn hóa giúp Việt Nam giữ gìn và phát huy bản sắc riêng, củng cố tinh thần dân tộc, tăng “sức đề kháng” trước các ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa ngoại lai và nâng cao uy tín, vị thế, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.
Quan điểm “văn hóa là hệ điều tiết phát triển” là quan điểm mới về vị trí, vai trò của văn hóa. Nghĩa là, văn hóa được coi như một bộ khung giá trị hướng dẫn hành vi xã hội, giúp định hướng phát triển, hạn chế sự lệch lạc giá trị và tăng cường sự đồng thuận trong xã hội. Quan điểm này nâng cao vị thế của văn hóa trong quản lý nhà nước và trong chiến lược phát triển quốc gia. Một xã hội phát triển kinh tế nhưng thiếu chuẩn mực văn hóa sẽ dễ rơi vào khủng hoảng giá trị, suy giảm niềm tin và bất ổn xã hội. Trái lại, khi văn hóa được coi trọng, các giá trị tốt đẹp được củng cố, môi trường xã hội lành mạnh được xây dựng, thì kinh tế mới có nền tảng vững chắc để phát triển. Bên cạnh đó, văn hóa còn là “lá chắn” và là “bộ lọc” để bảo vệ bản sắc dân tộc trước tác động tiêu cực của toàn cầu hóa cũng như tiếp biến văn hóa toàn nhân loại; đồng thời, là “sứ giả” quảng bá hình ảnh đất nước, tăng sức cạnh tranh và uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Trong xây dựng văn hóa, thì phát triển con người - trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới là quan trọng nhất, để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến những giá trị: chân, thiện, mỹ nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Thực tiễn 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã chứng minh, việc đề cao vị trí, vai trò của văn hóa đã giúp Đảng nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn sức mạnh của văn hóa. Văn hóa được xem là nền tảng phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng, hệ điều tiết để phát triển đất nước. Cùng với đó, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Đảng coi phát triển con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững đất nước. Con người không chỉ là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, mà còn là đối tượng chịu tác động mạnh mẽ của chính sự phát triển văn hóa, là trung tâm của mọi chiến lược phát triển.
2. Xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Trên cơ sở phát triển 1 trong 6 đặc trưng của Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) và 1 trong 8 đặc trưng của Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là: có nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; cũng như tính chất của nền văn hóa Việt Nam đã được Đại hội VII đến Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết về văn hóa khẳng định, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV chỉ rõ: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”9. Lần đầu tiên, Đảng xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Điều đó thể hiện sự phát triển trong tư duy lý luận và đường lối văn hóa của Đảng. Đây là điểm mới quan trọng, bởi nó cung cấp một hệ thống giá trị chung xuyên suốt, định hướng không chỉ cho việc giáo dục nhân cách con người mà còn cho việc hoạch định chính sách văn hóa, giáo dục, quản lý xã hội. Hệ giá trị này vừa mang tính truyền thống như: tinh thần yêu nước, truyền thống gia đình Việt Nam, vừa hướng tới chuẩn mực hiện đại (sáng tạo, trí tuệ, trách nhiệm công dân), phù hợp với chủ trương đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới của Đảng và xu thế phát triển của thời đại.
Việc phát triển, phát huy các giá trị văn hóa cần gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội, nhằm nâng cao đời sống tinh thần và khẳng định giá trị con người trong mọi hoạt động của cá nhân và cộng đồng; đồng thời, phát huy các giá trị văn hóa trong lĩnh vực kinh tế, thông qua việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, trong định hướng phát triển này, mục tiêu không đặt nặng yếu tố lợi nhuận, mà nhấn mạnh đến việc lan tỏa các giá trị văn hóa, góp phần hình thành chuẩn mực ứng xử phù hợp của con người trong các mối quan hệ xã hội. Vì thế, vấn đề quan trọng là phải phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa, sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước. Các nội dung về văn hóa phải gắn với và coi trọng phát triển con người. Xây dựng văn hóa và phát triển con người có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và không thể tách rời, trong đó con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là đối tượng thụ hưởng các giá trị và sản phẩm văn hóa.
Điểm mới của Dự thảo Báo cáo chính trị là phát triển con người Việt Nam theo chuẩn mực mới: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp”10. Trong đó, phát triển con người toàn diện, không chỉ về tư tưởng, chính trị; kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, mà còn về đạo đức, trách nhiệm công dân; sự sáng tạo, thẩm mỹ, kỹ năng sống. Đặc biệt, xây dựng và phát triển con người mới có lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên và sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Điều này thể hiện sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, đặc biệt là quan điểm “phát triển con người toàn diện” nhưng được cập nhật phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV, lần đầu tiên, những khái niệm mới như “kinh tế di sản” hay công nghiệp văn hóa, văn hóa số được đề cập đậm nét. Đảng đề ra yêu cầu phát triển văn hóa số lành mạnh, đồng thời khuyến khích sáng tạo các sản phẩm công nghiệp văn hóa - coi đây vừa là ngành kinh tế, vừa là công cụ lan tỏa giá trị. Đây là điểm mới rất quan trọng, bởi đã gắn việc bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế, tạo ra “giá trị kép”: vừa giữ gìn bản sắc, vừa tạo thu nhập và việc làm thông qua du lịch di sản, nghề truyền thống, sản phẩm văn hóa. Đồng thời, phát triển văn hóa số cho phép văn hóa Việt Nam tiếp cận với thời đại công nghệ, truyền thông số và lan tỏa mạnh mẽ hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trong bối cảnh hiện nay, ngành công nghiệp văn hóa cần xác định những ngành ưu tiên như: phim ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang, trò chơi trực tuyến, du lịch văn hóa... và đưa ra cơ chế hỗ trợ cụ thể như tín dụng, thuế, bảo hộ bản quyền, hạ tầng số. Có như vậy, ngành công nghiệp văn hóa mới trở thành động lực thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đảng đề cao vai trò của đội ngũ trí thức, nghệ sĩ, doanh nhân, người làm văn hóa là lực lượng chủ đạo, tiên phong trong việc lan tỏa giá trị văn hóa, tạo sản phẩm văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc nhưng vẫn có khả năng hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng thương hiệu văn hóa mạnh, biến văn hóa thành ngành kinh tế, thúc đẩy sáng tạo văn hóa, đổi mới nghệ thuật theo hướng phát triển bền vững; đề cập đến việc xây dựng môi trường văn hóa “lành mạnh, dân chủ, văn minh”. Đồng thời, cảnh báo về những tác động tiêu cực của các luồng văn hóa sai lệch, độc hại, lai căng hoặc hủ lậu và đặt ra yêu cầu nâng cao “sức đề kháng văn hóa” của xã hội. Điều này phản ánh nhận thức mới của Đảng khi cho rằng, trong quá trình hội nhập, bảo tồn văn hóa không chỉ là giữ truyền thống mà còn là đấu tranh chống lại các giá trị tiêu cực, phản văn hóa để bảo vệ bản sắc dân tộc.
Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động văn hóa, Dự thảo Báo cáo chính trị chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa”11; đồng thời, đổi mới phương thức quản lý để phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Điều này bao gồm việc phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa chuyên nghiệp, hiện đại, có tầm nhìn chiến lược, cùng với cơ chế hành chính hỗ trợ sáng tạo văn hóa, di sản và công nghiệp văn hóa. Đây là bước đi cần thiết để chuyển hóa những quan điểm chiến lược thành hành động thực tế nhằm mang lại hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh hợp tác quốc tế về văn hóa. Văn hóa được xác định như một “cầu nối” ngoại giao mềm, vừa quảng bá bản sắc Việt Nam, vừa nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục, nghệ thuật, di sản, công nghiệp văn hóa và xây dựng “hệ sinh thái văn hóa số toàn cầu” được coi là cách để lan tỏa giá trị Việt Nam và thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác và quảng bá văn hóa ra thế giới: Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới; qua đó, đề cao nhận thức văn hóa không chỉ phục vụ trong nước, mà còn là phương tiện chuyển tải bản sắc dân tộc và tạo sức hút với bạn bè quốc tế đối với nền văn hóa đa dân tộc, giàu bản sắc của Việt Nam.
Trong bối cảnh mở cửa và toàn cầu hóa sâu rộng, Dự thảo Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và truyền bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa với các nước, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu”12. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhất là chuyển đổi số, việc chủ động, sẵn sàng bảo vệ và phát triển nền văn hóa của dân tộc là một định hướng đúng đắn. Bởi lẽ, chỉ khi có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mọi tình huống có thể xảy ra trong quá trình hội nhập mới bảo vệ hiệu quả các giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để quảng bá và phát triển văn hóa Việt Nam, đưa bản sắc văn hóa dân tộc hội nhập vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại. Thực tế lịch sử đã chứng minh, trong khi các giá trị kinh tế có thể bị vượt qua, thì các giá trị văn hóa sẽ để lại dấu ấn lâu dài trong tâm thức và tư tưởng của nhân loại. Vì vậy, việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là bước đi chiến lược để lan tỏa các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới; qua đó, tiếp biến tinh hoa văn hóa toàn nhân loại, nâng cao sức đề kháng đối với các xu hướng, sản phẩm văn hóa xấu độc; phát triển văn hóa thực sự trở thành “sức mạnh mềm” của quốc gia. Từ đó, khơi dậy, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến, phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Những điểm mới về xây dựng văn hóa và phát triển con người trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện tầm nhìn chiến lược: văn hóa không chỉ là mục tiêu mà là nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và hệ điều tiết xã hội; con người Việt Nam vừa giữ nguồn cội/bản sắc, vừa đổi mới, vừa sáng tạo và vừa trách nhiệm. Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV tạo nên khung lý luận và chiến lược cụ thể cho việc xây dựng văn hóa và phát triển con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghệ và hội nhập quốc tế. Việt Nam có cơ hội phát triển một nền văn hóa hiện đại, giàu bản sắc và nguồn lực con người chất lượng cao, có tinh thần, khát vọng và sự sáng tạo; từ đó, củng cố “sức mạnh mềm” của quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước và nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 12-2025
1, 2, 3, 7, 12. Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-cong-cuoc-doi-moi-theo-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-40-nam-qua-o-viet-nam-11925101609232867.htm, ngày đăng 3-11-2025
4. Tổng Bí thư Tô Lâm: Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai, cho mạch nguồn sức mạnh dân, Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành văn hóa (28-8-1945 – 28-8-2025), https://tuoitre.vn/tong-bi-thu-to-lam-dau-tu-cho-van-hoa-la-dau-tu-cho-tuong-lai-cho-mach-nguon-suc-manh-dan-toc-20250823104014105.htm, ngày đăng 23-8-2025
5, 6, 8, 9, 10, 11. Dự thảo Báo cáo Chính trị của Bam Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015171703632.htm, ngày đăng 3-11-2025.