Tóm tắt: Đường Hồ Chí Minh trên biển, tuyến vận tải quân sự chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, được thiết lập cách đây 60 năm (1961-2021). Vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù, tuyến chi viện chiến lược trên biển không ngừng phát triển, vận chuyển kịp thời, hiệu quả vũ khí, lực lượng cho tiền tuyến lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi hoàn toàn. Đường Hồ Chí Minh trên biển trở thành biểu tượng của chiến tranh nhân dân Việt Nam, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc; là thành quả của tài thao lược và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng, thành công xuất sắc trong chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Từ khoá: Đường Hồ Chí Minh trên biển; chỉ đạo chiến lược của Đảng
1. Thiết lập tuyến vận tải trên biển chi viện cho miền Nam - Quyết định chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ (7-1954), Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã nỗ lực nhằm mục tiêu hoà bình, thống nhất đất nước. Song Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam đã tiến hành mọi biện pháp chống lại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Những năm 1958-1959, cách mạng miền Nam vô cùng khó khăn. Các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng bị đánh phá, thiệt hại nặng nề.
Vấn đề đặt ra đối với Trung ương Đảng là phải đề ra được chủ trương, phương pháp cho cách mạng miền Nam nhằm thay đổi thế và lực, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn và phức tạp trong bối cảnh giữa hai phe XHCN và ĐQCN xuất hiện xu thế hòa hoãn. Liên Xô, Trung Quốc cùng quan điểm duy trì hiện trạng Việt Nam chia cắt thành hai miền với chế độ chính trị khác nhau, không ủng hộ Đảng phát động đấu tranh vũ trang ở miền Nam.
Đảng nhận thức rõ phải có một đường lối cách mạng ở miền Nam cho phù hợp, mà then chốt là phải chuyển chiến lược đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi đồng bào cả nước (6-7-1956), khẳng định: “Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là: Toàn dân từ Nam đến Bắc đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ra sức củng cố miền Bắc thành nền tảng vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà... Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”1. HNTƯ 15 (1-1959) của Đảng chủ trương chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. “Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”2.
Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. Với thắng lợi của phong trào Đồng khởi (1960), cách mạng miền Nam chuyển bước phát triển mới, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công địch bằng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, binh vận.
Vấn đề tìm phương thức chuyển sức mạnh vật chất và binh lực, xây dựng tuyến chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam lúc này được đặt ra cấp thiết. Trước yêu cầu cấp bách phải kịp thời chi viện cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam trực tiếp đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai, Bộ Chính trị quyết định mở đường vận chuyển chi viện cho miền Nam. Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân ủy (từ năm 1961, đổi thành Quân ủy Trung ương) đã quyết định thành lập Đoàn 5593, giao nhiệm vụ mở đường chi viện vào chiến trường4. Tuy nhiên, việc chi viện từ miền Bắc vào theo đường bộ của Đoàn 559 mới chỉ tới Bắc Khu V (Trị Thiên).
Trước tình hình lực lượng vũ trang ở miền Nam phát triển nhanh nhưng vũ khí đạn dược hết sức thiếu thốn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng mở đường vận chuyển chiến lược trên biển Đông chi viện cho các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Tháng 7-1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định tổ chức Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 có nhiệm vụ mở đường trên biển vận chuyển vũ khí, hàng hóa và con người chi viện cho miền Nam5. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn Vận tải thủy 603 hoạt động dưới tên gọi “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp chỉ đạo mở đường vận tải trên biển từ năm 1959, nhắc nhở: “Việc mở đường không được ai biết... không để lọt vào tay địch một người, một hiện vật, một mẩu thuốc lá cũng có thể tạo nên một vật chứng là hỏng việc lớn”7.
Cuối năm 1959, công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ vận chuyển cơ bản hoàn thành. Đại đội 1, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên, nhiệm vụ chở 5 tấn vũ khí và thuốc men cho Khu V. Chuyến vượt biển đầu tiên này chưa thành công. Nhận thấy phương thức vận tải thủ công ven biển, chở vũ khí bằng thuyền buồm không đáp ứng được yêu cầu đảm bảo tuyệt đối bí mật, an toàn, Quân ủy Trung ương quyết định Tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động. Đồng thời, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển mới trên cơ sở tổ chức chặt chẽ, tính toán, lựa chọn nhiều phương án cho mỗi hành trình. Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu tình hình, đánh giá hiệu quả vận tải đường biển và kinh nghiệm thực tiễn thành công việc vận chuyển vũ khí hàng hóa theo đường biển từ Khu IV vào Khu V, Khu VI và từ Thái Lan về Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp; tìm hiểu các hoạt động kiểm soát vùng biển, bờ biển của địch; các điều kiện, khả năng vật chất, kỹ thuật, con người của ta để thiết kế đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận tải biển chi viện chiến trường Nam Bộ và Khu V8.
Tháng 2-1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nghiên cứu, xác định tuyến đường... Đây là một quyết định đúng đắn, sáng tạo và khoa học. Theo đó, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu (Cà Mau), Bà Rịa9 gấp rút chuẩn bị lực lượng, tàu, thuyền ra Bắc nhận vũ khí.
Chủ trương chuyển hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng10, trong đó nhiệm vụ vận tải đường biển chi viện cách mạng miền Nam được Đảng xác định là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài. Thường trực Quân ủy Trung ương xác định: “... Muốn đẩy mạnh cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định cần phải kiên quyết chi viện cho miền Nam những thứ mà chiến tranh cần thiết. Miền Bắc phải thực hiện nhiệm vụ này với tất cả khả năng của mình trên nguyên tắc góp sức đẩy mạnh cách mạng miền Nam nhưng vẫn giữ vững hòa bình ở miền Bắc... Việc chi viện cho miền Nam có tính chất lâu dài và toàn diện”11... Thường trực Quân ủy Trung ương chỉ rõ biện pháp tiến hành trong vận tải đường thủy là dùng phương tiện từ miền Bắc chở hàng vào miền Nam hoặc từ miền Nam ra chở hàng đưa vào, có thể dùng biện pháp từ trong miền Nam ra kết hợp từ ngoài miền Bắc đưa hàng vào gặp nhau chuyển hàng giữa đường12... Lực lượng chi viện bao gồm con người là những cán bộ, nhân viên góp phần xây dựng lực lượng tại chỗ của miền Nam; phương tiện vật chất, chủ yếu trước hết là vũ khí và khí tài quân sự, thuốc men...
Từ giữa năm 1961 đến năm 1962, 5 chiếc tàu vượt biển ra miền Bắc nhận và chuyển vũ khí về các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa thành công. Đây là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng để Trung ương nắm bắt tình hình, củng cố thêm quyết sách xây dựng tuyến vận tải chiến lược trên biển.
Ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển13, có nhiệm vụ mua sắm phương tiện, vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Quân số lúc đầu của đoàn là 38 cán bộ, chiến sĩ, bao gồm các đồng chí ở miền Nam ra và một số đồng chí cán bộ quê ở miền Nam tập kết ra Bắc14. Đoàn 759 ra đời đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức vận chuyển trên con đường biển chi viện miền Nam. Từ đây, các địa phương ven biển miền Nam, chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ nhận được sự chi viện trực tiếp của miền Bắc. Ngày 29-1-1964, Bộ Quốc phòng ra quyết định Đoàn 759 thuộc Bộ Tổng Tham mưu đổi phiên hiệu thành Đoàn 125 thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân15.
Quyết định thành lập Đoàn 759 và quá trình chỉ đạo, tổ chức xây dựng tuyến vận tải chiến lược trên biển trong điều kiện địch tổ chức ngăn chặn, phong tỏa gắt gao, là một quyết sách kịp thời, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.
2. Chỉ đạo phát triển, bảo vệ tuyến đường, bảo đảm an toàn, bí mật, bất ngờ, táo bạo, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh cách mạng trong điều kiện lịch sử mới
Chỉ đạo xây dựng, phát triển, bảo vệ tuyến đường, kiên quyết, kiên trì, sáng tạo phương thức vận chuyển thích ứng tình hình
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đối với hoạt động vận chuyển vũ khí, đạn dược, trang bị, lực lượng từ miền Bắc vào miền Nam, trong suốt quá trình hoạt động của con đường (1961-1975) quyết định thành công của tuyến đường vận chuyển chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng - Lê Duẩn, các đồng chí Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà... thường xuyên theo dõi, nghe báo cáo nắm bắt tình hình, trực tiếp chỉ đạo bằng chỉ thị, thư, điện cho các đơn vị lực lượng, cá nhân các cán bộ, thủy thủ, để có quyết sách kịp thời, đúng đắn nhất đối với công tác vô cùng đặc biệt này.
Được sự chỉ đạo sát sao của Quân ủy Trung ương về công tác chuẩn bị tàu, thuyền, xây dựng phương án; phân tích, đánh giá kỹ lưỡng tình hình các chuyến đi thăm dò hai chiều Nam - Bắc, Bắc - Nam, Đoàn 759 lựa chọn, bố trí đội thuyền 13 người chuẩn bị đi làm nhiệm vụ. Chuyến tàu đầu tiên, chiếc tàu gỗ mang tên “Phương Đông 1”, do Thuyền trưởng Lê Văn Một16 và Chính trị viên, Bí thư chi bộ Bông Văn Dĩa17 chỉ huy, chở 28,213 tấn vũ khí, xuất phát từ bến Vạn Sét, Đồ Sơn (Hải Phòng) đêm 11-10-1962, cập bến Vàm Lũng (Cà Mau), sáng ngày 19-10-196218.
Chuyến đi thành công của tàu Phương Ðông 1 đánh dấu sự hình thành con đường huyền thoại trên Biển Ðông. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759 đã lập nên chiến công xuất sắc, Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh, nhiều vũ khí hơn nữa cho đồng bào miền Nam đánh giặc, cho Nam, Bắc sớm sum họp một nhà”19. Bộ Chính trị tiếp tục chỉ đạo Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Quân chủng Hải quân kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm qua mỗi chuyến đi, đẩy mạnh việc cải tiến phương tiện, đổi mới phương thức, xây dựng lực lượng và nguyên tắc vận chuyển. Giai đoạn từ cuối năm 1962 đến đầu năm 1965, hoạt động vận chuyển chi viện chiến trường đạt hiệu quả cao nhất về thời gian, khối lượng vũ khí, hàng hóa quân sự.
Sau sự kiện tàu C143 bị địch phát hiện tại Vũng Rô (Phú Yên, tháng 2-1965), địch tăng cường đẩy mạnh hoạt động tuần tiễu ngăn chặn, chống xâm nhập. Tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc từ năm 1965, địch huy động lực lượng lớn hải quân, không quân, ra đa và các phương tiện chiến tranh hiện đại, tạo thành hệ thống kiểm soát dày đặc trên biển và các vùng sông, rạch nhằm phong tỏa, ngăn chặn quyết liệt các tàu vận tải của ta chở hàng từ Bắc vào Nam. Hoạt động vận tải đường biển chi viện miền Nam bước vào cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt với lực lượng không quân, hải quân hiện đại của kẻ thù.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ Tư lệnh Hải quân tạm dừng vận chuyển trên biển, kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc, khẩn trương nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển mới. Ðây là một quyết định rất kịp thời, sáng suốt, nhằm bảo toàn lực lượng, phương tiện và có thời gian nghiên cứu, chuẩn bị cho phương thức vận chuyển đi vòng xa đất liền hơn, khó khăn thử thách hơn.
Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đoàn 125 chuyển hướng hoạt động, sử dụng các đội tàu đi theo đường hàng hải quốc tế và bí mật bất ngờ đột nhập, tìm cách đưa hàng vào các bến tiếp nhận. Con đường vận chuyển trên biển phát triển thành một hệ thống với 5 tuyến đường khác nhau, có tuyến hành trình dài hơn 3.500 hải lý20. Cuối năm 1965 đến năm 1975, cùng với vận chuyển trực tiếp vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Khu V, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125 tìm tòi phương thức vận chuyển mới, thực hiện chiến dịch vận chuyển từ Hải Phòng vào Nam Khu IV, lập chân hàng cho tuyến chi viện 559, rút ngắn khoảng cách đưa hàng vào chiến trường. Khi lực lượng vận chuyển của Đoàn 125 Hải quân gặp khó khăn trong điều kiện kẻ thù ngăn chặn vô cùng quyết liệt, đáp ứng yêu cầu cấp thiết về vũ khí, từ năm 1971, Đoàn S95021 của Quân khu IX tìm ra phương thức vận chuyển công khai hợp pháp bằng thuyền vận tải và đánh cá nhỏ, từ miền Nam ra miền Bắc nhận hàng từ tàu của Đoàn 125, vận chuyển vào Khu IX.
Xây dựng lực lượng vận tải
Bộ Quốc phòng chỉ đạo huy động cao nhất khả năng vật chất, kỹ thuật của các bộ, ngành, lựa chọn đội ngũ cán bộ, thủy thủ gồm cả người miền Nam và miền Bắc. Cán bộ, chiến sĩ của Đoàn 759 (sau là Đoàn 125) chủ yếu được tuyển chọn từ các địa phương gắn bó, bảo vệ tuyến đường vận tải trên biển, ở các địa phương miền Nam: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre...
Sau hơn một năm thiết lập, từ những con tàu gỗ thô sơ trọng tải từ 14 đến 30 tấn, tuyến đường nhanh chóng phát triển, với hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải từ 50 đến 60 tấn. Các đội tàu, các cầu cảng, nhà kho bảo đảm vận chuyển được xây dựng. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng các bến bãi nhận hàng và vũ khí ở chiến trường miền Nam.
Đến năm 1965, hàng chục bến bãi tiếp nhận vũ khí đã được bí mật xây dựng ở một số tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Những bến chủ yếu là: Vàm Lũng, Bồ Đề, Bến Cũ, Rạch Kiến Vàng, Cái Bầu (Cà Mau, Bạc Liêu); Hố Lồng Đèn (Rạch Giá); Ba Động, Khâu Lầu, La Ghi, Láng Nước, Rạch Cờ, Hố Tàu (Trà Vinh); Vàm Khâu Băng, Cồn Rừng, Eo Lói, Cồn Tra, Cồn Điệp, Bình Đại (Bến Tre); Lộc An (Bà Rịa), Hòn Hèo (Khánh Hòa); Vũng Rô (Phú Yên); Lộ Giao (Bình Định); Đạm Thủy (Quảng Ngãi); Hố Chuối, Bình Đào (Quảng Nam)...22. Đoàn 962, thuộc Khu ủy Khu IX được thành lập có nhiệm vụ xây dựng các bến đón tàu, kho cất giữ, bảo vệ hàng hóa từ miền Bắc chuyển vào và kịp thời vận chuyển hàng hóa tới các chiến trường.
Để giữ bí mật tuyệt đối và đảm bảo vũ khí, trang bị không bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển trên biển, hoặc khi cần thả xuống biển, vớt lên vẫn sử dụng được, Tổng cục Hậu cần tổ chức riêng một kho chuyên trách nghiên cứu, bảo quản, bao gói vũ khí, đạn dược. Các quân khu ở chiến trường miền Nam (Quân khu VII, Quân khu IX) chuẩn bị chu đáo bến nhận hàng ở các tỉnh Bà Rịa, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre... Đồng thời, xây dựng phương án tổ chức lực lượng, phương tiện tiếp nhận, giải tỏa hàng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Yêu cầu bảo đảm an toàn, tuyệt đối bí mật cho tuyến đường vận chuyển chiến lược trên biển được đặt lên hàng đầu.
Để giữ bí mật tuyệt đối, khi ra khơi làm nhiệm vụ các tàu phải xóa hết nhãn mác, tên tàu, số tàu. Những con tàu khi đến vùng biển nào thì cải trang thành tàu đánh cá hoặc tàu buôn, đổi tên tàu, mang số tàu phù hợp vùng biển địa phương đó. Phần lớn các hồ sơ, hải trình, thông tin... ngay sau mỗi chuyến đi buộc phải hủy toàn bộ, không để bất kỳ số liệu, dữ liệu nào có nguy cơ lọt, lộ. Vũ khí, trang bị sau khi kiểm tra, sửa chữa, hiệu chỉnh, tẩy xóa23... được bao gói cẩn thận, tiện cho vận chuyển và do lực lượng vận tải cơ giới của Tổng cục Hậu cần bí mật đưa đến các vị trí tập kết. Mỗi tàu không số được gắn thuốc nổ, bí mật để ở đầu và đuôi tàu. Nếu không may bị địch phát hiện, toàn bộ thuốc nổ trang bị trên tàu sẽ được kích nổ, những người lính luôn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng hy sinh chứ không để tàu rơi vào tay địch.
Hoạt động trong các điều kiện thời tiết, địa hình phức tạp và sự phong tỏa của địch, hàng loạt vấn đề khoa học kỹ thuật đã được đặt ra và giải quyết để đưa con tàu tới bến an toàn. Những con tàu không số có thiết kế đặc biệt, theo yêu cầu của nhiệm vụ vận chuyển, được ngụy trang, nghi trang khéo léo, thời gian đầu với lộ trình bám dọc bờ biển, sau đó vươn ra hải phận quốc tế. Những con tàu được đóng giả dạng giống như tàu đánh cá xa bờ của Trung Quốc, các vùng lãnh hải Hồng Kông, Đài Loan, hay Nhật Bản và một số nước khác trong khu vực.
Phương thức vận chuyển được phát triển ngày càng linh hoạt, sáng tạo: lúc biển xa, khi biển gần. Sự nhạy bén trong việc lựa chọn bến bãi, lợi dụng địa hình, thủy triều, thời tiết..., đã giúp chúng ta vượt qua những phòng tuyến nghiêm ngặt của kẻ thù.
3. Ðường Hồ Chí Minh trên biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam
Giữ vững quyết tâm, luôn giành thế chủ động, tìm tòi thực hiện phương án phá thế bao vây của địch, thường xuyên thay đổi chiến thuật vận chuyển, tuyến vận chuyển chiến lược bảo đảm vận chuyển liên tục chi viện miền Nam. Từ năm 1962 đến đầu năm 1965, những con tàu vượt qua sự kiểm soát của địch, thực hiện thành công 90 chuyến, chở 5.024,428 tấn hàng quân sự, vũ khí cho chiến trường24. Mặc dù bị địch phát hiện, tăng cường lực lượng kiểm soát, ngăn chặn gắt gao, chúng ta vẫn tìm cách để tiếp tục đưa được hàng, vũ khí vào chiến trường bằng con đường quan trọng này. Trong những năm 1965-1972, các chuyến tàu vào bến thành công vận chuyển 688,255 tấn hàng hóa, vũ khí cho chiến trường25.
Những năm 1970-1974, Đoàn 125 thực hiện gần 1.300 lần chuyến tàu, đưa gần 100.000 tấn hàng từ hậu phương vào gần chiến trường Khu V26. Khi lực lượng vận chuyển của Đoàn 125 Hải quân gặp khó khăn trong điều kiện kẻ thù ngăn chặn vô cùng quyết liệt, Đoàn 371 Quân khu IX thực hiện thành công 37 chuyến, vận chuyển hơn 622 tấn vũ khí chi viện chiến trường Nam Bộ27. Phương thức vận chuyển của Đoàn S950 đã góp phần phá thế phong tỏa của địch trên con đường vận chuyển trên biển những năm 1971-197528. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, yêu cầu phải chuyển thật nhanh những vũ khí hạng nặng và hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vào miền Tây Nam Bộ, kịp thời hợp đồng tác chiến với cánh quân đường bộ, Ðoàn 125 đã vận chuyển thần tốc 173 lần chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng nặng gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa 18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải lý để tham gia chiến đấu29.
Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế về phương tiện, vận chuyển: sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô chuyên chở vũ khí bằng đường sắt đến đảo Hải Nam (Trung Quốc) để tàu ta trực tiếp nhận vũ khí, từ đó chuyển vào chiến trường miền Nam; sự giúp đỡ của Trung Quốc, các cảng biển như Hậu Thủy, Duy Ninh, Bắc Á, Hải Khẩu để tiếp nhận hàng hóa, vũ khí; các tàu do nước bạn Trung Quốc giúp đỡ...
Tranh thủ sự giúp đỡ của Chính phủ Vương quốc Campuchia, ta tổ chức vận chuyển bằng tàu biển quốc tế đưa hàng viện trợ quân sự vào cảng Xihanúcvin, sau đó thuê tàu của quân đội Hoàng gia Campuchia tiếp tế cho chiến trường Nam Bộ và một phần cho chiến trường Tây Nguyên. Bằng cách này, từ năm 1966 đến năm 1969, đã có 10 chuyến tàu, chuyển 90.870 tấn hàng cập cảng Xihanúcvin, trong đó có 21.473 tấn vũ khí, đạn dược; chuyển về chiến trường miền Nam được 18.703 tấn30.
Hiệu quả vận chuyển của Ðường Hồ Chí Minh trên biển rất cao, tỷ lệ tổn thất thấp, tổn thất về hàng hóa là 7%, 93% đã tới đích, trong khi đó tỷ lệ mà Tổng Quân ủy cho phép là 50%31. Thành công của những chuyến vũ khí đã trực tiếp góp phần đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, xây dựng và phát triển khối chủ lực ở chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ; tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên các địa bàn chiến lược. Đường Hồ Chí Minh trên biển còn thực hiện vận chuyển những loại hàng đặc biệt như vũ khí, thiết bị y tế quý hiếm, những hóa chất đặc biệt... Và đặc biệt hơn cả là đưa đón an toàn tuyệt đối hàng trăm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và các chuyên gia tăng cường cho chiến trường như các đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thiện Thành, Nguyễn Thế Bôn32.
Sự phát triển của Đường Hồ Chí Minh trên biển và những chuyến vượt biển thành công của các con tàu không số là kết quả của trình độ chỉ huy, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa lực lượng bốc dỡ, vũ trang chiến đấu, cứu thương, thông tin vô tuyến điện..., các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, hệ thống bến bãi, kho tiếp nhận, bảo quản, phân phối hàng. Tất cả các lực lượng hoạt động trong sự điều hành thống nhất từ Trung ương. Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến đường của “thế trận lòng dân” trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển. Dựa vào dân, có sự chở che, giúp đỡ, hỗ trợ hết lòng của nhân dân, tuyến vận tải chiến lược trên biển đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách khốc liệt, vượt qua mọi sự phong toả của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Quyết định thành lập tuyến vận tải chiến lược trên biển là một sáng tạo chiến lược của Đảng trong việc giải quyết vấn đề hết sức hệ trọng của chiến tranh: vấn đề bảo đảm hậu cần, mối quan hệ giữa hậu phương - tiền tuyến, nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên bộ, Đường Hồ Chí Minh trên biển tạo nên hai tuyến vận tải chiến lược, hỗ trợ, giải quyết nhu cầu của hai hướng chiến lược của chiến trường Nam Bộ: cánh Đông và cánh Tây. Mỗi tuyến vận tải có vai trò độc lập, nhưng trong tổng thể, tạo nên mạch máu giao thông chủ đạo và hoàn chỉnh để kịp thời chi viện cho chiến trường.
Đường Hồ Chí Minh trên biển được thiết lập vào thời điểm vô cùng khó khăn, thử thách của cuộc kháng chiến. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ từ khảo sát nắm tình hình, tổ chức những chuyến đi thử nghiệm, trinh sát, đến xác định phương thức vận chuyển. Tổ chức hệ thống lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, chỉ định những đồng chí có kinh nghiệm trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, điều hành nhiệm vụ đặc biệt này. Trong quá trình chỉ đạo phát triển tuyến vận tải chiến lược, linh hoạt thay đổi phương thức vận chuyển cho thấy sự nhạy bén, chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo thực hiện chiến lược tiến công, đồng thời thể hiện quyết tâm sắt đá giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân. Đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ nhân dân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp để xây dựng, phát triển tuyến chi viện chiến lược. Lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển mãi mãi là biểu tượng của khát vọng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức sáng tạo Việt Nam.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 10/2021
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 10, tr. 359-360
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 20, tr. 62
3, 5, 13, 15. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2004, tr.181, 182, 203, 220
4. Khi mới thành lập, Đoàn gồm 500 cán bộ, chiến sĩ. Theo Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn Đường Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, H, 1999, tr. 23
6. Đứng chân ở thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
7. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đường Hồ Chí Minh trên biển, http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/15354/djai-tuong-vo-nguyen-giap-va-djuong-ho-chi-minh-tren-bien.html, ngày 11-11-2003
8. Trung tướng Trần Văn Trà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng tham mưu trưởng được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh phân công trực tiếp phụ trách mở tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam trên biển
9. Những địa phương có kinh nghiệm vượt biển ra Bắc chở vũ khí từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp
10. Ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về “Phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam”, chuyển hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, tăng cường sự chỉ đạo đối với cách mạng miền Nam
11, 12, 18, 19, 24, 25, 26, 27, 28. Quân chủng Hải quân: Lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-2011), Nxb QĐND, H, 2011, tr. 43, 44, 91-93, 95, 185, 363, 363, 508, 364
14. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, H,1985, tr. 156
16. Người con ưu tú của Tiền Giang
17. Một chiến sĩ vượt biển kỳ cựu của đội thuyền tỉnh Bạc Liêu, năm 1947 từng điều khiển thuyền buồm đi Thái Lan để mua vũ khí, chở về Nam Bộ
20. Đi từ Hải Phòng qua eo biển Quỳnh Châu ở phía Bắc đảo Hải Nam (Trung Quốc) ra khu vực biển giữa Bắc Philippines và Hồng Kông, sang phía Tây Philippines và Đông quần đảo Trường Sa, vòng xuống ven biển Malaysia, đến sát Singapore, qua vịnh Thái Lan, về vùng biển Tây Nam. Theo Bộ Quốc phòng: Đường Hồ Chí Minh trên biển Con đường của ý chí và sức sáng tạo Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2011, tr. 70-71
21. Sau đó là Đoàn 371 và G473, gọi chung là Đoàn 371
22. Đặng Phong: 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri Thức, H, 2008, tr. 178-184
23. Theo quy định, những vũ khí do Liên Xô, Trung Quốc sản xuất phải xóa các chữ ghi nguồn gốc trước khi chuyển vào miền Nam
29, 31. Bộ Quốc phòng: Đường Hồ Chí Minh trên biển Con đường của ý chí và sức sáng tạo Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2011, tr. 45, 45
30. Bộ Quốc phòng, Tổng cục hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb QĐND, H, 2011, tr. 217
32. Trung tâm Thông tin truyền thông vì môi trường phát triển: Huyền thoại Đường Hồ Chí Minh trên biển, Nxb TTXVN, H, 2011, tr. 70-72.