Tóm tắt: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng được triển khai rộng rãi lấy ý kiến góp ý của nhân dân từ ngày 15-10-2025. Trong Dự thảo có nội dung quan trọng là “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để Việt Nam phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới. Đây là quan điểm đúng đắn và sáng tạo, có tính đột phá, là động lực then chốt của phát triển, là nội dung mới về cả lý luận và thực tiễn. Để thực hiện mục tiêu này cần có các nhóm giải pháp, từ quan điểm, chủ trương, cơ chế, đến các giải pháp chiến lược, những điều kiện để phát triển đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia về khoa học, công nghệ.

Từ khóa: Khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV


Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước
tham quan các gian hàng giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khoa học - công nghệ

1. Quan điểm đúng đắn, sáng tạo “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng (gọi tắt là Dự thảo Báo cáo Chính trị), xác định rõ quan điểm, mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó, quan điểm chỉ đạo quan trọng hàng đầu được xác định: “(1) Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”1. Về mục tiêu phát triển, Dự thảo Báo cáo Chính trị xác định: “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”2.
Về những định hướng và mục tiêu phát triển, Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu rõ: “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, trong đó xác định: “Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao... Tạo môi trường thuận lợi để khu vực tư nhân tin tưởng, sẵn sàng tham gia đầu tư, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Hình thành các tổ chức, các nhóm nghiên cứu và triển khai mạnh, đạt trình độ khu vực và thế giới. Tăng cường hợp tác công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Phát triển và khai thác có hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn, kinh tế dữ liệu. Chủ động đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ; xây dựng mạng lưới đổi mới sáng tạo, thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh, môi trường hoạt động sáng tạo cho đội ngũ chuyên gia, nhất là những chuyên gia giỏi, có nhiều cống hiến cho đất nước3.
Có thể khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, sáng tạo và phù hợp thực tiễn phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc và phù hợp thời đại, thời kỳ Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ trương này thể hiện sự phát triển trong nhận thức, sự đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và nhân dân, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là chủ trương được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn của đất nước, yêu cầu của thời đại, những thành tựu đã đạt được về phát triển đội ngũ trí thức, nhà khoa học trên các lĩnh vực, trong đó có khoa học, công nghệ trong gần 40 năm đổi mới. Điều này cũng minh chứng chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, nhà khoa học, về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đúng đắn, phù hợp thực tiễn và yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.  Bởi, trí thức, nhà khoa học chính là lực lượng đại diện trí tuệ, tài năng, là một trong những nguồn lực, động lực quan trọng nhất mang lại những đột phá “cải cách”, sự giàu mạnh, phồn vinh cho dân tộc, cho đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát huy vị trí, vai trò của của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, gần đây, HNTƯ 8, khóa XIII của Đảng ban hành Nghị quyết 45-NQ/TW, ngày 24-12-2023, “về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”4, đã góp phần quan trọng phát triển nền khoa học công nghệ Việt Nam, định hướng quan điểm, mục tiêu trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Tính đến năm 2024, dân số của Việt Nam là 99.516.224 người5, trong đó, số người có trình độ cao khá lớn, gồm: giáo sư, phó giáo sư là 9.000 người6; tiến sĩ là 24.646 người; thạc sĩ khoảng hơn 100.000 người. Về cơ sở đào tạo, có 242 trường đại học, 236 trường cao đẳng7; tỉ lệ giảng viên có trình độ đại học chiếm khoảng 79% (con số này năm 2011 là 47%)8. Bên cạnh đó, Việt Nam có khoảng hơn 6 triệu người Việt Nam sinh sống ở gần 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 600.000 người trình độ từ đại học trở lên, trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ9.



 
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính,
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan khu trưng bày sản phẩm khoa học công nghệ


Về chất lượng, đội ngũ trí thức, nhà khoa học Việt Nam ngày càng phát triển, có nhiều đóng góp về khoa học, với nhiều công trình nghiên cứu mang tầm khu vực và quốc tế. Theo kết quả tổng hợp từ cơ sở dữ liệu Scopus của Nhà xuất bản Elsevier, giai đoạn 2018-2022, Việt Nam có 76.672 công bố, trong đó kể từ năm 2020 đến nay số lượng công bố hàng năm đều đạt trên 18.000 bài10, đứng thứ 5 Đông Nam Á, bằng 1/3 so với nước đứng đầu là Inđônêxia, bằng 1/2 so với nước đứng thứ 2 là Malayxia. Giai đoạn 2022-2025, Việt Nam có nhiều bước tiến trong việc thu hút chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài, góp phần bổ sung nguồn lực chất lượng cao cho phát triển đất nước. Những quốc gia và vùng lãnh thổ có hợp tác nghiên cứu với Việt Nam nhiều nhất, xếp theo thứ tự, lần lượt là: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc), Anh, Iran...

Trong 9 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đứng đầu thế giới về nhập, xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo. Theo Báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, tháng 9-2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và vùng lãnh thổ trong danh mục khảo sát. Trong các chỉ số thành phần của GII, Việt Nam dẫn đầu thế giới ở 3 lĩnh vực: đứng đầu về nhập khẩu công nghệ cao, với tỷ lệ 29,4%, cùng vị trí với Hồng Kông (Trung Quốc), trong khi Malaysia và Philippines lần lượt xếp thứ ba và thứ tư. Về xuất khẩu công nghệ cao, Việt Nam cũng đứng số một thế giới (cùng Malaysia và Philippines), với tỷ lệ 36,1% tổng thương mại toàn cầu11. Những chỉ số này cho thấy khả năng hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Vai trò của trí thức, nhà khoa học Việt Nam tạo dấu ấn ở một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đặc biệt là khoa học công nghệ, các ngành mũi nhọn, động lực của đổi mới sáng tạo quốc gia, với những đóng góp đặc thù và nổi bật: 1) Trí thức là lực lượng dẫn dắt tri thức và công nghệ: Trong nền kinh tế số, tài nguyên quan trọng nhất không còn là tài nguyên thiên nhiên, mà là tri thức, dữ liệu và công nghệ. Trí thức, nhà khoa học chính là “người khai phá” của thời đại mới: từ ý tưởng, sáng kiến đến ứng dụng thực tiễn; nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và triển khai các mô hình sản xuất, kinh doanh mới dựa trên nền tảng số. 2) Trí thức – hạt nhân trong chuyển đổi số quốc gia. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa tài liệu hay quy trình hành chính, mà là chuyển đổi tư duy, mô hình vận hành toàn bộ hệ thống. Trí thức đóng vai trò vừa là người hoạch định chính sách, thiết kế kiến trúc hệ thống dữ liệu, điều phối các nền tảng công nghệ số; vừa là giảng viên, nhà đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật số; giúp số hóa nguồn nhân lực quốc gia. 3) Trí thức trong các ngành mũi nhọn: Trí tuệ nhân tạo (AI): Trí thức trong lĩnh vực AI chính là “kiến trúc sư” của tương lai, “là người” xây dựng các thuật toán học, các mô hình xử lý ngôn ngữ, thị giác máy tính, robot… Trí thức, nhà khoa học định hướng đạo đức AI, bảo đảm sử dụng AI phục vụ con người, không bị thao túng hay lệch chuẩn. Trong công nghiệp bán dẫn, nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là “bộ não” của mọi thiết bị thông minh. Trí thức Việt Nam (trong và ngoài nước) đang là lực lượng cốt cán trong thiết kế vi mạch, chế tạo chip, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. 4) Trí thức - động lực của đổi mới sáng tạo quốc gia: Trí thức tạo ra môi trường khởi nghiệp sáng tạo (startup, spin-off từ các viện, trường) và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Vai trò của họ không chỉ là “người sáng tạo công nghệ” mà còn là “người kiến tạo thể chế đổi mới” - giúp hình thành chính sách phù hợp cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia Việt Nam được khẳng định bằng nhiều hình thức sáng tạo, đồng hành cùng nhân dân; là biểu tượng sinh động của trí thức, nhà khoa học trong xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ mới, gắn với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đóng góp của trí thức, nhà khoa học lĩnh vực khoa học, công nghệ đã góp phần tạo dấu ấn trong quá trình phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.
Tuy nhiên, với những đóng góp lớn lao của đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong nhiều năm qua, bên cạnh thành tựu của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia Việt Nam, vẫn còn nhiều rào cản, bất cập. Đó là tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức.
2. Một số góp ý về nhóm giải pháp đối với trí thức, nhà khoa học, chuyên gia trên lĩnh vực khoa học, công nghệ
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu rõ: “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen”; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Về khoa học, công nghệ, Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu rõ một số hạn chế: “Cơ chế, chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Cơ chế, chính sách, nguồn lực đầu tư, quản lý tài chính trong khoa học, công nghệ và chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ trí thức chưa phù hợp. Thị trường khoa học, công nghệ chậm phát triển. Một số ngành khoa học, công nghệ chiến lược, mũi nhọn phát triển còn chậm. Doanh nghiệp chưa thực sự đóng vai trò là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia”12.
Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cần có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng tạo xung lực mới, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Do đó, Dự thảo Báo cáo Chính trị cần làm rõ thêm nội dung “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực then chốt” trong sự nghiệp phát triển đất nước; nhấn mạnh các chính sách đột phá “trọng dụng, đãi ngộ và phát huy tối đa tiềm năng” của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, đội ngũ chuyên gia khoa học công nghệ trong nước và nước ngoài.
Để tạo ra bước đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước thực hiện các nhiệm vụ như Dự thảo Báo cáo Chính trị đã nêu, đó là: “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, theo đó, chúng tôi nêu một số nhóm giải pháp kiến nghị đối với trí thức, chuyên gia, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ:
Một là, về chủ trương, chính sách đặc thù cho khoa học công nghệ. Tiếp tục xây dựng hoàn thiện sâu sắc hơn quan điểm, chủ trương “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực then chốt”, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia trên lĩnh vực khoa học, công nghệ; chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài, bao gồm: i) Cải cách chế độ tiền lương và phụ cấp: Xây dựng chế độ tiền lương và phụ cấp đặc thù cho đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia đầu ngành khoa học, công nghệ. ii) Có cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đặc thù đối với trí thức, nhà khoa học xuất sắc về khoa học, công nghệ, loại bỏ các rào cản hành chính. iii) Thúc đẩy chương trình thu hút trí thức, nhà khoa học đầu ngành khoa học, công nghệ, triển khai các chương trình thu hút và trọng dụng tri thức, nhà khoa học, công nghệ một cách rộng khắp, bao gồm cả các nhà khoa học đẳng cấp quốc tế, người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Tạo ra các mạng lưới kết nối toàn cầu, cơ hội làm việc linh hoạt để trí thức, nhà khoa học, công nghệ đẳng cấp quốc tế, trong đó đội ngũ chủ lực là trí thức nhà khoa học Việt Nam đem trí tuệ, công sức tâm huyết thực hiện bước đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia Việt Nam.
Hoàn thiện chính sách thu hút tri thức, chuyên gia, nhà khoa học, công nghệ đẳng cấp quốc tế. Theo đó, cần có chính sách đồng bộ, đột phá về con người. Xây dựng Chiến lược nhân lực chất lượng cao đa tầng về khoa học, công nghệ theo cấu trúc đa tầng, bảo đảm kế thừa, bổ sung, tương hỗ: i) Đội ngũ tinh hoa, chuyên gia đầu ngành khoa học, công nghệ, đẳng cấp quốc tế; ii) Đội ngũ tri thức nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu khoa học, công nghệ trong nước ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo;  iii) Đội ngũ trí thức, nhà khoa học trẻ Việt Nam và quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.
Hai là, về thể chế. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế quản lý khoa học, công nghệ: i) Đơn giản hóa thủ tục hành chính: Rà soát, loại bỏ các quy trình phức tạp trong việc xét duyệt, phân bổ kinh phí, nghiệm thu các chương trình, đề tài, đề án nghiên cứu. Thiết lập một cơ chế quản lý linh hoạt, đặt niềm tin vào tri thức, nhà khoa học, cho phép tri thức, nhà khoa học, công nghệ chủ động trong việc sử dụng nguồn lực và định hướng nghiên cứu, có thể có rủi ro. ii) Tăng cường vai trò tự chủ cho các tổ chức khoa học: Mở rộng quyền tự chủ về tài chính, nhân sự và kế hoạch nghiên cứu cho các trường đại học, viện nghiên cứu, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và đào tạo khoa học, công nghệ. iii) Đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm khoa học: Xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Chính phủ cần tạo ra các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ, hỗ trợ các nhà khoa học trong việc chuyển giao công nghệ, để kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị kinh tế.
Đổi mới cơ chế đãi ngộ: Xây dựng cơ chế đãi ngộ và sử dụng trí thức, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành dựa trên giá trị đóng góp trí tuệ và hiệu quả công việc, thay vì đặt nặng vào chức vụ hay vị trí công tác. Bảo đảm điều kiện làm việc xứng đáng: Có chính sách đặc thù đãi ngộ, tôn vinh và bảo đảm điều kiện làm việc, nghiên cứu hiện đại cho đội ngũ nhà khoa học khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí thức trẻ, để họ toàn tâm toàn ý với nghề.
Ba là, về đầu tư cơ sở vật chất. Tăng cường đầu tư công cho khoa học, công nghệ: nâng cao tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ. Nguồn vốn này cần được phân bổ hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn, có tính ứng dụng cao, ưu tiên đầu tư vào các phòng thí nghiệm trọng điểm, trang thiết bị hiện đại để các nhà khoa học có điều kiện làm việc tốt nhất: i) Bảo đảm nguồn vốn đầu tư ổn định bằng việc phân bổ ngân sách một cách hợp lý, ổn định cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, tập trung lĩnh vực mũi nhọn, có tính đột phá. Ưu tiên đầu tư vào các dự án trọng điểm quốc gia. ii) Nâng cấp cơ sở hạ tầng nghiên cứu: Đầu tư xây dựng và nâng cấp các phòng thí nghiệm, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Có chính sách quản lý và sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất, tránh lãng phí. iii) Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học: Tạo điều kiện thuận lợi để trí thức, nhà khoa học tham gia các dự án nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Khuyến khích trường đại học, viện nghiên cứu thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ.
Thực hiện “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” như Dự thảo Báo cáo Chính trị, rất cần quyết tâm chính trị cao nhất, sự nỗ lực lớn nhất, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và đặc biệt những con người thực hiện, trong đó đội ngũ tiên phong, mở đường vào tri thức mới, chính là đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia khoa học, công nghệ, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH.
 


Ngày nhận bài:23-11-2025; ngày thẩm định, đánh giá:30-11-2025; ngày duyệt đăng: 16-12-2025
1, 2, 3. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm, ngày truy cập: 23-11-2025
2. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm, ngày truy cập: 23-11-2025

3. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm, ngày truy cập: 23-11-2025

4. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm, ngày truy cập: 23-11-2025
5. https://danso.org/viet-nam/, ngày truy cập: 11-11-2025
6, 8. https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/ca-he-thong-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-moi-co-khoang-200-bang-doc-quyen-sang-che--i351391/#:~:text=các%20quốc%20gia, ngày truy cập: 11-11-2025
7. https://moet.gov.vn/content/tintuc/Lists/News/Attachments/8831/giao-duc-dai-hoc-nam-hoc-2021-2022.pdf, ngày truy cập: 11-11-2025
9. https://dantri.com.vn/xa-hoi/600000-nguoi-viet-o-nuoc-ngoai-la-nhan-luc-chat-luong-cao20231214185818370.htm , ngày truy cập: 11-11-2025
10. https://daibieunhandan.vn/viet-nam-co-18-000-cong-bo-khoa-hoc-tren-tap-chi-quoc-te-uy-tin-moi-nam-10318535.html, ngày truy cập: 9-12-2025
11. https://vnexpress.net/viet-nam-dung-dau-the-gioi-ve-xuat-khau-hang-hoa-sang-tao-4939910.html, ngày truy cập: 9-12-2025
12. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm, ngày truy cập: 23-11-2025.