23/01/2026 - 04:27 PM - 330 lượt xem
Tóm tắt: Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV thể hiện bước phát triển mới về tư duy và tầm nhìn khi xác định bảo vệ môi trường là một trong ba trụ cột trung tâm của phát triển bền vững; nhấn mạnh chuyển đổi từ “bảo vệ môi trường” sang “kiến tạo môi trường” gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên, giám sát môi trường; khuyến khích phát triển ngành công nghiệp - dịch vụ môi trường và huy động sự tham gia của toàn xã hội. Bài viết phân tích những quan điểm mới, các điểm đột phá của Dự thảo Báo cáo chính trị và một số giải pháp thực thi hiệu quả mục tiêu bảo vệ môi trường trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Bảo vệ môi trường; Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
1 . Một số vấn đề môi trường cấp bách ở Việt Nam hiện nay
Trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, “Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XIV của Đảng” (viết tắt là Dự thảo Báo cáo chính trị) xác định một số vấn đề cấp bách cần giải quyết bảo vệ môi trường. Đó là:
Thứ nhất, “Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi trường ở các đô thị lớn, khu công nghiệp và các làng nghề”1. Thực chất là tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề chưa có nhiều chuyển biến. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chỉ khoảng 30% cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, phần lớn còn lại xả thải trực tiếp ra môi trường2. Nhiều làng nghề truyền thống như làng giấy Phong Khê (Bắc Ninh), làng tái chế nhựa Minh Khai (Hưng Yên) vẫn xả thải không qua xử lý, gây ô nhiễm không khí và nguồn nước nghiêm trọng như sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy... Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 24-1-2025 của Thủ tướng Chính phủ “Về các giải pháp cấp bách tăng cường công tác kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước một số lưu vực sông” đã xác định lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là các điểm nóng ô nhiễm, cần xử lý cấp bách.
Kết cấu hạ tầng đô thị tại các thành phố lớn còn hạn chế dẫn tới tình trạng tắc nghẽn giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường kéo dài, chậm được xử lý. Theo báo cáo của Trường Đại học Giao thông Vận tải, mật độ phương tiện cá nhân tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tăng trung bình 10% mỗi năm, trong khi diện tích đường giao thông chỉ chiếm khoảng 8-10% diện tích đô thị, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế (20-25%). Chỉ số ùn tắc giao thông tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thuộc nhóm cao nhất khu vực Đông Nam Á, gây thiệt hại hàng tỷ USD mỗi năm do lãng phí thời gian, nhiên liệu và giảm năng suất lao động3.
Theo Tổng cục Môi trường, nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội thường xuyên vượt ngưỡng cho phép của WHO từ 2-3 lần, đặc biệt trong các tháng mùa Đông4. Nguyên nhân chính là do mật độ phương tiện giao thông cao, hoạt động xây dựng và thiếu không gian xanh, trong khi các giải pháp kiểm soát ô nhiễm còn chậm triển khai. Theo Bộ Xây dựng, hơn 70% hệ thống thoát nước tại các đô thị lớn đã xuống cấp hoặc không đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt trong mùa mưa. Tại TP. Hồ Chí Minh, có tới 22 điểm ngập úng nghiêm trọng được ghi nhận trong mùa mưa năm 2024, nhiều khu vực bị ngập sâu tới 0,5-1m, ảnh hưởng lớn đến đời sống và giao thông5.
Rác thải nông thôn chiếm khoảng 50-60% tổng lượng rác thải cả nước, chủ yếu là rác sinh hoạt, rác từ chăn nuôi, nông nghiệp và phế phẩm sản xuất6. Tuy nhiên, phần lớn rác thải ở nông thôn chưa được thu gom và xử lý đúng cách. Người dân thường đốt hoặc chôn lấp tùy tiện, gây ô nhiễm đất, nước và không khí. Hạ tầng xử lý rác thải chưa đồng bộ, nhiều địa phương ở nông thôn chưa có nhà máy xử lý rác chuyên nghiệp hoặc hệ thống phân loại rác tại nguồn. Nước thải sinh hoạt và chăn nuôi ở nông thôn thường xả trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.
Thứ hai, “Khả năng ứng phó, giảm thiểu tác hại của thiên tai và biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu”7. Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu, với các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở đất, hạn hán và bão lũ ngày càng nghiêm trọng. Nhưng chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt. Các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính còn hạn chế. Trong khi tần suất và cường độ thiên tai gia tăng: Năm 2024, Biển Đông ghi nhận 10 cơn bão và 1 áp thấp nhiệt đới, trong đó 5 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến Việt Nam. Từ đầu năm 2025 đến nay, Biển Đông đã ghi nhận 15 cơn bão và 6 áp thấp nhiệt đới; thiên tai đã khiến 305 người chết và mất tích, tổng thiệt hại ước tính 69.000 tỷ đồng8. Điều đáng nói là các trận mưa lũ, bão ngày càng lớn và càng dị thường.
Thứ ba, “quản lý, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai và nguồn nước hiệu quả chưa cao”9. Thực chất, quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2023, cả nước có hơn 1.000 dự án treo, chiếm dụng hàng chục nghìn ha đất nhưng không triển khai hoặc chậm tiến độ, gây lãng phí lớn nguồn lực đất đai10. Nguồn nước bị khai thác và sử dụng thiếu bền vững. Khoảng 70% lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt chưa được xử lý trước khi xả ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng các sông như sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Cầu. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, việc khai thác nước ngầm quá mức đã dẫn đến sụt lún đất với tốc độ trung bình 1-2 cm/năm, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước và an toàn hạ tầng11. Khai thác khoáng sản thiếu hiệu quả và gây ô nhiễm. Một số mỏ chỉ đạt tỷ lệ thu hồi 30-40%, gây thất thoát tài nguyên nghiêm trọng. Năm 2023, có hơn 1.000 vụ khai thác khoáng sản trái phép được phát hiện, gây thất thu hàng trăm tỷ đồng tiền thuế và phí12. Nhiều khu vực khai thác khoáng sản như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Giang... ghi nhận tình trạng ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân.
Các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh còn mang tính tự phát, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Theo báo cáo tại Diễn đàn Kinh tế tuần hoàn Việt Nam 2025, chỉ khoảng 9% doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến kinh tế tuần hoàn, và phần lớn là các doanh nghiệp FDI13. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ - chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp - chưa có đủ năng lực tài chính, công nghệ và nhân lực để triển khai mô hình xanh hoặc tuần hoàn14. Nhiều mô hình kinh tế xanh hiện nay mang tính thử nghiệm, nhỏ lẻ, chưa hình thành được hệ sinh thái tuần hoàn toàn diện. Dù Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, nhưng theo đánh giá của Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, tiến độ thực hiện còn chậm, đặc biệt trong các ngành phát thải cao như năng lượng, giao thông và xây dựng.
Trước thực trạng môi trường Việt Nam còn nhiều hạn chế cần giải quyết, Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã có nhiều điểm mới mang tầm chiến lược.
2. Một số điểm mới về bảo vệ môi trường trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, môi trường trở thành nhiệm vụ trung tâm trong phát triển. Lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được đặt ngang hàng với phát triển kinh tế - xã hội, trở thành một trong ba trụ cột của phát triển bền vững: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”15. Đây là bước chuyển từ nhận thức mang tính hình thức sang cam kết chiến lược, thể hiện rõ trong các định hướng chính sách cần lồng ghép cả ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường.
Trong các nhiệm kỳ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIII (2021) của Đảng, vấn đề môi trường thường được đề cập như một nguyên tắc định hướng, hoặc một lĩnh vực cần khắc phục sau khi thúc đẩy kinh tế. Chẳng hạn, Đại hội X (2006) đã nhận định, môi trường có: “những diễn biến bất thường về thời tiết và khí hậu”16. Do vậy, quan điểm chỉ đạo trong bảo vệ môi trường ở giai đoạn này là: “Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên. Chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn”17. Đây là quan điểm chỉ đạo vừa có tính chủ động phòng ngừa cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, vừa có tính ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhưng xét một cách tổng thể, thực tiễn 40 năm đổi mới, trọng tâm bảo vệ môi trường thực chất chưa được quan tâm đúng mức. Chủ trương phát triển vẫn nghiêng về “phát triển kinh tế trước, xử lý môi trường sau”. Nguyên nhân là do Việt Nam phải tập trung cho tăng trưởng kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng hạ tầng và công nghiệp hóa. Tuy nhiên, những hệ lụy môi trường ngày càng nghiêm trọng, giải quyết bài toán này, Đảng khẳng định môi trường phải được đặt ngang hàng với phát triển kinh tế - xã hội.
Quan điểm phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm còn có cơ sở từ lý luận vững chắc, được xây dựng từ các nền tảng lý thuyết và quan điểm phát triển hiện đại. Bởi mục tiêu thiên niên kỷ hiện nay là phát triển bền vững và thể hiện trên ba trụ cột: Kinh tế: tăng trưởng ổn định, hiệu quả và cạnh tranh; Xã hội: công bằng, bao trùm, nâng cao chất lượng sống; Môi trường: bảo vệ hệ sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên. Do vậy, việc đặt cả ba yếu tố này làm trung tâm trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu tất yếu để bảo đảm phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường không tồn tại độc lập, mà có mối quan hệ tương hỗ và tác động lẫn nhau. Tăng trưởng kinh tế nếu không đi kèm bảo vệ môi trường sẽ dẫn đến suy thoái tài nguyên, ảnh hưởng đến đời sống xã hội. “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030” cũng đã đặt mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống. Vì vậy, kinh tế, xã hội và môi trường làm trung tâm là cách tiếp cận khoa học, nhân văn và bền vững, giúp bảo đảm lợi ích lâu dài cho quốc gia và cộng đồng.
Thứ hai, Dự thảo Báo cáo chính trị nhấn mạnh cần chuyển từ tư duy “bảo vệ môi trường” sang “kiến tạo môi trường”, tức là không chỉ ngăn chặn ô nhiễm mà còn chủ động tạo dựng môi trường sống lành mạnh, thông qua thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. “Hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”18. Điều này thể hiện sự nâng tầm tư duy phát triển, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu nội tại của Việt Nam. Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt và môi trường suy thoái, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và tuần hoàn là tất yếu để bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng và bảo vệ hệ sinh thái.
Kinh tế tuần hoàn giúp tối ưu hóa tài nguyên, giảm chi phí xử lý chất thải, nâng cao giá trị sản phẩm thông qua tái chế, tái sử dụng. Phát triển kinh tế tuần hoàn sẽ giúp giảm khai thác tài nguyên thô, tái sử dụng chất thải, từ đó giảm áp lực lên môi trường và hệ sinh thái ở Việt Nam trong tương lai. Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành “Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035” (Quyết định 222/QĐ-TTg, ngày 23-1-2025, của Thủ tướng Chính phủ), đây là chiến lược dài hạn.
Phát triển kinh tế xanh sẽ tạo ra việc làm mới trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ sạch, góp phần nâng cao năng suất lao động. Giảm phụ thuộc vào tài nguyên hóa thạch, hướng tới mô hình sản xuất - tiêu dùng bền vững, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Các quốc gia đang chuyển dịch sang mô hình kinh tế xanh để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 đã đặt mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, carbon thấp. Cam kết tại COP26, Việt Nam sẽ đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, đòi hỏi chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế xanh và tuần hoàn là phù hợp.
Việc chủ động phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu tất yếu của quy luật phát triển hiện đại, mà còn là sự cụ thể hóa tầm nhìn chiến lược của Đảng về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đây là hướng đi đúng đắn, cần được thúc đẩy mạnh mẽ và đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị - kinh tế - xã hội.
Thứ ba, Dự thảo Báo cáo chính trị đề xuất các cơ chế giám sát chặt chẽ hơn đối với hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên, xử lý chất thải. Khuyến khích ứng dụng công nghệ mới trong bảo vệ môi trường, như AI, IoT, dữ liệu lớn để theo dõi chất lượng không khí, nước, đất và: “Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý có hiệu quả vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường... Xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia”19.
Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ đã dẫn đến sự gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải nông nghiệp. Nếu không kiểm soát chặt chẽ, các hoạt động sản xuất và khai thác tài nguyên có thể gây ô nhiễm đất, nước, không khí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, quản lý chất thải tại Việt Nam còn nhiều bất cập, thiếu cơ sở hạ tầng xử lý, công nghệ lạc hậu, giám sát chưa hiệu quả. Đặc biệt, chất thải nhựa đang là vấn đề nổi cộm, đòi hỏi các biện pháp quản lý mạnh mẽ hơn. Luật Bảo vệ môi trường (năm 2020) và các văn bản như Quyết định 1316/QĐ-TTg, ngày 22-7-2021, của Thủ tướng Chính phủ “phê duyệt Đề án tăng cường công tác quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam”, Công văn 5518/BTNMT-TCMT, ngày 19-9-2022, của Bộ Tài nguyên và Môi trường “về tăng cường rà soát, kiểm tra, giám sát các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải công nghiệp” đã đặt nền móng cho việc tăng cường giám sát chất thải, chất thải công nghiệp và nhựa.
Chính phủ Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên và môi trường, hướng tới xây dựng hệ sinh thái số phục vụ giám sát và cảnh báo môi trường. Công nghệ hiện đại giúp giám sát thông minh và dự báo sớm xu hướng ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên. Việc tích hợp dữ liệu vào hệ thống quốc gia là bước đi quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số, giúp kết nối thông tin giữa các bộ ngành, địa phương và tổ chức liên quan trong bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Do vậy, việc ứng dụng công nghệ mới trong bảo vệ môi trường không chỉ là xu thế toàn cầu mà còn là yêu cầu cấp thiết để Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Thứ tư, Dự thảo Báo cáo chính trị xác định cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp môi trường, dịch vụ môi trường và phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường: “Phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường”20. Phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường là bước tiến chiến lược trong tư duy của Đảng, thể hiện sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo Quyết định số 1894/QĐ-TTg, ngày 4-9-2025, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030” với các mục tiêu cụ thể: Hình thành các khu, cụm công nghiệp tái chế, xử lý chất thải, sản xuất thiết bị môi trường. Hoàn thiện hệ thống chính sách và khung pháp lý để thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường phát triển như một lĩnh vực kinh tế độc lập. Tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp môi trường vào GDP, tạo việc làm xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Dịch vụ môi trường được xác định là: thu gom, xử lý chất thải rắn, nước thải, khí thải; quan trắc và giám sát môi trường; tư vấn, đánh giá tác động môi trường; dịch vụ tái chế, tái sử dụng tài nguyên. Việc phát triển các dịch vụ này không chỉ giúp giảm áp lực lên môi trường, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn mở ra cơ hội kinh doanh mới, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, phát triển mạnh ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường là minh chứng rõ nét cho tư duy đổi mới của Đảng trong việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Đây là bước đi tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế xanh toàn cầu.
Thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay là một yêu cầu tất yếu, khách quan, xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, ngập lụt, nước biển dâng... đòi hỏi các giải pháp tổng thể, đa ngành và sự chung tay của mọi tầng lớp nhân dân. Ngân sách nhà nước dành cho bảo vệ môi trường còn hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư cho xử lý chất thải, cải thiện hạ tầng môi trường ngày càng tăng. Xã hội hóa giúp huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách và tăng hiệu quả đầu tư. Đây cũng là biểu hiện của quản trị môi trường theo hướng dân chủ, minh bạch, có sự tham gia của cộng đồng.
3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Một là, hoàn thiện thể chế bảo vệ môi trường: “Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường”21. Theo đó, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn hiện nay. Xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, có tính khả thi cao trong áp dụng tại địa phương. Công khai thông tin môi trường, đặc biệt là dữ liệu quan trắc, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường. Thiết lập cơ chế giám sát độc lập, cho phép người dân, tổ chức xã hội tham gia giám sát việc thực thi pháp luật môi trường.
Hai là, đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ môi trường tại các cấp, bảo đảm thực thi hiệu quả các quy định pháp luật: “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”22. Cán bộ môi trường các cấp đóng vai trò then chốt trong việc trực tiếp triển khai các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, các nghị định và thông tư hướng dẫn tại địa phương. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai hiện nay, cán bộ môi trường phải thích ứng với việc tinh gọn bộ máy, tăng khối lượng công việc và yêu cầu chuyên môn cao hơn. Do đó, họ cần rèn luyện kỹ năng số, năng lực phối hợp liên ngành và tư duy chiến lược để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.
Ba là, ứng dụng khoa học - công nghệ vào bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay, ứng dụng khoa học - công nghệ là yếu tố then chốt giúp bảo vệ môi trường hiệu quả, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khoa học - công nghệ giúp giám sát chất lượng không khí, nước, đất bằng các hệ thống cảm biến, vệ tinh và AI. Ứng dụng công nghệ mới giúp phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải hiệu quả hơn. Ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển các nền tảng số giúp hỗ trợ phân tích dữ liệu môi trường, cảnh báo sớm thiên tai và ra quyết định chính sách kịp thời.
Để thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ vào bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay cần đầu tư vào nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải, rác thải, năng lượng tái tạo. Hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ hiện đại từ các nước phát triển. Tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ môi trường. Tăng cường đào tạo chuyên gia về công nghệ môi trường, AI, dữ liệu lớn. Xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia. Ứng dụng AI, IoT, GIS trong giám sát và cảnh báo môi trường. Tạo điều kiện cho các startup phát triển giải pháp công nghệ bảo vệ môi trường.
Bốn là, huy động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường. Môi trường là tài sản chung của toàn xã hội, không ai có thể đứng ngoài cuộc khi môi trường bị ô nhiễm. Tác động tiêu cực của môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế và chất lượng sống của mọi người. Do vậy, mọi người dân đều phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường. Đồng thời, khi toàn dân cùng tham gia, từ cá nhân đến cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức, sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy thay đổi hành vi và thói quen sống thân thiện với môi trường. Quá trình tham gia bảo vệ môi trường cũng sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về hậu quả của ô nhiễm, từ đó hình thành ý thức và hành động đúng đắn. Một số hình thức huy động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường hiện nay cần triển khai là, tổ chức các phong trào “Ngày Chủ nhật xanh”, “Toàn dân tổng vệ sinh môi trường”; lồng ghép giáo dục môi trường vào trường học, hội đoàn, tổ dân phố; khuyến khích người dân phân loại rác tại nguồn, sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường; xây dựng các mô hình “Khu dân cư xanh - sạch - đẹp”, “Gia đình xanh”; tăng cường truyền thông qua mạng xã hội, báo chí, truyền hình để lan tỏa thông điệp.
Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong tư duy chiến lược về bảo vệ môi trường, lần đầu tiên đặt môi trường ngang hàng với kinh tế và xã hội trong mô hình phát triển bền vững quốc gia. Đảng đã có bước chuyển từ tư duy “bảo vệ” sang “kiến tạo” môi trường phát triển xanh. Dự thảo Văn kiện cũng đã nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế, chính sách để thúc đẩy các mô hình phát triển mới, kinh tế số, kinh tế xanh thân thiện với môi trường và ứng dụng công nghệ hiện đại trong giám sát, quản lý, xử lý môi trường là giải pháp then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra. Đây là bước nâng tầm tư duy, hướng đến chủ động bảo vệ môi trường, xây dựng hệ sinh thái phát triển bền vững, thay vì chỉ ứng phó với ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 12-2025
1, 7, 9, 15, 18, 19, 20, 21, 22 . Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo báo cáo Chính trị của BCHTW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://dangcongsan.org.vn/upload/2006988/20250802/68c70512e6a55bfbf5ad89488d90275e146311_du_thao_bao_cao_chinh_tri_18072915.pdf, tr. 11, 11, 11, 19, 23, 33, 33, 33, 49
2. Tình trạng xử lý nước thải, bảo vệ môi trường tại Việt Nam và bài học từ Đan mạch, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-khac/2025/01/tinh-trang-xu-ly-nuoc-thai-bao-ve-moi-truong-tai-viet-nam-va-bai-hoc-tu-dan-mach/, ngày đăng 14-1-2025
3, 4. Xem Nguyễn Hồng Thái: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn Việt Nam, https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/176142/1/CVb12S62022186.pdf
5. Xem: Đức Sĩ, Xuân Đào, Văn Nam: Thực trạng và giải pháp góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông ở các đô thị lớn của Việt Nam, https://giaothong.tapchixaydung.vn/thuc-trang-va-giai-phap-gop-phan-giam-thieu-un-tac-giao-thong-o-cac-do-thi-lon-cua-viet-nam-18317525.htm, ngày đăng 11-12-2025
6. Rác thải nông thôn: Hiện trạng ô nhiễm và hướng đi bền vững, https://t-tech.vn/tin-tuc/tin-trong-nganh/rac-thai-nong-thon-hien-trang-o-nhiem-va-huong-di-ben-vung.html, ngày đăng 16-11-2024
8. Thắng Trung: “Thiên tai dị thường, cực đoan - Bài học thực tiễn và những giải pháp giảm thiểu rủi ro”, https://bnews.vn/thien-tai-di-thuong-cuc-doan-bai-hoc-thuc-tien-va-nhung-giai-phap-giam-thieu-rui-ro/395535.html, ngày đăng 10-11-2025
10, 11, 12 . Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo số 280 /BC-BTNMT về “Tình hình quản lý nhà nước về khoáng sản trên phạm vi toàn quốc năm 2023”, http://vanphong.langson.gov.vn/upload/105364/20240904/6184_VPCP-CN_29082024_6-signed_db1e8.pdf
13 . Lê Kim Liên: “Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn: Cần hoàn thiện cơ chế tài chính xanh và khuyến khích đầu tư”, https://vietq.vn/thuc-day-kinh-te-tuan-hoan-can-hoan-thien-co-che-tai-chinh-xanh-va-khuyen-khich-dau-tu-d238321.html, ngày đăng 10-11-2025
14. Song Linh: Thúc đẩy chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/thuc-day-chuyen-doi-xanh-va-kinh-te-tuan-hoan-186647.html, ngày đăng 10-11-2025
16, 17. Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr. 141, 31.