Tóm tắt: V.I.Lênin là người thầy, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. 100 năm trước, ngày 21-1-1924, trái tim V.I.Lênin đã ngừng đập. Người để lại di sản lớn, quý báu về lý luận, thực tiễn của cách mạng vô sản, mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa. Đi theo tư tưởng của V.I.Lênin, các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam đã đấu tranh kiên cường giành quyền sống, độc lập, tự do và bình đẳng. Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hóa, chủ nghĩa thực dân bị thủ tiêu. Tư tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người của V.I.Lênin mãi mãi tỏa sáng trong thời đại ngày nay.
Từ khóa: V.I.Lênin; giải phóng dân tộc; bình đẳng dân tộc
1. C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng học thuyết cách mạng nhằm giải phóng giai cấp vô sản trên toàn thế giới, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp là CNXH và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời các ông rất chú trọng vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (2-1948), các ông đã nêu rõ sự cần thiết giai cấp vô sản phải đại biểu cho phong trào dân tộc: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”1. Điều đó có nghĩa là giai cấp vô sản phải là giai cấp chủ đạo trong dân tộc.
V.I.Lênin phát triển học thuyết Mác trong thời kỳ CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, CNTB, đế quốc phương Tây đã xâm chiếm các nước trên thế giới, biến các nước đó thành thuộc địa, phụ thuộc và thực hành chủ nghĩa thực dân tàn bạo hòng chiếm đoạt tài nguyên, bóc lột, nô dịch các dân tộc, mở rộng thị trường phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, các tập đoàn tài chính và công nghiệp lớn của CNTB. Mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa thuộc châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ la tinh với chủ nghĩa đế quốc thực dân phương Tây ngày càng gay gắt. Nhu cầu đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa là bức thiết và trở thành một xu hướng lớn, một nội dung cách mạng của thời đại.
Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử như thế, với thiên tài trí tuệ và trách nhiệm trước phong trào cách mạng nước Nga và quốc tế, V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển học thuyết Mác về cách mạng vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, thúc đẩy con đường đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời, V.I.Lênin nghiên cứu và tổng kết phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân, nhất là các dân tộc phương Đông. Khi chiến tranh thế giới (1914-1918) nổ ra, các tập đoàn tư bản, đế quốc tranh giành quyền lợi và cuốn các dân tộc thuộc địa vào cuộc chiến tranh cung cấp sức người, sức của cho những tham vọng và lợi ích của các tập đoàn, quốc gia tư bản hàng đầu. V.I.Lênin thấu hiểu sự cùng khổ của giai cấp công nhân các nước đế quốc, càng hiểu rõ các dân tộc thuộc địa bị bóc lột, vơ vét và đày ải. Người thấy rõ sự cần thiết phải thức tỉnh không để các dân tộc thuộc địa bị đế quốc thực dân lợi dụng, không để họ hành động tự phát, mà phải cách mạng hóa sự nghiệp đấu tranh của các dân tộc bị áp bức hướng theo con đường đúng đắn. V.I.Lênin trở thành lãnh tụ tin cậy của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa.
Đầu thế kỷ XX, nước Nga rộng lớn vẫn tồn tại chế độ quân chủ và phát triển CNTB ở mức trung bình. Nước Nga tham gia vào chiến tranh thế giới giữa 2 tập đoàn đế quốc: Đức, Áo, Hung và Anh, Pháp, Nga. Cuối thế kỷ XIX, V.I.Lênin đã viết tác phẩm nối tiếp Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga. Cùng với những người khác, V.I.Lênin truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân Nga và thành lập Đảng cách mạng: Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga (năm 1918 đổi thành Đảng Cộng sản). Phân tích tình hình nước Nga về chính trị, kinh tế, xã hội, V.I.Lênin nhận rõ nước Nga là khâu yếu trong chuỗi hệ thống của chủ nghĩa đế quốc và giai cấp vô sản Nga sớm được giác ngộ con đường đấu tranh. Vì vậy, cần phải tập trung lãnh đạo cuộc cách mạng ở nước Nga và có thể đi tới thắng lợi. Từ đó hình thành quan điểm cách mạng vô sản không thể đồng thời thắng lợi ở tất cả các nước tư bản mà có thể giành thắng lợi ở một nước, thậm chí là ở một nước mà ở đó CNTB chưa phát triển cao và còn những tàn tích quân chủ phong kiến.
V.I.Lênin và Đảng Bonsevic Nga đã lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại (7-11-1917). Đó là cuộc cách mạng vô sản đã hiện thực hóa lý luận về CNXH, chủ nghĩa cộng sản, mở ra thời đại mới, thời đại quá độ đi lên CNXH. Cách mạng Tháng Mười đã giải phóng các dân tộc bị đế quốc Nga cai trị trước đó, giúp các dân tộc đó đi lên con đường cách mạng, độc lập theo nguyên tắc dân tộc tự quyết.
Sau Cách mạng Tháng Mười, cả hai bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa, đều được V.I.Lênin chú trọng lãnh đạo và ủng hộ. Tấm gương của cách mạng Nga đã cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh để tự giải phóng. Tháng 3-1919, theo sáng kiến của V.I.Lênin, Quốc tế III, tức Quốc tế Cộng sản (QTCS) được thành lập. QTCS là cơ quan lãnh đạo cách mạng vô sản thế giới đồng thời định hướng phát triển cho các dân tộc thuộc địa phát triển theo con đường cách mạng của chủ nghĩa cộng sản.
Chuẩn bị cho Đại hội II của QTCS, V.I.Lênin trực tiếp soạn thảo những văn kiện quan trọng. Trong số các văn kiện đó có bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Sơ thảo luận cương đã tổng kết kinh nghiệm của các dân tộc, quốc gia về những vấn đề hết sức phức tạp, trong đó có: kinh nghiệm vùng Bancăng, các dân tộc phương Đông và các nước vùng Trung Á, người da đen ở Mỹ, các thuộc địa, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. V.I.Lênin nhấn mạnh vai trò của vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa và phải hướng tới thực hiện “quyền dân tộc bình đẳng” thực chất, đồng thời phê phán “tính chất lừa dối trong những lời nói văn hoa của bọn dân chủ tư sản” trong hòa ước Vécxây (Hội nghị Versailles, Pháp, tháng 6-1919, của các nước đế quốc thắng trận trong Chiến tranh thế giới 1914-1918, hứa hẹn về quyền dân tộc tự quyết). V.I.Lênin nêu rõ trong sơ thảo luận cương: “điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản. Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo đảm việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”2.
Trong Sơ thảo luận cương, V.I.Lênin nêu rõ kinh nghiệm của cách mạng Nga đã thực hiện thành công sự bình đẳng dân tộc, “chỉ có chế độ xô‐viết là chế độ có thể thật sự đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bằng cách thực hiện trước hết sự đoàn kết tất cả những người vô sản, rồi đến toàn thể quần chúng lao động, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản”3.
V.I.Lênin đề cao chủ nghĩa quốc tế trong hành động chứ không phải trên lời nói, nghĩa là sự ủng hộ của giai cấp vô sản, các đảng cộng sản đối với phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Thực hiện chủ nghĩa quốc tế cao cả “tất cả các đảng cộng sản phải trực tiếp ủng hộ các phong trào cách mạng của những dân tộc phụ thuộc hoặc không được hưởng đầy đủ quyền bình đẳng”4. V.I.Lênin đặc biệt quan tâm tới các dân tộc “chậm tiến hơn” còn nặng “tính chất phong kiến”. Người nhấn mạnh: “nhất thiết phải có sự giúp đỡ của tất cả các đảng cộng sản đối với phong trào giải phóng dân chủ tư sản của những nước ấy; công nhân của một nước đang thống trị một dân tộc chậm tiến về mặt thuộc địa hoặc về mặt tài chính phải có nhiệm vụ trước tiên ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng của dân tộc ấy”5.
Do sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đối với các nước thuộc địa “không những đã gây ra trong quần chúng cần lao các nước bị áp bức lòng căm thù, mà còn gây ra sự nghi kỵ đối với các dân tộc bị áp bức nói chung, kể cả đối với giai cấp vô sản của các dân tộc đó nữa”6. Cần khắc phục những biểu hiện cực đoan đó. Cần có sự liên minh, đoàn kết giai cấp vô sản, nhân dân lao động các nước đi áp bức và các nước bị áp bức. “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”7. Đó chính là tinh thần của khẩu hiệu chiến lược mà QTCS và V.I.Lênin đề ra là: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.
Sơ thảo luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa, sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức được QTCS thông qua tại Đại hội II, họp từ ngày 19-7 đến ngày 7-8-1920, tại nước Nga Xô viết, thành phố Pêtơrôgrat (nay là Saint Petersburg). Tư tưởng của V.I.Lênin và đường lối của QTCS về cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng của các nước thuộc địa và phụ thuộc đã được xác định rõ và được QTCS tập trung lãnh đạo. Sau Đại hội II của QTCS, nhiều đảng cộng sản đã được thành lập cả ở các nước tư bản và ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Phong trào cách mạng phát triển ở cả phương Tây và phương Đông.
2. Trong hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở lý luận cách mạng đó mục tiêu hành động cứu nước đúng đắn. Tại Paris (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã được đọc tác phẩm của V.I.Lênin Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, bản tiếng Pháp, đăng trên báo L’Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày 16 và 17-7-1920. Đây là sự kiện tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của Nguyễn Ái Quốc, kết hợp chặt chẽ lập trường dân tộc, yêu nước với lập trường cách mạng vô sản và tìm thấy con đường cứu nước chân chính. Nguyễn Ái Quốc là một trong số những người đầu tiên ở các thuộc địa tiếp thụ tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa khi luận cương còn là bản sơ thảo. Sau này, Hồ Chí Minh đã nhớ lại thời điểm lịch sử đó: “Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”8.
Thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin, trong thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã xác định quyết tâm chính trị xóa bỏ chế độ thuộc địa, thực dân giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Nguyễn Ái Quốc hoàn thành bản thảo tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, nêu rõ quan điểm: CNTB, thực dân như một con đỉa có 2 vòi: một vòi bám vào giai cấp vô sản các nước tư bản, một vòi bám vào các dân tộc thuộc địa. Muốn diệt con vật đó phải đồng thời cắt cả 2 vòi của nó. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng ở các thuộc địa. Cách mạng thuộc địa cần tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng vô sản nhưng không phụ thuộc mà có thể chủ động giành thắng lợi, thậm chí có thể giúp đỡ cách mạng ở các nước tư bản. Đó là tư tưởng đúng đắn, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Người nêu rõ: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”9.
Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, họp ở thành phố Tours (12-1920) và là thành viên tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Mối quan hệ giữa giai cấp vô sản, những người cộng sản Pháp với các thuộc địa của Pháp trong đó có Đông Dương, Việt Nam được xác lập và tăng cường. Ngày 26-6-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng các nhà cách mạng ở các thuộc địa họp và quyết định thành lập Hội liên hiệp thuộc địa nhằm thúc đẩy cách mạng ở các thuộc địa. Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội liên hiệp thuộc địa đã xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), báo ra số 1, ngày 1-4-1922. Nguyễn Ái Quốc không chỉ chú trọng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn mong muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Tại Đại hội II của Đảng Cộng sản Pháp, họp từ ngày 21 đến ngày 24-10-1922, Nguyễn Ái Quốc cùng các đại biểu thuộc địa khác đã nhấn mạnh vấn đề giải phóng thuộc địa và phấn đấu để Đại hội thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ ở các thuộc địa”. Đó là yếu tố tích cực tác động đến phong trào đấu tranh ở các thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc mong được đến nước Nga Xô viết và được gặp V.I.Lênin. Ngày 30-12-1922, Liên bang Xô viết (Liên Xô) được thành lập trên cơ sở liên kết nước Nga Xô viết và các nước đã giành được độc lập từ Cách mạng Tháng Mười năm 1917. Sự kiện quan trọng đó càng thôi thúc Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô - Tổ quốc của V.I.Lênin và quê hương của Cách mạng Tháng Mười. Trong hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc sớm xác lập quan hệ với QTCS. Tại Đại hội Tours, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (12-1920), Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ đồng chí Clara Zetkin, Ủy viên Ban Thường vụ QTCS. Khi dự Đại hội II Đảng Cộng sản Pháp (10-1922), Nguyễn Ái Quốc gặp đồng chí D.Manuilsky, đại diện của QTCS. Các cuộc tiếp xúc đó gây ấn tượng sâu sắc về QTCS. Nguyễn Ái Quốc càng muốn hiểu sâu sắc về tư tưởng, lý luận của C.Mác, V.I.Lênin, về đường lối của QTCS, nhất là về cách mạng giải phóng các thuộc địa.
Với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, các đồng chí cộng sản Đức và QTCS, ngày 14-6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang nước Đức và ngày 30-6-1923 tới Liên Xô, bắt đầu thời kỳ mới nghiên cứu, học tập, làm việc tại QTCS, với trọng trách đối với dân tộc mình và trách nhiệm quốc tế, trước hết với các dân tộc thuộc địa, bị áp bức.
Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên từ một nước thuộc địa xa xôi ở châu Á đến với QTCS, với V.I.Lênin, hy vọng mang tiếng nói của người dân các thuộc địa được trao đổi, thảo luận tại cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng thế giới. Những ngày tháng cuối năm 1923, V.I.Lênin lâm bệnh nặng. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc không gặp được vị lãnh tụ mà Người ngưỡng mộ và tin tưởng. Ngày 21-1-1924, trái tim V.I.Lênin ngừng đập, để lại niềm tiếc thương, biết ơn vô hạn của vô sản và nhân dân toàn thế giới. Trong những ngày lễ tang V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc lặng lẽ trong dòng người đi viếng Người.
Ngày 27-1-1924, trên báo Pravda (Sự thật), cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô đăng bài của Nguyễn Ái Quốc: “Lênin và các dân tộc thuộc địa”. Đây là bài báo có giá trị đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn mà trăm năm sau người đọc vẫn vô cùng cảm xúc và có nhận thức chung cùng tác giả. Nguyễn Ái Quốc viết về V.I.Lênin: “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội”10.
Kỷ niệm 2 năm ngày V.I.Lênin qua đời, ngày 21-1-1926, Nguyễn Ái Quốc có bài viết quan trọng: “Lênin và Phương Đông” đăng trên báo Tiếng còi Matxcơva (Liên Xô). Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: Lênin đã kiên quyết lên án mọi thành kiến với nhân dân các thuộc địa; nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới; nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng, nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa”11.
Nguyễn Ái Quốc cho rằng, nhờ thái độ của V.I.Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ trong các nước thuộc địa. Sách lược đúng đắn của V.I.Lênin đã được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng và đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.
Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”12.
Tư tưởng V.I.Lênin đã soi sáng và cổ vũ các dân tộc thuộc địa của châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh giành quyền sống, độc lập và bình đẳng trên cơ sở quyền dân tôc tự quyết. Thế kỷ XX được coi là thế kỷ phi thực dân hóa, nghĩa là chủ nghĩa thực dân bị thủ tiêu trên thế giới. Ngày nay, các dân tộc xây dựng đất nước mình trên con đường độc lập, tự do, ấm no, hòa bình, bình đẳng và hạnh phúc. Tư tưởng bất diệt của V.I.Lênin mãi mãi tỏa sáng.
Thực hiện chỉ dẫn của V.I.Lênin, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930, cùng với Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam bền bỉ đấu tranh chống đế quốc, thực dân giành độc lập trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiến hành kháng chiến 30 năm chống chủ nghĩa thực dân Pháp và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ vì độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, quan hệ hữu nghị, hòa bình, hợp tác với các nước, xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường và hạnh phúc.
1. C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 4, tr. 623-624
2, 3, 4, 5, 6, 7. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, T. 41, tr. 199, 202, 202, 203, 205, 206
8. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 12, tr. 562
9, 10. Sđd, T. 1, tr. 48, 257
11, 12. Sđd, T. 2, tr. 234, 235.