Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ vai trò của Hà Huy Tập trong việc khôi phục và kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng giai đoạn 1933–1938 với những cống hiến quan trọng: tham gia thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài, tổ chức thành công Đại hội I của Đảng (1935), từng bước khôi phục cơ quan lãnh đạo trung ương. Trên cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí trực tiếp lãnh đạo củng cố hệ thống tổ chức Đảng, kiện toàn bộ máy lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn khó khăn.

Từ khoá: Hà Huy Tập; kiện toàn hệ thống tổ chức chức đảng; Đại hội I của Đảng; 1933-1938
Ngày nhận bài: 7-4-2026; ngày đánh giá, thẩm định: 10-4-2026; ngày duyệt đăng: 22-4-2026


Ngôi nhà tranh 5 gian trong Khu lưu niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập

1. Đặt vấn đề
Sau cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp đã tiến hành khủng bố trắng với quy mô và mức độ đặc biệt khốc liệt, gây tổn thất nặng nề đối với lực lượng cách mạng. Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương từ Trung ương đến cơ sở bị phá vỡ nghiêm trọng; nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị bắt, bị giết hoặc bị đày đi các nhà tù; phong trào cách mạng lâm vào tình trạng thoái trào. Trước thực trạng đó, vấn đề khôi phục, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng trở thành yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của cách mạng Việt Nam.
 Hà Huy Tập là một trong số cán bộ lãnh đạo của Đảng được đào tạo bài bản tại trường học của Quốc tế Cộng sản, đã trở thành cán bộ nòng cốt trong việc khôi phục tổ chức đảng, đặc biệt là của Ban Chấp hành Trung ương. Đồng chí đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng lại cơ quan lãnh đạo của Đảng ở ngoài, tổ chức thành công Đại hội I (1935), lãnh đạo chuyển hướng chiến lược cách mạng (1936) và trực tiếp chỉ đạo củng cố hệ thống tổ chức Đảng trong nước.
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Hà Huy Tập, song việc phân tích một cách hệ thống, chuyên sâu về vai trò và đóng góp của đồng chí trong quá trình khôi phục, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng giai đoạn 1933-1938, cần được tiếp tục làm rõ.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và khoa học chính trị, trong đó trọng tâm là các phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện một cách khách quan, toàn diện quá trình hoạt động và cống hiến của đồng chí Hà Huy Tập trong bối cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1933–1938. Trên cơ sở đó, phương pháp logic được vận dụng để phân tích bản chất, mối liên hệ và quy luật vận động của các sự kiện lịch sử, làm rõ vai trò của chủ thể lãnh đạo trong tiến trình khôi phục và kiện toàn tổ chức Đảng.
Phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu, bài viết dựa trên việc khai thác, phân tích và tổng hợp các nguồn tư liệu chính thống, bao gồm: Văn kiện Đảng Toàn tập, các công trình nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tài liệu lưu trữ và các công trình khoa học đã công bố. Việc xử lý tư liệu được thực hiện theo hướng đối chiếu, chọn lọc và hệ thống hóa nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và khoa học của các luận điểm.
 Phương pháp phân tích vai trò cá nhân trong lịch sử, bài viết tiếp cận vấn đề theo hướng kết hợp giữa lịch sử cấu trúc và lịch sử nhân vật, trong đó nhấn mạnh vai trò của đồng chí Hà Huy Tập như một chủ thể lãnh đạo cụ thể. Trên cơ sở đó, phân tích mối quan hệ giữa cá nhân lãnh đạo và bối cảnh lịch sử, giữa năng lực chủ quan và điều kiện khách quan trong quá trình hình thành và thực thi các quyết sách quan trọng của Đảng.
Việc kết hợp các phương pháp trên cho phép bài viết không chỉ dừng lại ở việc mô tả sự kiện lịch sử mà còn đi sâu phân tích, lý giải vai trò và đóng góp của đồng chí Hà Huy Tập trong tiến trình khôi phục và kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Vai trò của đồng chí Hà Huy Tập trong việc khôi phục cơ quan lãnh đạo của Đảng và tổ chức thành công Đại hội I (1933–1935)
Sau khi cao trào cách mạng (1930-1931) mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh nổ ra và bị thực dân Pháp khủng bố trắng, đã có hàng ngàn cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị sát hại, bị giam cầm, hầu như toàn bộ bộ máy tổ chức của Đảng từ Ban Chấp hành Trung ương đến cơ sở đã bị triệt phá. Các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh… người bị giết hại, người bị giam cầm, tù đày trong các nhà tù đế quốc. Phong trào cách mạng lắng xuống vì thiếu tổ chức và không có người lãnh đạo. Trong bối cảnh đó, tháng 4-1932, sau khi hoàn thành khóa học tại Trường Đại học Phương Đông, được sự đồng ý của Quốc tế cộng sản (QTCS), đồng chí Hà Huy Tập quyết định về nước hoạt động. Ngày 30-4-1932, đồng chí Hà Huy Tập rời Mátxcơva về Việt Nam qua Pháp. Tuy nhiên, khi mới đặt chân đến thành phố cảng Mácxây (miền Nam nước Pháp), Đồng chí bị mật thám phát hiện dùng căn cước giả, nên bị trục xuất khỏi Pháp. Vì thế, Đồng chí phải qua Vương quốc Bỉ rồi trở lại Liên Xô, chờ cơ hội về nước. Do sự bủa vây của mạng lưới mật thám, tháng 4-1933, QTCS mới bố trí được cho đồng chí Hà Huy Tập cùng với đồng chí Nguyễn Văn Dựt (tức Svan) về nước qua con đường Trung Quốc.
Khoảng tháng 6-1933 các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt đến Thượng Hải và tìm đường về Quảng Tây. Nhưng khi Hà Huy Tập tới Nam Ninh và Nguyễn Văn Dựt tới Long Châu đã bị cảnh sát Trung Hoa dân quốc bắt, sau hai tuần giam giữ, bị trục xuất khỏi tỉnh Quảng Tây. Hai đồng chí phải tạm lánh sang Quảng Châu (Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, 2006, tr. 111).
 Ngày 1-8-1933, tại Quảng Châu (Trung Quốc), các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt, Lê Hồng Phong tổ chức cuộc họp nhận định tình hình, bàn các công tác thực hiện nhiệm vụ do QTCS giao. Các đồng chí quyết định: “1-Nhất trí với nghị quyết của Đông phương Bộ là phải thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài ở Ma Cao trong thời gian sớm nhất. 2-Triệu tập hội nghị Đảng vào tháng 3-1934”.
Tháng 3-1934, tại Ma Cao (Trung Quốc), các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt đã họp Hội nghị thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài (BCHON) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Lê Hồng Phong được phân công làm Thư ký BCHON; đồng chí Hà Huy Tập là Ủy viên phụ trách công tác Tuyên truyền, đồng chí Nguyễn Văn Dựt phụ trách kiểm tra (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 270). Ngay sau khi được thành lập, từ ngày 16 đến ngày 21-6-1934, BCHON và các đại diện của Đảng ở trong nước đã tổ chức Hội nghị tại Ma Cao để kiểm điểm công tác và bàn chủ trương thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian tới. Hội nghị ra Nghị quyết “Về các vấn đề tổ chức”, nhất trí thông qua Nghị quyết của Đông phương Bộ thuộc Ban Chấp uỷ QTCS về việc thành lập “Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương”, công bố cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của BCHON cho tất cả các đảng viên. Theo đó, BCHON gồm 5 người (3 người do QTCS chỉ định, 2 người do Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ định). BCHON bầu Ban Thường vụ và Thư ký của Ban. Thời gian tồn tại của BCHON do QTCS qui định. Nhiệm vụ của BCHON trong thời gian hiện tại là: xuất bản Tạp chí Bônsơvic, cơ quan lý luận của Đảng; tổ chức các khoá học cho các đảng viên (Đảng Cộng sản Việt Nam, (1999), T. 4, tr. 175-176.
Thực hiện chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng trong nước, BCHON đã cử nhiều cán bộ được đào tạo, đang ở Trung Quốc về hoạt động trong nước. Cụ thể, các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri về hoạt động ở vùng biên giới Lạng Sơn, Cao Bằng; đồng chí Hoàng Văn Nọn về hoạt động xây dựng cơ sở ở Hải Phòng - Hồng Gai; Ngô Tuân (tức Ba Đốc) và Hoàng Luân được cử về Nghệ An để hỗ trợ các đồng chí ở đây lập lại Xứ uỷ Trung Kỳ; Dương Bạch Mai (tức Bourov) và Hồ Nam (tức Trần Văn Giàu) tốt nghiệp Trường Đại học Phương Đông vừa về đến Thượng Hải, cũng được điều ngay về Sài Gòn, tìm bắt liên lạc với các đồng chí Võ Văn Tần (tức Già Trần) và Võ Văn Ngân để lập lại Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ. Đối với Bắc Kỳ, trên cơ sở ngày càng phát triển lớn mạnh của các tổ chức chi bộ Đảng ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội… BCHON dự kiến chỉ đạo sẽ tái lập Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ vào thời gian sớm nhất có thể.
Cùng với việc chỉ đạo khẩn trương khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng trong nước, đồng chí Hà Huy Tập và BCHON tích cực triển khai mọi công việc chuẩn bị để tiến tới tổ chức Đại hội I của Đảng. Tuy nhiên, trong thời gian này, QTCS gửi giấy triệu tập Đảng Cộng sản Đông Dương cử đại diện đi dự Đại hội VII (vào đầu năm 1935). Theo đó, BCHON đã thống nhất cử các đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn... là đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương đi dự Đại hội VII của QTCS tại Mátxcơva (Liên Xô). Vì vậy, việc lãnh đạo BCHON tiếp tục chuẩn bị tổ chức Đại hội I, do đồng chí Hà Huy Tập và đồng chí Phùng Chí Kiên đảm nhiệm.
Từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935, dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Huy Tập, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất được tổ chức tại Ma Cao - Trung Quốc. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 uỷ viên (9 uỷ viên chính thức và 4 Uỷ viên dự bị); Trên thực tế, Đại hội chỉ bầu được 12 người, còn 1 người của Ban Chấp ủy Trung Kỳ chỉ định sau (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 312). Ban Trung ương cử ra Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư). Đồng chí Hà Huy Tập không tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa I), nhưng được phân công làm Thư ký (tức Bí thư) BCHON.
Đại hội I của Đảng đã thông qua Nghị quyết (do đồng chí Hà Huy Tập dự thảo), nêu rõ chủ trương, nhiệm vụ kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng; quy định cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng là BHOCN- cơ quan lãnh đạo cao hơn Ban Chấp hành Trung ương, có quyền chỉ đạo Ban Chấp hành Trung ương; BCHON chỉ tuân thủ sự chỉ đạo của Đại hội đại biểu của Đảng và Ban Chấp hành QTCS.
Thành công của Đại hội I của Đảng là một sự kiện lịch sử mang tính bước ngoặt, đánh dấu việc Đảng Cộng sản Đông Dương đã cơ bản được khôi phục về tổ chức, (từ Ban Chấp hành Trung ương, đến tổ chức cơ sở của Đảng). Thành công của Đại hội khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với cách mạng Việt Nam. Theo đánh giá của đồng chí Hà Huy Tập: “Mặc dù còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, Đảng Cộng sản Đông Dương của chúng ta đã viết nên những trang sử mới trong phong trào cách mạng của xứ sở. Từ chỗ đầu tiên là những nhóm lẻ, ngày nay Đảng ta đã trở thành một Đảng quần chúng, ảnh hưởng, lan rộng và ăn sâu trong các tầng lớp quần chúng bị bóc lột đông đảo. Đối với họ, lá cờ đỏ của chúng ta là tượng trưng sinh động nhất, cụ thể nhất cho cuộc đấu tranh quyết định nhằm giải phóng họ khỏi ách đế quốc và phong kiến” (Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, 2006, tr. 102). Thành công của Đại hội I ghi nhận công lao, đóng góp to lớn của đồng chí Hà Huy Tập với Đảng và cách mạng Việt Nam. Trên cương vị vừa là người chủ trì, vừa là người trực tiếp dự thảo các Văn kiện của Đảng được Đại hội thông qua trở thành Nghị quyết Đại hội. Nội dung Nghị quyết đã chỉ rõ chủ trương, đường lối và những nhiệm vụ chính trị của cách mạng Việt Nam. Đại hội đã thống nhất được ý chí, tư tưởng và chủ trương hành động, khôi phục tổ chức, tập hợp lực lượng, lãnh đạo quần chúng tiếp tục đấu tranh phù hợp với tình hình mới. Nội dung các Văn kiện thể hiện tầm cao trí tuệ của đồng chí Hà Huy Tập, nhà lý luận xuất sắc, nhà tổ chức tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Điều đó được minh chứng bằng những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, cụ thể là sau thời gian diễn ra Đại hội I, kẻ thù liên tiếp đàn áp, khủng bố ác liệt, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương đã bị địch bắt, nhưng hệ thống tổ chức và mạng lưới cơ sở Đảng tiếp tục được xây dựng và củng cố, phong trào cách mạng trong nước dần được khôi phục, niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng được khơi dậy mạnh mẽ, khẳng định sức sống mãnh liệt và vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương với cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1936, sau thời gian đi dự Đại hội VII của QTCS, đồng chí Lê Hồng Phong trở lại Thượng Hải (Trung Quốc). Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí thông báo cho Hà Huy Tập về sự chỉ đạo chuyển hướng tổ chứcsách lược của QTCS khi tình hình quốc tế thay đổi. Hai đồng chí nhận thấy, nhất thiết phải tổ chức Hội nghị để quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội VII của QTCS và thực hiện việc sửa đổi một số điểm trong Nghị quyết của Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương cho phù hợp với yêu cầu cách mạng trong tình hình mới.
Ngày 26-7-1936, tại Thượng Hải, Hội nghị Ban Trung ương do Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và Thư ký BCHON Hà Huy Tập chủ trì, đã thông qua Nghị quyết bổ khuyết cho Nghị quyết Đại hội I; chuyển hướng về tổ chức và sách lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VII của QTCS. Hội nghị bàn về tinh thần “Chiến sách mới” và đưa ra chủ trương, đường lối, nhiệm vụ mới của Đảng, nêu rõ: “Mặt trận nhân dân phản đế là cuộc liên hợp hết các giai cấp trong toàn dân tộc bị áp bức đặng tranh đấu đòi những đều quyền lợi hàng ngày cho toàn dân, chống chế độ thuộc địa vô nhân đạo, để dự bị điều kiện cho cuộc vận động dân tộc giải phóng được phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), T. 6, tr. 151- 152). Hội nghị phân công đồng chí Lê Hồng Phong làm “cán bộ dự trữ ở ngoài”, đồng chí Hà Huy Tập về nước lập Ban Chấp hành Trung ương và khôi phục các tổ chức của Đảng (Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (2006), tr. 138-139).
3.2. Đồng chí Hà Huy Tập trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng 1936-1938
Sau khi về nước, đồng chí Hà Huy Tập bắt tay ngay vào việc lãnh đạo khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng. Ngày 12-10-1936, Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức ở Nam Kỳ, đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Thư ký (Tổng Bí thư). (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 385). Ngay sau Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương cử cán bộ đi chỉ đạo khôi phục lại các đầu mối liên lạc Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên.
Tháng 9-1937, đồng chí Hà Huy Tập chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (mở rộng), kiểm điểm một năm tình hình hoạt động của Đảng (từ tháng 8-1936 đến tháng 8-1937). Hội nghị kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương, gồm 11 đồng chí, trong đó có 9 đồng chí hoạt động trong nước (Hà Huy Tập, Võ Văn Ngân, Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, Hạ Bá Cang, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Trọng, Phùng Chí Kiên, Võ Văn Tần) 2 đồng chí hoạt động ở nước ngoài, (là đồng chí Lê Hồng Phong ở Trung Quốc Nguyễn Ái Quốc ở Mátxcơva, Liên Xô). Hội nghị cử Ban Thường vụ Trung ương gồm 5 đồng chí: Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Chí Diểu, Võ Văn Tần, đồng chí Hà Huy Tập là Tổng Bí thư.
Cuối tháng 3-1938, tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định, đồng chí Hà Huy Tập triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương. Sau khi kiểm điểm những ưu điểm và khuyết điểm về hoạt động, lãnh đạo của Đảng, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương, lập lại Xứ ủy Trung Kỳ, xuất bản tờ báo Dân Chúng và ra Nghị quyết về phòng thủ Đông Dương; công tác vận động binh lính. Hội nghị đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư thay đồng chí Hà Huy Tập.

 
Bìa cuốn sách "Trotsky và phản cách mạng" của đồng chí Hà Huy Tập viết mang bút danh Thanh Hương (1937)

Từ tháng 10-1936 đến tháng 3-1938, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành lập lại các Xứ ủy và khôi phục hệ thống tổ chức cơ sở. Với tài năng, sự nỗ lực, hành động quyết liệt, sâu sát, Tổng Bí thư Hà Huy Tập cùng Trung ương Đảng đã tạo ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam. Việc kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, đã đặt tiền đề thuận lợi cho việc thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tạo nên cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ rộng khắp trong cả nước (1936 -1939).
Giữa lúc phong trào cách mạng đang lớn mạnh, phát triển, tháng 5-1938, đồng chí Hà Huy Tập bị mật thám Pháp bắt, giam ở Khám Lớn Sài Gòn; sau đó bị tòa án thực dân kết án 8 tháng tù và 5 năm cấm lưu trú ở Nam Kỳ”. Tháng 8-1939, thực dân Pháp áp giải đồng chí Hà Huy Tập về quê hương Hà Tĩnh, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương. Mặc dù luôn bị mật thám và chính quyền tay sai địa phương rình rập theo dõi, đồng chí Hà Huy Tập vẫn thường xuyên theo dõi tin tức qua sách báo công khai, hướng dẫn quần chúng làm đơn kiện bọn hào lý tham nhũng, chống các tệ nạn hủ bại hương thôn... Lo sợ trước uy tín và ảnh hưởng của đồng chí với phong trào cách mạng ở Hà Tĩnh, ngày 30-3-1940, chính quyền thực dân dẫn giải đồng chí Hà Huy Tập từ Hà Tĩnh vào Sài Gòn, giam tại Khám Lớn. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (23-11-1940), tòa án thực dân cáo buộc đồng chí Hà Huy Tập phải “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ” và kết án tử hình. Trước tòa, nêu cao khí tiết của người chiến sĩ cộng sản, đồng chí Hà Huy Tập khẳng khái tuyên bố: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn sẽ tiếp tục hoạt động” (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006, tr.23).
Đồng chí Hà Huy Tập ngã xuống trước mũi súng quân thù khi sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta còn dang dở, nhưng tinh thần bất khuất, sự hy sinh anh dũng của đồng chí Hà Huy Tập đã thắp sáng niềm tin của lớp lớp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Khẳng định sự cống hiến to lớn của đồng chí Hà Huy Tập và nhiều đồng chí lãnh đạo thời dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay (Hồ Chí Minh 2011, T. 7, 156).

4. Kết luận
Đồng chí Hà Huy Tập đã thể hiện rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo kiên trung, nhà lý luận sắc bén và nhà tổ chức thực tiễn xuất sắc. Đồng chí không chỉ tham gia thành lập BCHON của Đảng, góp phần khôi phục cơ quan lãnh đạo trung ương, mà còn giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức thành công Đại hội I năm 1935 - dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phục hồi căn bản của Đảng về tổ chức và đường lối.
Trên cương vị Tổng Bí thư từ năm 1936 đến năm 1938, đồng chí Hà Huy Tập đã trực tiếp lãnh đạo kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng trong nước, chỉ đạo chuyển hướng chiến lược cách mạng phù hợp với tình hình mới, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất và thúc đẩy phong trào dân chủ phát triển mạnh mẽ. Những cống hiến của đồng chí đã tạo nền tảng quan trọng cho sự trưởng thành về tổ chức, tư duy chiến lược và năng lực lãnh đạo của Đảng trong các giai đoạn tiếp theo.
Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Hà Huy Tập mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, tinh thần cống hiến quên mình vì Đảng và dân tộc; đồng thời để lại nhiều bài học quý báu về xây dựng Đảng, đoàn kết tổ chức và phát huy vai trò lãnh đạo trong những thời điểm thử thách của lịch sử.
 
Tài liệu tham khảo
Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (2006). Hà Huy Tập Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1999). Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 6. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006). Đồng chí Hà Huy Tập với cách mạng Việt Nam và quê hương Hà Tĩnh, Nxb Lý luận Chính trị, H Hà Nội.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tập I (1930-1954), Quyển 1 (1930-1945) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. T. 7. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.