Tóm tắt: Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1968 - 1973) là sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Hội nghị không chỉ là cuộc đàm phán kéo dài mang tính quốc tế tiêu biểu mà còn là một “chiến trường” đặc biệt, nơi sức mạnh quân sự được chuyển hóa thành thế và lực chính trị - pháp lý trên bàn thương lượng. Ở đó, các nhà chính trị, ngoại giao đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn, sự xuất hiện và hoạt động nổi bật của bà Nguyễn Thị Bình - Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (từ tháng 6 - 1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), đã để lại dấu ấn sâu sắc trên trường ngoại giao quốc tế và lịch sử ngoại giao hiện đại Việt Nam. Những cống hiến của bà đã góp phần vào thắng lợi của Hội nghị, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Thông qua một số hồ sơ lưu trữ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Sài Gòn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II ở thành phố Hồ Chí Minh, bài viết khắc họa lại bản lĩnh kiên cường, đanh thép của bà Nguyễn Thị Bình trong đấu tranh trực diện kẻ thù của dân tộc trên bàn đàm phán Paris.

Từ khóa: Nguyễn thị Bình, Trưởng đoàn đám phán; Hội nghị Paris

Đàm phán bốn bên tại Paris thực chất là một cuộc đấu trí quyết liệt trên mặt trận ngoại giao, nơi mỗi lập luận, mỗi văn kiện và mỗi tuyên bố công khai đều gắn chặt với tương quan lực lượng trên chiến trường. Cuộc đấu tranh ấy đòi hỏi ở người đại diện không chỉ bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn phải hội đủ các phẩm chất: kiên quyết về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, sáng tạo trong phương pháp tiếp cận và nhạy bén trong xử lý tình huống quốc tế phức tạp. Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam đã hội đủ những yêu cầu này. Cùng với ông Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đàm phán phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một chính khách dày dạn kinh nghiệm, đồng thời là nhà báo, nhà thơ có khả năng thuyết phục và quy tụ dư luận quốc tế, sự góp mặt của bà Nguyễn Thị Bình đã tạo thành một “bộ ba thương lượng”. Trong bộ ba ấy, Nguyễn Thị Bình nổi bật với tư cách là người đại diện cao nhất của chính quyền cách mạng miền Nam, đồng thời là hiện thân sinh động của hình ảnh người phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất nhưng giàu trí tuệ và bản lĩnh.
Việc đấu tranh với Mỹ để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thông qua vai trò cùng đàm phán của Nguyễn Thị Bình là rất cam go.
Tại miền Nam, ngày 29-10-1968, xuất hiện sự bất đồng ngày càng trở nên gay gắt giữa Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn về vấn đề đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thừa nhận sự hiện diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 29-10-1968, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson dự định tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào sáng 30-10 và ấn định phiên họp đầu tiên của Hội nghị bốn bên về Việt Nam vào ngày 2-11-1968, tức ba ngày trước ngày bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ, Johnson chỉ thị Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Bunker đến gặp Nguyễn Văn Thiệu đề nghị ký vào bản thông cáo chung giữa hai bên về tham gia cuộc hòa đàm tại Paris. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thiệu vin vào lý do không đủ thời gian lập phái đoàn đi Paris tham dự hòa đàm ngày 2-11 nên từ chối ký. Thực tế, Thiệu từ chối là do ông ta cương quyết phản đối Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia cuộc hòa đàm và “sẽ không ủng hộ lập trường này1. Tiếp đó, Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục vin vào cớ không thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để cự tuyệt vòng đàm phán bốn bên về Việt Nam bằng thông điệp đọc trước Quốc hội chính quyền Sài Gòn ngày 2-11-19682. Trước sự ngoan cố của Thiệu, ngày 4-11-1968, Hoa Kỳ cứng rắn tuyên bố sẽ vẫn tiến hành cuộc hội đàm với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày thứ tư (6-11-1968). Cùng ngày, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn từ Matxcơva, Liên Xô đến Paris chuẩn bị cho phiên họp ngày 6-11-1968. Tuy nhiên, đến ngày 5-11-1968, phát ngôn viên Nhà Trắng buộc phải tuyên bố đình hoãn vô thời hạn phiên họp bốn bên về Việt Nam tại Paris, với lý do chính quyền Sài Gòn cự tuyệt đàm phán.
Ngay sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt được thành lập (6-6-1969), ngày 10-6-1969, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát đã ký Quyết định số 07/QĐ/ CT thành lập phái đoàn tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam, với các điều sau: “Điều 1: Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam trở thành đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Điều 2: Cử bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam”3.
Ngày 12-6-1969, tại phiên họp thứ 21 của Hội nghị Paris, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình chính thức công bố trước Hội nghị về sự kiện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân, thống nhất thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn bên cạnh Chính phủ. Tuyên bố của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình nêu rõ: “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân chủ và hòa bình Việt Nam đã cùng với các chánh đảng, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo và các nhân sĩ yêu nước triệu tập đại hội đại biểu quốc dân để nhận định tình hình, đề ra đường lối, chủ trương trong giai đoạn mới, lập ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh Chính phủ Cách mạng lâm thời để lãnh đạo toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng” và “Để giải quyết đúng đắn vấn đề miền Nam Việt Nam, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đặt điều kiện nào, phải từ bỏ việc duy trì chính quyền tay sai hiếu chiến Thiệu - Kỳ- Hương”4.
Ngày 17-7-1969, tại phiên họp thứ 26 của Hội nghị, trả lời đề nghị của Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn quan sát và liên lạc chính quyền Sài Gòn tại Paris về giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miển Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình khẳng định cuộc bầu cử do chính quyền Sài Gòn “tổ chức dưới họng súng của quân viễn chinh Hoa Kỳ và quân ngụy trong điều kiện đối phương phải hạ vũ khí” tất nhiên chỉ có thể đưa lại kết quả là “củng cố và duy trì chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Do đó không ai lạ gì khi Nguyễn Văn Thiệu làm ra vẻ thành tâm thiện chí cam đoan tôn trọng kết quả bầu cử... Một cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ thật sự chỉ có thể được tiến hành trong điều kiện không có mặt quân xâm lược Mỹ, không đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền và quân đội tay sai của Mỹ”5.
Liên tiếp phản đối thái độ tráo trở của Hoa Kỳ, trong 35 phiên họp liên tiếp của Hội nghị trong năm 1970 (từ phiên họp thứ 46 ngày 11-12-1969 đến phiên họp thứ 82 ngày 3-9-1970), Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Xuân Thủy đã tẩy chay không tham dự. Sau đó, từ phiên họp thứ 53 của Hội nghị ngày 5-2-1970, Phó trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Văn Lâu trở về Hà Nội. Cũng với thái độ tương tự, Trưởng phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam – bà Nguyễn Thị Bình vắng mặt tại nhiều phiên họp trong năm 19706.
Ngày 29-1-1970, tại phiên họp thứ 52, Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn quan sát và liên lạc chính quyền Sài Gòn tiếp tục nhắc lại quyết định “trao trả 62 tù binh Bắc Việt tàn phế để họ trở về miền Bắc” với ba phương thức trao trả: “Chính quyền Hà Nội sẽ tiếp nhận họ; đại diện ủy ban Hồng thập tự quốc tế sẽ hộ tống họ về miền Bắc; thân nhân của các tù binh Bắc Việt sẽ lãnh họ tại vĩ tuyến 17”7. Tuy nhiên, đằng sau tuyên bố của phái đoàn Sài Gòn, chính quyền Thiệu áp dụng biện pháp tình thế, chỉ trao đổi đối với các “tù binh cộng sản” nguyên quán miền Bắc; đồng thời thực hiện trao trả bằng chiến dịch chiến tranh tâm lý mang tên Nguyễn Trãi (triển khai từ năm 1968) với nội dung chính là khai thác vấn đề trao trả tù binh để hạ thấp uy tín của cách mạng và rêu rao cho các chính sách của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn. Cùng với đó, trong các đợt trao trả, chính quyền Sài Gòn âm mưu cài người vào danh sách tù binh trao trả và dùng những nhân vật này tuyên truyền cho chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu, bôi nhọ cách mạng. Nhận định rõ âm mưu của Hoa Kỳ, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cá nhân bà Nguyễn Thị Bình đã thẳng thừng bác bỏ mọi đề nghị về giải quyết vấn đề tù binh của Hoa Kỳ và phái đoàn của chính quyền Sài Gòn.
Tại phiên ngày 5-2-1970, Nguyễn Thị Bình tuyên bố: “Một lần nữa đại biểu Mỹ định dựng vấn đề tù binh để lẩn tránh giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản mà chúng tôi đã đặt ra. Điều đó chứng tỏ Mỹ vẫn không chịu thương lượng nghiêm chỉnh mà chỉ muốn giở thủ đoạn để xoa dịu và lừa bịp dư luận. Còn đại biểu chánh quyền Sài Gòn thì họ chỉ phụ họa theo đại biểu Mỹ. Chúng tôi đã nhiều lần tố cáo rằng Mỹ và chánh quyền Thiệu - Kỳ - Khiêm đang giam trái phép và đày ải hàng trăm ngàn người yêu nước ở hàng ngàn nhà tù ở miền Nam Việt Nam. Một lần nữa chúng tôi đòi hỏi phải trả lại tự do ngay cho những nạn nhân đó. Tôi bác bỏ những lời vu khống và bịa đặt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn… Còn việc giải quyết vấn đề các quân nhân Mỹ bị bắt, như tôi đã nhiều lần nói, sẽ được giải quyết cùng toàn bộ các vấn đề khác trong giải pháp 10 điểm. Nếu vấn đề đó đến nay chưa được đề đạt là do Chính phủ Mỹ đã không chịu từ bỏ chánh sách xâm lược của họ để chấm dứt chiến tranh, giải quyết các vấn đê hậu quả của chiến tranh. Họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình hình đó với những binh lính Mỹ bị bắt và gia đình của họ”8.
Đồng quan điểm với phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Phó trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhấn mạnh: “Chánh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thi hành một chánh sách nhân đạo đối với những phi công Mỹ bị giam giữ trên miền Bắc. Chánh sách đó là xuất phát từ nhân đạo và lòng khoan dung của Chánh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... Đại biểu Mỹ hoàn toàn không có quyền gì nêu ra những đòi hỏi này nọ đối với những phi công Mỹ bị bắt, bị giam giữ ở miền Bắc sau khi chúng bị bắt quả tang vi phạm luật pháp của Chánh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vấn đề trước mắt là Mỹ phải chấm dứt xâm lược, phải giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam trên cơ sở giải pháp 10 điểm của Mặt trận Giải phóng và của Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các vấn đề phụ thuộc khác sẽ được giải quyết”9.
Hội đàm Paris càng trở nên căng thẳng khi Mỹ đưa ra nhiều yêu sách “không thể chấp nhận được” nên ngày 17-9-1970, trở lại bàn đàm phán sau một thời gian vắng mặt, Trưởng phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình công bố đề nghị 8 điểm, trong đó kiên quyết yêu cầu: “Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Nam Việt Nam không điều kiện quân và chiến cụ của họ và của đồng minh, đồng thời phải phá hủy căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Trong trường hợp Hoa Kỳ tuyên bố rút hết quân trước ngày 30-6-1971, quân lực “nhân dân giải phóng” sẽ không tấn công quân lực Hoa Kỳ và đồng minh nữa. Đồng thời các vấn đề đảm bảo an toàn cho quân lực Hoa Kỳ và đồng minh và phóng thích tù binh sẽ được đem ra thảo luận ngay. Vấn đề quân sự Việt Nam sẽ do người Việt Nam cùng nhau giải quyết. Chánh quyền hiện hữu của Việt Nam Cộng hòa chỉ là công cụ của Hoa Kỳ. Mặt trận Giải phóng chỉ nói chuyện với một chính quyền loại trừ ba vị Thiệu, Kỳ, Khiêm và tán thành hòa bình, trung lập. Nhân dân miền Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị qua một cuộc tổng tuyển cử tự do, dân chủ thực sự” và “Chánh phủ liên hiệp lâm thời sẽ thi hành chánh sách ngoại giao hòa hợp dân tộc và tổ chức tổng tuyển cử để thành lập chánh phủ liên hiệp chính thức”10.
Trong năm 1970, Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình vắng mặt trong nhiều phiên họp liên tiếp để phản đối thái độ đàm phán không nghiêm chỉnh của phía Hoa Kỳ. Luân phiên thay thế Bộ trưởng Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình là các ông Nguyễn Văn Tiến và Đinh Bá Thi. Trong năm 1971, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình vắng mặt trong 20 phiên (4 phiên liên tiếp từ phiên thứ 104 ngày 25-2-1971 đến phiên thứ 107 ngày 18-3-1971, để đi Bucarest, Romania; ngày 27-5-1971, bà đi Belgrade, Nam Tư. Sau đó, bà tiếp tục bỏ 15 phiên liên tiếp trong 5 tháng cuối năm 1971, từ phiên thứ 125), để phản đối Hoa Kỳ leo thang và mở rộng chiến tranh trên khắp Đông Dương. Thay thế Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình vẫn là các ông Nguyễn Văn Tiến và Đinh Bá Thi.
Trong hai phiên họp liên tiếp (phiên họp thứ 94 ngày 10-12-1970 và thứ 95 ngày 17-12-1970), trả lời đề nghị ngừng bắn của Tổng thống Hoa Kỳ Nixon, Nguyễn Thị Bình đưa ra “Tuyên bố ba điểm”: 1) Sẽ thực hiện ngừng bắn giữa các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam đối với quân đội Mỹ nhân viên quân sự Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ngay sau khi Chính phủ Mỹ tuyên bố rút hết quân đội và nhân viên quân sự Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trước 30-6-1971. 2) Sẽ thực hiện ngừng bắn giữa các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam đối với chánh quyền Sài Gòn ngay sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chánh quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm tán thành hòa bình, độc lập trung lập dân chủ thỏa thuận với nhau về việc lập chính phủ liên hiệp lâm thời gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử. 3) Các bên sẽ cùng nhau định ra những biện pháp nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh các điều kiện đã được thỏa thuận11. Tuyên bố trên của bà Nguyễn Thị Bình đã tỏ rõ lập trường không thể tách rời vấn đề quân sự và chính trị trong giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Việc chấp nhận thảo luận với chính quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, đã cho thấy sự nhượng bộ, thiện chí của cách mạng đối với vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Điều đó đã phản bác luận điệu xuyên tạc của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn cho rằng, Quân Giải phóng cương quyết thực hiện lật đổ hoàn toàn chế độ Sài Gòn, thâu tóm chính phủ liên hiệp và tiến hành bầu cử theo ý muốn. Để cho thấy tinh thần nghiêm túc trong những cam kết trên, ngày 29-4-1971, tại phiên họp thứ 111, bà Nguyễn Thị Bình công bố “Lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 26-4-1971 về việc không tấn công các binh sĩ Mỹ phản chiến không có hành động đối địch với quân và dân miền Nam Việt Nam”12.
Trong phiên họp thứ 118, ngày 24-6-1971, với các chứng cứ mới, bà Nguyễn Thị Bình vạch trần bộ mặt xâm lược của Hoa Kỳ: “Để chống lại một giải pháp chánh trị đúng đắn cho vấn đề miền Nam Việt Nam, chánh quyền Nixon không ngớt đưa ra những luận điệu xuyên tạc về nguồn gốc cuộc chiến tranh cũng như thực tế tình hình ở miền Nam Việt Nam. Nhưng những luận điệu dối trá của họ không ngừng bị bóc trần trước dư luận. Thêm một bằng chứng mới nữa là việc báo chí Mỹ vừa công bố một tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ. Dầu chỉ nêu lên một phần sự thật, tài liệu đó cũng đã để lộ rõ quá trình can thiệp và xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam trong suốt mấy chục năm nay”, “Đây là sự xác nhận không thể chối cãi được, một sự thật mà chúng tôi đã nêu lên từ lâu, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội nghị này”13.
Ngày 30-11-1972, tại phiên họp thứ 168, bà Nguyễn Thị Bình lên tiếng tố cáo Hoa Kỳ bội tín, đẩy lùi khả năng lập lại hòa bình, oanh tạc cả hai miền Việt Nam ác liệt; đồng thời, ào ạt đưa thêm vũ khí và phương tiện chiến tranh mới vào miền Nam Việt Nam; tố cáo chính quyền Sài Gòn tăng cường đàn áp, khủng bố nhân dân14. Ngày 7-12-1972, tại phiên họp thứ 170, bà Nguyễn Thị Bình tiếp tục yêu cầu Hoa Kỳ phải ký kết ngay bản dự thảo Hiệp định hòa bình, tố cáo Hoa Kỳ đã kéo dài cuộc thương thuyết nhằm mục đích nới rộng cuộc chiến và củng cố chính quyền Sài Gòn15.
Vào hồi 11 giờ (giờ Paris), ngày 27-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, Đại lộ Kleber, Paris, đại diện bốn bên, gồm: Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lầm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ William p. Rogers và Tổng trưởng Ngoại giao chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm, cùng ký kết vào Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trước sự đón nhận của hàng vạn người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Với chữ ký này, Nguyễn Thị Bình đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử ngoại giao Việt Nam và quan hệ Việt - Mỹ: Là người đầu tiên và duy nhất đến nay từng ký một hiệp định quốc tế với đại diện Chính phủ Hoa Kỳ trong thời chiến. Sau này bà nhớ lại: “Đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động... Tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù, để cắm ngọn cờ chiến thắng chói lọi. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn. Tôi không có đủ ngôn từ để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh, dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã tin cậy giao cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này”16.
Một hoạt động khác của bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra Hội nghị Paris (1968-1973) là bà đã đi thăm nhiều nước để vận động được mời tham gia Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết họp ở Lusaka (Zambia). Qua những chuyến đi này đã có nhiều nước đồng ý mời Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị, trong đó quan trọng nhất là Ấn Độ và Sri Lanka. Đây là hai nước thành viên Phong trào không liên kết quan trọng đã từng dự Hội nghị Bandung. Tháng 9-1970, tại Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết ở Lusaka, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được mời tham dự, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao làm trưởng Đoàn. Tại Hội nghị, Nguyễn Thị Bình được mời phát biểu trước sự ngưỡng mộ của nhiều nguyên thủ quốc gia và thủ tướng, người đứng đầu chính phủ các nước trên thế giới. Đến cuộc họp của Phong trào Không liên kết tại George Town tháng 8-1972, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được công nhận là thành viên chính thức của Phong trào, vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được nâng lên một bước. Bà Nguyễn Thị Bình trở thành biểu tượng của hòa bình và Phong trào không liên kết, được rất nhiều người mến mộ, thậm chí họ lấy tên bà đặt tên cho con của mình. Trong hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Bình thuật nhiều chuyện về những hoạt động này: “Anh Tom Hayden17, một lãnh tụ của phong trào, đã yêu chị Jane Fonda, vì chung chí hướng đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Đứa con của anh chị được đặt tên là Troy để tưởng nhớ đến anh Nguyễn Văn Trỗi. Chị Cora Weiss là một phụ nữ nổi tiếng hoạt động xã hội không mệt mỏi. Nhiều chị trong phong trào đấu tranh cho hòa bình, như chị Carol Brightman, vì yêu mến Việt Nam đã đặt tên con là “Bình”18.
Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết, hình tượng bà Nguyễn Thị Bình trong quá trình diễn ra cuộc hòa đàm với biệt danh là “gương mặt phụ nữ nổi bậc nhất trong bàn đàm phán lịch sử”19 là biểu tượng cao đẹp của lịch sử ngoại giao Việt Nam, là sự khâm phục, ngưỡng mộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới, là sự kết tinh của nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh: Kiên trì, nhân văn, bản lĩnh, trí tuệ và phù hợp với thời đại; là tấm gương sáng về phụ nữ cách mạng trong đấu tranh quốc tế, lan tỏa hình ảnh phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ, trí tuệ, giàu lòng yêu nước.
 



Ngày nhận bài: 29-12-2025; ngày thẩm định, đánh giá: 27-1-2026; ngày duyệt đăng: 12-2-2026
1. Báo Tin Sớm số ra ngày 25,26 và 27-11 -1968, Hồ sơ 1017, ĐIICH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
2. Thông điệp của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đọc trước phiên họp khoáng đại của lưỡng viện Quốc hội ngày 2-11-1968, Hồ sơ 835, ĐIICH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
3. Quyết định số 07/QĐ/CT ngày 10-6-1969 của Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miển Nam Việt Nam, Hồ Sơ 967, ĐIICH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
4. Phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình tại phiên họp lần thứ 21, ngày 12-6-1969 Hội nghị Paris về Việt Nam, Hồ sơ 989, ĐIICH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
5. Tài liệu của Nha Chính trị Âu – Phi, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 23, Hồ sơ 1452, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
6. Tờ trình tổng quát về cuộc Hội đàm Ba Lê về Việt Nam trong năm 1970 của phái đoàn Việt Nam Cộng hòa ngày 26-1-1971, Hồ sơ 17718, PTTg, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
7, 8. Biên bản phiên họp thứ 53 Hội nghị Paris về Việt Nam ngày 5-2-1970, Hồ sơ 1075, ĐIICH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
9, 10. Tài liệu của Nha Chính trị Âu - Phi, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 84, Hồ sơ 1462, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
11. Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 94, ngày 28-12-1970, Hồ sơ 1463, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
12. Tài liệu của Nha Chính trị Âu - Phi Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa vể Hội đàm Ba Lê, số 111, Hồ sơ 1466, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
13. Tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về phiên họp thức thứ 118, ngày 24-6-1971 Hội đàm Ba Lê, Hồ sơ 1467, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
14. Tài liệu của Nha Chính trị Âu - Phi, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về Hội đàm Ba Lê, số 168, Hổ sơ 17719, PTTg, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
15. Tài liệu về Hội đàm Ba Lê vể Việt Nam, phiên họp  thứ 169, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, Hổ sơ 1471, QKVH, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
16. Nguyễn Thị Bình: Gia đình, bạn bè và đất nước (Hồi ký), Nxb Tri Thức, H, 2015, tr.131
17. Tom Hayden sinh năm 1939, nhà hoạt động chính trị và xã hội, tham gia tích cực vào các hoạt động phản chiến và đấu tranh vì nhân quyền những năm 1960
18. Nguyễn Thị Bình: Gia đình, bạn bè và đất nước (Hồi ký), Nxb Tri Thức, H, 2015, tr.178-179
19. Dẫn theo “Báo cáo thành tích đề nghị phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động cho đồng chí Nguyễn Thị Bình”, ngày 6.8.2025, của Văn phòng Thành ủy Đà Nẵng, tr. 3.