Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vănĐại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Lời Ban Biên tập: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người chiến sĩ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng được thế giới biết đến là một thiên tài quân sự, nhưng trong ký ức người dân Việt Nam, ông còn là nhà văn hóa, nhà sử học luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với nền giáo dục và lịch sử nước nhà. Sự nghiệp của ông bắt đầu từ một người thầy dạy môn lịch sử, truyền thụ kiến thức và lòng yêu nước đến các thế hệ học trò. Ông bén duyên với lĩnh vực quân sự cũng bắt nguồn từ kiến thức về lịch sử quân sự nhân loại mà ông đã tích lũy được và vận dụng những kinh nghiệm đó vào thực tiễn. Ông dành tâm lực cho việc tổng kết lịch sử và lấy chính trải nghiệm của mình để tìm ra những bài học cho cách mạng Việt Nam. Giới sử học Việt Nam vinh dự, tự hào được Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử.
Từ khóa: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tư duy sử học; lịch sử
1. Khơi nguồn cảm hứng từ những bài học lịch sử
Trước khi trở thành người chỉ huy quân đội, Võ Nguyên Giáp là thầy giáo dạy lịch sử. Lịch sử chính là bài học đầu tiên về lòng yêu nước, bài học đầu tiên dạy làm người. Thầy đã truyền thụ cho nhiều thế hệ học sinh tinh thần yêu chuộng tự do của Cách mạng Pháp và tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất của các thế hệ cha ông. Học trò Trường tư thục Thăng Long thường khoe với bạn bè: “Thầy Võ Nguyên Giáp giảng lịch sử cách mạng Pháp thật tuyệt vời!”. Các bài giảng của thầy rất lôi cuốn: Đánh chiếm ngục Baxti (Prise de la Bastile); Ý nghĩa của ba chữ Tự do - Bình đẳng - Bác ái; lý lẽ của 17 điều trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791... khơi dậy trong người học, lòng yêu dân, yêu nước, chống áp bức cường quyền, chống bất bình đẳng, về tự do...1.
Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam để lại một kho tàng phong phú về lòng yêu nước và kinh nghiệm đấu tranh giữ nước. Giữ trọng trách chỉ huy toàn quân, Võ Nguyên Giáp từng bước tổng kết thành một hệ thống quan điểm phản ánh tư tưởng và nghệ thuật quân sự Việt Nam, lấy kinh nghiệm lịch sử để động viên toàn quân, toàn dân đánh giặc, để tổ chức lực lượng vũ trang, chỉ huy tác chiến phù hợp với thực tiễn chiến trường.
Mùa Thu năm 1946, thực dân Pháp gia tăng các vụ gây hấn, nguy cơ chiến tranh đến gần, vào dịp ngày giỗ đức Trần Hưng Đạo, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trao đổi với Bộ trưởng Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu về việc cần tổ chức một cuộc nói chuyện với số người tham dự càng đông càng tốt, để nhân đó nhắc nhở đồng bào, nhất là nam nữ thanh niên nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn dân ngày 2-9 năm trước: “Xin đồng bào chớ tưởng rằng thế này là đã thái bình đâu”. Được ông Liệu giới thiệu, ông Giáp cho mời anh Trần Văn Hà2 đến Bắc Bộ phủ và nói: “Sắp đến ngày giỗ Trần Hưng Đạo3, anh chuẩn bị cho buổi nói chuyện của tôi tại Nhà hát lớn. Anh kiếm dùm cho tôi cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, anh xem kỹ và đánh dấu bút chì ở mép trang những đoạn quan trọng. Anh cũng chuẩn bị cho nội dung khoảng hai trang thôi, gạch đầu dòng, viết rõ ràng4.
Trần Văn Hà nhớ lại: “Trước tấm bản đồ Nhà Trần chống quân Mông Cổ, tiếng anh Văn sang sảng, lúc trầm lắng với Hội nghị Diên Hồng, khi sôi nổi như cuốn hút mọi người vào các trận chiến, rồi vút lên cao với chiến thắng Bạch Đằng. Tiếng vỗ tay ầm vang như sấm hầu như không thể dứt. Nhà hát lớn thành phố đông nghịt người nghe”. Khi ông Giáp liên hệ tình hình đất nước hiện nay với thời Trần trước âm mưu xâm lược của quân Mông Nguyên, cụ thể là cuộc đàm phán Việt - Pháp đang đi vào ngõ cụt trong khi quân Pháp liên tiếp có những hành động khiêu khích, lấn chiếm, Trần Văn Hà nhận thấy trong cử tọa “những nắm tay chặt, những lồng ngực hực sôi! Ai cũng thấy phải đồng tâm, hiệp lực làm được một cái gì”5.
Trong đời hoạt động cách mạng và chỉ huy kháng chiến, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp may mắn được gần gũi và nhận sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, viết: “Một hôm anh Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết thư cho tôi, nói Bác cần có một cuốn lịch sử Việt Nam. Thật khó tìm được cuốn sách này khi mọi người đã rời thành phố với một chiếc ba lô trên vai. Sau đó, tôi được biết anh Kỳ đã tìm được một cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Bác đánh dấu những đoạn viết về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, đặc biệt là chiến tranh chống Nguyên Mông và khởi nghĩa Lam Sơn và dặn anh Kỳ nhắc anh Thận (tức đồng chí Trường-Chinh - TG) và tôi nên đọc lại những đoạn đó”6.
Lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tâm huyết của vị Tổng Tư lệnh. Ông quan tâm tổng kết kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc, vận dụng trong quá trình chỉ huy kháng chiến, đặc biệt là về kinh nghiệm ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông thời nhà Trần, về tài năng quân sự kiệt xuất của đức Trần Hưng Đạo: “Sức mạnh của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, từ lòng yêu nước, chí khí đấu tranh bất khuất, từ truyền thống nhân ái và cố kết, trí thông minh và sáng tạo được tôi luyện trong quá trình chiến đấu chống ngoại xâm... Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở chỗ ông nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông chủ trương: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Ông xem việc đoàn kết nội bộ là một nhân tố cực kỳ quan trọng để tạo thành sức mạnh... “Trần Quốc Tuấn là vị thống soái có tài năng quân sự tuyệt vời. Nắm vững yêu cầu chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, cả nước đánh giặc, ông chủ trương lấy đoản binh chống trường trận, xem đó là điều thường trong binh pháp nước ta; kết hợp tác chiến của quân triều đình với tác chiến và đấu tranh của lực lượng dân quân các địa phương: “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”. Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại phong kiến... Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, đã xuất hiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợp chiến đấu của quan triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù”7.
2. Vận dụng kinh nghiệm trong lịch sử nhân loại vào thực tiễn Việt Nam
Đồng hành với Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tổng Bí thư Trường-Chinh cũng quan tâm nghiên cứu các học thuyết quân sự, vận dụng chỉ đạo cuộc kháng chiến. Hồi ký Chiến đấu trong vòng vây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ghi: “Anh Trường-Chinh đọc rất kĩ Bàn về chiến tranh của Claudơvít và Đánh lâu dài của Mao Trạch Đông. Mỗi lần gặp cán bộ quân sự có trình độ, anh Trường-Chinh thường hỏi: “Đồng chí đã đọc Claudơvít chưa?”8.
Bàn về chiến tranh là một tổng kết lý luận xuất sắc của Claudơvít từ hơn 130 chiến cục thời cận đại. Trong hành trang mang theo lên chiến khu của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có cuốn sách này. “Trong những tài liệu tôi đem theo ngày rời Hà Nội có cuốn Bàn về chiến tranh, một bản dịch bằng tiếng Pháp của Đơnidơ Navinlơ (Denise Naville). Tập sách khá đồ sộ, đề cập tới nhiều vấn đề về bản chất chiến tranh, những lý luận về chiến lược, chiến thuật quân sự. Gần ngày kháng chiến tôi mới thật chú ý tới cuốn sách này. Trước đó tôi nghĩ Claudơvít bàn về chiến tranh trong thế kỉ trước và không đồng tình với nhận định của tác giả là phải có không gian rộng lớn như nước Nga mới thực hiện được chiến tranh du kích”9.
Dù không đồng tình với Claudơvít về một số luận điểm, dù bối cảnh lịch sử của các cuộc chiến tranh mà Claudơvít tổng kết không giống thực tiễn Việt Nam, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vẫn nghiền ngẫm kỹ lưỡng. Ông viết: “Những tối không làm việc, bên bếp lửa nhà sàn, khi là đồng chí thư ký, khi là Bích Hà (chúng tôi mới lập gia đình mấy tháng) đọc cho tôi nghe một số trang Bàn về chiến tranh. Có lúc cảm thấy như tác giả đang ngồi trước mặt luận bàn về những sự việc diễn ra ngày hôm nay. Claudơvít hiểu sâu sắc tính cực kỳ biến động của chiến tranh. Vì nó chứa đựng quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên, ông ví chiến tranh giống như một canh bạc. Tôi đặc biệt thích chương “Vũ trang nhân dân”, một chương tương đối ngắn trong tác phẩm... Tôi rất chú ý tới đoạn tác giả bàn về cái ông gọi là “chiến tranh nhỏ” (petite guerre). Nó rất phù hợp với những điều ông cha ta đã nói “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “dùng đoản binh thắng trường trận”10.
Những luận điểm của Claudơvít về “Vũ trang nhân dân”, “chiến tranh nhỏ”, “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “dùng đoản binh thắng trường trận” mà ông quan tâm giống với tư tưởng của Trần Hưng Đạo mà vị Tổng Tư lệnh đúc kết: “Những quan điểm tư tưởng chính trị - quân sự của ông (Trần Hưng Đạo-TG) về dựa vào dân, khoan thư sức dân, về xây dựng khối đại đoàn kết trong hoàng tộc và triều đình, trong toàn quân và cả nước, về phương châm chiến lược “dĩ đoản, chế trường”, “quân đội cốt tinh không cốt nhiều, trên dưới một dạ như cha con”... là những tư tưởng tiên tiến, đúng đắn và sáng tạo, vượt thời đại mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị”11.
Trước khi đọc sách của Claudơvít, Võ Nguyên Giáp đã nghiên cứu những kinh nghiệm kháng chiến chống Nhật của Hồng quân Trung Hoa từ rất sớm: “Từ thời làm báo Tiếng Dân, tuy chưa hề có ý nghĩ trở thành một nhà quân sự, tôi thường chăm chú theo dõi cuộc chiến đấu oanh liệt của Hồng quân Trung Hoa. Tôi đọc nhiều tài liệu viết về Mao Trạch Đông và Chu Đức. Những năm làm báo ở Hà Nội, 1935-1940, ngoài những bài viết thường xuyên trên mục “Thế giới thời đàm”, về Bát lộ quân, Tân tứ quân, Biên khu Tấn Ký Sát, tôi còn viết cuốn sách Tìm hiểu tình hình quân sự Tàu, bên trong có khá nhiều bản đồ. Tôi làm công việc này với ý nghĩ đồng bào ta nên vận dụng kinh nghiệm chiến đấu của cách mạng Trung Quốc”12.
Ông lục tìm trong di sản lịch sử nhân loại thời cận đại, từ kinh nghiệm chiến đấu của du kích Nga, du kích Pháp, du kích Nam Tư, du kích Trung Quốc, rồi vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến trường, trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Ông viết trong hồi ký: “Lúc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thì ở Việt Nam đã có cuốn sách Trì cựu chiến của Mao Trạch Đông và cuốn Chiến tranh du kích kháng Nhật của Chu Đức. Chúng ta cũng đã có những cuốn sách nhỏ về du kích Nga, du kích Pháp, du kích Nam Tư. Những kinh nghiệm của Trung Quốc, Liên Xô và các nước đã giúp chúng ta nhiều về kiến thức quân sự. Vấn đề là không tiếp thu máy móc những kinh nghiệm ấy mà phải biết vận dụng sáng tạo, từ thực tiễn chiến trường nước ta mà đi đến một kiểu chiến tranh du kích thích hợp, chiến tranh du kích Việt Nam”13.
Tư tưởng quân sự của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, từ truyền thống toàn dân đánh giặc trong lịch sử dân tộc, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm chiến thuật Chiến tranh du kích từ các nước, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Ông viết: “Trong lịch sử cận đại của thế giới, chưa hề có tiền lệ thắng lợi trong cuộc đối đầu giữa các dân tộc nhược tiểu với các cường quốc đế quốc thực dân hùng mạnh. Chúng ta cần tìm ra những phương thức hữu hiệu để thực hiện “cả nước đánh giặc” trong thời đại mới với những điều kiện hết sức ngặt nghèo: nước nhỏ, dân không đông, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu vũ khí, thiếu cán bộ và tri thức quân sự hiện đại, chiến đấu giữa vòng vây, hoàn toàn không có nguồn tiếp tế từ bên ngoài. Để thực hiện chiến lược toàn dân kháng chiến, Đảng ta đã đề ra: “Triệt để dùng chiến thuật du kích”. Chiến thuật du kích đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử chiến tranh của loài người. Vì đây là cách đánh của kẻ yếu chống lại địch thủ mạnh hơn mình. Chiến thuật du kích đã trở thành quen thuộc với nhiều dân tộc, với những quan niệm và cách áp dụng khác nhau. Ở đây, tôi muốn xuất phát từ thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng và giữ nước của nhân dân ta mà nêu ra những đặc điểm cơ bản của chiến tranh du kích ở nước ta, của chiến tranh du kích Việt Nam”14.
Ông học được nhiều từ những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã viết nhiều tài liệu về Chiến tranh du kích. Trong cuốn Cách đánh du kích (1941) làm tài liệu huấn luyện cho các cán bộ ở Pác Bó, Người viết: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng, quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng, nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc”15.
Khi trao nhiệm vụ cho Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Hồ Chí Minh dặn: chính trị trọng hơn quân sự; người trước, súng sau, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, dựa vào dân, có dân là có tất cả... Cuốn hồi ký đầu tiên Võ Nguyên Giáp viết (1964) mang tên Từ nhân dân mà ra,... là khởi nguồn tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang và chiến tranh nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt tin cậy Võ Nguyên Giáp, trao cho ông chức Tổng Tư lệnh, trao quân hàm Đại tướng, trao cho ông toàn quyền chỉ huy ngoài mặt trận.
3. Nắm bắt thực tiễn lịch sử để điều chỉnh chiến lược, chiến thuật
Tư duy quân sự Võ Nguyên Giáp luôn luôn xuất phát từ thực tiễn chiến trường, làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo nên chiến thắng. Ông thường xuyên đi thị sát chiến trường, nắm vững thực tiễn lịch sử, đề xuất phương thức tổ chức và phương thức tác chiến phù hợp. Năm 1947, đến Chiến khu 1216, ông chú ý đến hiện tượng ở tỉnh Bắc Ninh một đại đội độc lập do mất liên lạc đã trụ lại chiến đấu trong vùng bị chiếm. Khi nối được liên lạc, Trung đoàn ra lệnh cho đại đội rút lui thì cán bộ chiến sĩ đơn vị đều xin ở lại, tiếp tục chiến đấu trong lòng địch. Đại đội này đã bám chắc vào dân, dựa vào làng chiến đấu, khi tập trung, khi phân tán thành từng trung đội, tiểu đội, đánh địch, phát triển phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. Trở về Việt Bắc, ông đề xuất một phương thức tổ chức và tác chiến mới: “Đại đội độc lập, Tiểu đoàn tập trung”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đồng ý, đưa một bộ phận chủ lực phân tán thành những đại đội về vùng địch hậu để phát động chiến tranh du kích. Bộ đội chủ lực ở khu và Bộ, được tổ chức tập trung ở quy mô tiểu đoàn, phù hợp với quy mô tác chiến và chiến thuật du kích vận động chiến, chủ động, linh hoạt, giữ vững thế chủ động và giành được nhiều chiến thắng vang dội trong nhiệm vụ “giam chân địch tại mấy căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó, thu nhỏ như những hòn đảo giữa bể; chặt đứt giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; giữ gìn chủ lực nhưng cũng phải nhè vào những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt; phải đánh mạnh chúng ở miền xuôi; toàn quốc tự cấp, tự túc, địa phương tự lập”17.
Ở các chiến trường, chiến tranh du kích phát triển mạnh, khắc phục được tình trạng ham xây dựng bộ đội tập trung, ham đánh lớn, trong khi trình độ tổ chức, chỉ huy, tác chiến chưa tương xứng. Cơ chế “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” đã tạo điều kiện cho đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung gắn bó với dân hơn, đưa chiến tranh vào vùng sau lưng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.
Trong chiến dịch Biên giới (1950), Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp thị sát chiến trường, ông nhận thấy Cao Bằng được bao bọc ba bề bởi núi cao, đánh vào Cao Bằng, bộ đội chỉ có một đường là vượt sông Bằng (Bằng Giang), trong điều kiện thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm và hỏa lực chi viện, chắc chắn sẽ thương vong nhiều. Ông đề xuất ra phương án đánh Đông Khê thay vì đánh Cao Bằng. Mất Đông Khê, cô lập Cao Bằng, địch buộc phải rút chạy.
Thay đổi cách đánh, chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một điển hình về khả năng nắm bắt thực tiễn cực kỳ nhạy bén của ông. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến Sở Chỉ huy chiến dịch khi các cán bộ tham mưu đã thống nhất với cố vấn Trung Quốc phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, bằng sức mạnh hiệp đồng của bộ binh và pháo binh, theo kinh nghiệm của Trung Quốc, dùng mũi thọc sâu “như lưỡi gươm đâm thẳng vào tim, tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu, rồi từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn”18.
Sau khi nghe Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình và phương án tác chiến, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nhận định: “ngay bây giờ đánh nhanh đã khó. Rồi đây hẳn càng khó”. Với kinh nghiệm và sự nhạy bén của người chỉ huy luôn bám sát chiến trường, Tổng Tư lệnh nhận thấy “phương án đánh nhanh, thắng nhanh là quá mạo hiểm”19. Ông rất băn khoăn, nhưng chưa đủ cơ sở thực tiễn để bác bỏ. Tổng Tư lệnh chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch và chỉ đạo tích cực chuẩn bị mọi mặt.
Việc kéo pháo vào trận địa dự kiến trong 3 đêm nhưng sau 7 đêm, pháo vẫn chưa vào vị trí, phải lùi thời gian nổ súng thêm 5 ngày. Gần đến ngày nổ súng, một chiến sĩ bị địch bắt, quân báo phát hiện điện đài địch thông báo ngày giờ tiến công của ta nên giờ nổ súng phải lùi lại thêm 24 giờ. Đến thời điểm này, thực dân Pháp đã tăng quân số lên 12 tiểu đoàn, diện mạo một tập đoàn cứ điểm kiên cố đã hình thành. Ông quyết định phải thay đổi cách đánh. Sáng 26-1, Tổng Tư lệnh gặp Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh. Sau khi trao đổi, Cố vấn Vi Quốc Thanh đã đồng ý hoãn cuộc tiến công, chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”20.
Chiến dịch Điện Biên Phủ được chuẩn bị lại theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, chuyển ý đồ đánh nhanh trong 3 đêm 2 ngày thành một trận tiến công và bao vây 55 ngày đêm, giành toàn thắng vào ngày 7-5-1954, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với 21 tiểu đoàn phòng ngự trong hệ thống cứ điểm kiên cố, liên hoàn, được trang bị hỏa lực mạnh nhất thời điểm đó.
Chuyển phương án “đánh chắc, tiến chắc” là trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh và chỉ đạo của Trung ương Đảng, trở về với truyền thống quân sự Việt Nam. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa II (từ ngày 25 đến ngày 30-1-1953) Tổng Bí thư Trường-Chinh chỉ đạo: “Ta không chủ quan, khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh. Nếu chủ quan, mạo hiểm mà một lần thua nặng, thì sẽ tai hại lớn. Chiến trường của ta hẹp, người của ta không nhiều nên nói chung ta chỉ có thắng chứ không được bại, vì bại thì hết vốn”21.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt tin tưởng, trao cho ông toàn quyền và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”22. Trên cơ sở đường lối của Đảng và tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nhạy bén nắm bắt thực tiễn chiến trường, đề xuất phương án tác chiến sáng tạo, đánh chắc thắng, giành thắng lợi cao nhất, hạn chế tối đa tổn thất xương máu của chiến sĩ. Ông quý từng giọt máu của người lính. Ông tâm sự với đội ngũ cán bộ thuộc quyền rằng: “Chiến tranh không phải là vấn đề thể diện, không được phiêu lưu, mạo hiểm, không cho phép đánh đổi bằng bất cứ giá nào. Một người chỉ huy giỏi là một người đánh thắng kẻ thù nhưng ta thương vong thấp nhất, đổ xương máu ít nhất. Sinh mạng của con người là vô giá và không gì có thể bù đắp được nỗi đau mất mát trong chiến tranh”23.
Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn, sau này là Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ, sau này là Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nói: “nếu lần đó cứ “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, thì cuộc kháng chiến có thể lùi lại mười năm!”24.
4. Đúc kết kinh nghiệm lịch sử, vận dụng trong xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp quan niệm rằng, tư duy quân sự và tư duy sử học có một điểm chung, đó là phải xuất phát từ thực tiễn lịch sử. Thực tiễn lịch sử luôn biến động, vì vậy mà lý luận quân sự phải cập nhật và vận dụng phù hợp với thực tiễn. Ông dày công nghiên cứu học các học thuyết quân sự của nhân loại, từ lý luận quân sự của Claudơvít đến những trận đánh của Napoléon, những kinh nghiệm trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, trong chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc, đồng thời nghiên cứu truyền thống đánh giặc của tổ tiên, những trận đánh thắng và không thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, đúc kết thành những nguyên tắc quân sự độc đáo của Việt Nam25.
Ông sớm nghĩ đến việc thành lập các đại đoàn chủ lực, song thực tế những năm đầu kháng chiến cho thấy trình độ chỉ huy tác chiến của bộ đội chưa phù hợp. Từ thực tiễn hoạt động hiệu quả của một đại đội độc lập trong vùng địch hậu ở Bắc Ninh, ông đề xuất chủ trương “Đại đội độc lập, Tiểu đoàn tập trung”, đưa bộ đội vào sâu trong lòng địch, vừa đánh địch, phát triển chiến tranh du kích, vừa xây dựng lực lượng. Khi phong trào chiến tranh du kích phát triển đều khắp, lực lượng lớn mạnh, bộ đội trưởng thành, ông tiến tới xây dựng các đại đoàn chủ lực. Đại đoàn 308 được thành lập ngày 28-8-1949 tại thị trấn Đồn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; tiếp đó là Đại đoàn 304 (10-3-1950), Đại đoàn 312 (25-12-1950), Đại đoàn 325 (11-3-1951), Đại đoàn công pháo 351 (27-3-1951), Đại đoàn 320 (16-4-1951), Đại đoàn 316 (1-5-1951). Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông đã xây dựng thành công các quân đoàn chủ lực, chuẩn bị cho trận đánh quyết định: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Từ những đội du kích tập trung, vị Tổng Tư lệnh đã xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước lên chính quy, hiện đại, từ thực tiễn chỉ huy, chiến đấu, công tác, trưởng thành, không lệ thuộc vào các học thuyết quân sự.
Với ông, tư duy lịch sử và tư duy quân sự quyện chặt với nhau, đem lại cái nhìn vừa lịch sử cụ thể, vừa tổng quan, tổng thể. Từ thực tiễn lịch sử trong kháng chiến chống Pháp, những khó khăn khi kéo pháo vào trận địa, từ thực tiễn hào hùng của hàng chục vạn dân công tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã sớm nghĩ đến con đường chi viện cho cách mạng miền Nam thời chống Mỹ, cứu nước.
Những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tướng Nguyễn Văn Vịnh và tướng Trần Văn Trà đề xuất mở đường Trường Sơn để chuyển quân, vũ khí chi viện cho cách mạng miền Nam. Khi đó, không ít ý kiến ngần ngại. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận rõ tầm quan trọng của con đường chiến lược này. Ông khẳng định ngay: Việc làm đường Trường Sơn là một công tác đột xuất và lâu dài của toàn quân. Ông đề xuất Bộ Chính trị mở đường Trường Sơn, sau mang tên huyền thoại đường Hồ Chí Minh và phát triển thêm “con đường mòn” trên biển26.
Sau khi có Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương đã ra nghị quyết thành lập Đoàn 559, mở tuyến chi viện chiến lược: mở đường xuyên Trường Sơn (tháng 5-1959) và mở “đường mòn trên biển” (7-1959) chi viện người, vũ khí, phương tiện cho cách mạng miền Nam. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đặc biệt quan tâm theo dõi quá trình hình thành và phát triển con đường chiến lược trọng yếu này. Ông đã tạo mọi điều kiện để các vị tướng Võ Bẩm, Phan Trọng Tuệ, Đồng Sĩ Nguyên phát triển hệ thống đường Hồ Chí Minh, từ đường mòn xuyên sơn đến hệ thống đường cơ giới, đường ống, đường biển, đường sông, đường hàng không kỳ diệu. Đường Hồ Chí Minh là một trong những mối quan tâm thường trực của ông trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi đọc bức điện báo cáo chuyến tàu bí mật chuyển hàng vượt biển Đông từ miền Bắc vào miền Nam sau khi băng qua vô số gian khổ đã tới đích thắng lợi, ông đã khóc vì quá xúc động27.
Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp coi trọng việc tổng kết lịch sử, nhất là lịch sử kháng chiến. Ông quan niệm tư duy sử học và tư duy quân sự đều đòi hỏi phải tôn trọng lịch sử, nhìn nhận đúng sự thật lịch sử, cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trên quan điểm lịch sử, trong mối quan hệ biện chứng, trong quá trình vận động, phát triển. Điều đó được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng, Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân, Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Với tầm bao quát của vị Tổng Tư lệnh, những trang hồi ký của ông vừa mang tính cụ thể của nhiều tình tiết sinh động, vừa phản ánh toàn cục của cuộc chiến tranh. Những cuốn Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ: Điểm hẹn lịch sử, Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng là những bộ sử chân thực, sống động trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của Việt Nam.
Vị Tổng Tư lệnh dành nhiều thời gian cho nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử chống ngoại xâm. Ông viết nhiều về lịch sử quân sự, về những chiến công hiển hách và danh nhân tiêu biểu như chiến thắng Bạch Đằng, chiến thắng Chi Lăng, chiến thắng Đống Đa, về Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ... cùng một số tướng lĩnh Việt Nam thời hiện đại. Giáo sư Phan Huy Lê cho biết, trong nghiên cứu lịch sử, khi trao đổi với các sử gia trong và ngoài quân đội, ông đặc biệt lưu ý các nhà nghiên cứu cần kiểm tra và tìm hiểu sâu sắc những khái niệm mà tổ tiên đã tổng kết, như “ngụ binh ư nông” thời Lý; “dân binh”, “dĩ đoản chế trường” thời Trần; “lập cước chi địa”, “dĩ nhược chế cường, dĩ quả địch chúng” thời khởi nghĩa Lam Sơn để thấy đúng tầm khái quát sự tiến triển của tư tưởng quân sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Đại tướng gợi ý, hình như qua lịch sử chống ngoại xâm đã hình thành một số tư tưởng và đặc điểm nghệ thuật quân sự mang tính độc đáo và sáng tạo của Việt Nam, tồn tại như một trường phái quân sự Việt Nam hay một học thuyết quân sự Việt Nam.
Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người có công lớn trong việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đưa ra khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Khi làm đề tài tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Đại tướng đã bỏ ra mấy năm để suy nghĩ và chỉ đạo... về đề tài đó. Có những chương Đại tướng rất công phu như chương nói về tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh so với Các Mác, Lênin sáng tạo ở chỗ nào; hay như chương Đạo đức nhân văn và văn hóa Hồ Chí Minh - đó là một chương rất khó phải đi từ khái quát lịch sử đế khái quát những vấn đề Các Mác, Lênin và những vấn đề trong thực tiễn Việt Nam hiện nay”28.
Ông là người học trò gần gũi, kế thừa được được nhiều nhất từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cả tư duy sử học và tư duy quân sự. Ông nhận được sự tin cậy của Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Chính trị: “Suốt hai cuộc kháng chiến, chưa bao giờ Bộ Chính trị bác bỏ bất cứ một đề xuất chiến lược nào của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hoặc của tập thể Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh”29.
Lời kết
Trong một lần trả lời báo chí, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói: “Nếu không có chiến tranh, tôi là một thầy giáo”, song, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và kháng chiến bảo vệ nền độc lập đã đưa thầy giáo dạy lịch sử thành Đại tướng Tổng Tư lệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn ông làm người chỉ huy lực lượng vũ trang, phong ông chức Tổng Tư lệnh, hàm Đại tướng. Gần 30 năm hoạt động bên cạnh Hồ Chí Minh, là một trong những người gần gũi nhất với Người, ông cảm nhận được tinh hoa của dân tộc và thời đại tỏa sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và ông trở thành một trong những học trò xuất sắc nhất của Người.
Tư duy sử học giúp Võ Nguyên Giáp nắm bắt chính xác cơ sở thực tiễn lịch sử để không lệ thuộc vào lý thuyết quân sự truyền thống và đương đại, từ đó tiếp cận có chọn lọc tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại. Không qua một trường lớp quân sự nào, Võ Nguyên Giáp tự học từ truyền thống lịch sử của dân tộc và kinh nghiệm lịch sử của nhân loại, học trực tiếp từ người thầy vĩ đại - anh hùng giải phóng dân tộc - danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Võ Nguyên Giáp trở thành “vị tướng huyền thoại”, đánh bại 7 Đại tướng Pháp, 3 Đại tướng Mỹ. Học giả người Anh Peter Macdonald trong cuốn sách “Giáp - một sự đánh giá” (Giap an asseesment), xuất bản năm 1992, đã vinh danh Võ Nguyên Giáp như sau: “Ông trở thành một trong những vị tướng tài năng nhất của thế kỷ XX và chuyên gia vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân hiện đang còn sống. Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất duy nhất của thế kỷ XX và một trong những thiên tài lớn nhất của tất cả các thời đại”30.
Tư tưởng quân sự của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được hình thành từ quá trình nắm bắt thực tiễn, kết hợp với tổng kết kinh nghiệm lịch sử của dân tộc và nhân loại, nhất là lịch sử chiến tranh. Ông là người có công đầu trong việc nghiên cứu, phát triển lý luận quân sự, hình thành tư tưởng chiến tranh nhân dân và học thuyết quân sự của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Ông là người viết nhiều nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cảm nhận được sâu sắc tinh hoa trí tuệ tỏa ra từ con người và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để đi đến khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc và CNXH,... mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.
Là vị chỉ huy lỗi lạc của Quân đội nhân dân Việt Nam, Võ Nguyên Giáp còn là nhà báo, nhà văn hóa lớn, nhà sử học vĩ đại. Tư duy sử học giúp ông hiểu sâu sắc rằng, nền tảng quyết định thắng lợi của các cuộc kháng chiến là sức mạnh bắt nguồn từ nền văn hóa dân tộc. Trên cương vị Bí thư Quân ủy trung ương, Đại tướng Tổng tư lệnh, Võ Nguyên Giáp đã rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành một đội quân cách mạng mang bản sắc văn hóa nhân văn của văn hóa Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà quân sự trên thế giới vinh danh ông như một vị tướng huyền thoại, một thống soái vĩ đại, một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX, một trong những vị tướng vĩ đại nhất của mọi thời đại. Nhưng trên tất cả những mĩ từ đó, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tỏa sáng nhân văn đức độ như một bậc hiền nhân, một nhân tướng, như một tứ thơ viết về ông: “Văn lo vận nước, Văn thành Võ/ Võ thấu lòng dân, Võ hóa Văn!”.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 8/2021
1, 7, 11, 23, 25, 26, 29, 30. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Tạp chí Xưa & Nay: Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2010, tr. 321, 233-235, 236, 412, 409, 407, 301, 326-327
2. Trần Văn Hà từng là học sinh trường Bưởi, sau Cách mạng Tháng Tám 1945 được bổ nhiệm làm Trưởng Ty thông tin Hà Nội, sau này là Giáo sư chuyên ngành Chăn nuôi, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp
3. Ngày giỗ đức Trần Hưng Đạo là 20-8 năm Canh Tý (1300)
4, 5. Trần Trọng Trung: Võ Nguyên Giáp - danh tướng thời đại Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2015, tr. 194, 194
6, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15. Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb QĐND - Nxb Thanh Niên, H, 1995, tr. 90, 130, 131, 131-132, 130-131, 225-226, 222, 226
16. Chiến khu 12 gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên (kể cả Đông Triều và Chí Linh)
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 8, tr. 319
18. Hoàng Minh Phương: “Nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng Tư lệnh”. Tạp chí Xưa & Nay, số 208, tháng 3-2004, tr. 10
19, 20. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Nxb QĐND, H, 2000, tr. 96, 107-108
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T.14, tr. 59
22, 24. Võ Nguyên Giáp: Tổng tập Hồi ký, Nxb QĐND, H, 2006, tr. 900, 929
27. Xem: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Tạp chí Xưa & Nay: Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2010, tr. 304
28. Xem: Đại tá, PGS Nguyễn Văn Chung, nguyên Chủ nhiệm khoa Sư phạm quân sự, Đại học Chính trị. Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Điện Biên: Võ Nguyên Giáp - sự kết hợp hiếm có tài năng quân sự với sử học. https://dienbientv.vn/tin-tuc-su-kien/xa-hoi/201208/vo-nguyen-giap-su-ket-hop-hiem-co-tai-nang-quan-su-voi-su-hoc-2181650/.