Tóm tắt: Tạp chí Cộng sản ra đời ngày 1-2-1931, là cơ quan lý luận của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tạp chí xuất hiện trong bối cảnh phong trào cách mạng những năm 1930-1931 đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, đòi hỏi phải có một tờ báo lý luận để tuyên truyền, giáo dục đảng viên và định hướng sự phát triển của phong trào cách mạng. Tiếp nối Tạp chí Đỏ, Tạp chí Cộng sản giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, phê phán các quan điểm, khuynh hướng sai lệch, củng cố tổ chức đảng và nâng cao trình độ chính trị cho đảng viên. Dù chỉ ra được một số duy nhất (số 1) rồi bị đình bản, Tạp chí Cộng sản đã góp phần tạo dựng nền móng ban đầu cho dòng báo lý luận của cách mạng Việt Nam.
Từ khóa: Tạp chí Cộng sản; báo chí cách mạng; Đảng Cộng sản Đông Dương
Ngày nhận: 17-1-2026; ngày thẩm định, đánh giá: 15-6-2026; ngày duyệt đăng: 30-6-2026
1. Đặt vấn đề
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng dân tộc. Từ đây, phong trào công nhân và phong trào yêu nước được thống nhất trong một đường lối chung - đường lối cách mạng vô sản dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự kiện này cũng đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách về công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối của Đảng và tổ chức quần chúng đấu tranh. Trong bối cảnh đó, báo chí được xác định là một vũ khí quan trọng của Đảng. Tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề tuyên truyền - báo chí đã được cụ thể hóa với bốn nội dung chính, trong đó có việc bỏ những tờ báo của các tổ chức cộng sản trước đây để tiến tới xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002, T.2, tr.12-13). Trên cơ sở đó, ngày 5-8-1930, Tạp chí Đỏ ra đời, là ấn phẩm lý luận đầu tiên của Đảng (Đỗ Quang Hưng, 2001, tr.100).
Sau HNTƯ lần thứ nhất (10-1930), Trung ương quyết định ngừng xuất bản Tạp chí Đỏ và thay bằng Tạp chí Cộng sản (Nguyễn Thị Thúy Hằng, 6-11-2015). Trong Thư của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Xứ ủy Bắc Kỳ, ngày 26-1-1931, khi chỉ ra nền tảng lý luận để lãnh đạo phong trào, Trung ương có nhắc đến sự xuất hiện của Tạp chí Cộng sản như sau: “Những tư liệu để căn cứ vào đó mà làm việc, ở đâu ra. Từ các nghị quyết của Trung ương, thư cho ý kiến của Quốc tế Cộng sản, những bài đăng trên Tạp chí Cộng sản (ít lâu nữa sẽ ra mắt), những quyết định của Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Đỏ, những quyết định của Đại hội toàn thể lần thứ 6 của Quốc tế Cộng sản” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1999, T.3, tr.41). Ngày 1-2-1931, Tạp chí Cộng sản số 1 được phát hành, là cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Bản in Tạp chí Cộng sản số 1 hiện đang được lưu trữ tại phông tài liệu SLOTFOM, thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại của Pháp. Đây là một trong số những bản in mà mật thám Pháp đã thu giữ được trong cuộc khám xét tại Nam Xuyên (Nam Định) ngày 27-3-1931. Trong cuộc đột kích này, cơ quan mật thám Pháp đã thu giữ được rất nhiều tài liệu tuyên truyền của Đảng từ báo chí, truyền đơn đến chỉ thị, công văn của chi bộ, chi ủy các cấp. Riêng Tạp chí Cộng sản số 1, số lượng bản in thu được là 242 bản được cất giữ trong một va li và 25 bản khác được chia trong 7 gói hàng đang chờ vận chuyển.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử nhằm làm rõ bối cảnh ra đời, quá trình xuất bản, hoạt động của Tạp chí Cộng sản. Trên cơ sở khảo sát trực tiếp bản gốc còn lưu trữ cũng như đối chiếu với các tài liệu liên quan (văn kiện Đảng), bài viết kết hợp đồng thời phương pháp văn bản học và phê bình sử liệu nhằm khảo sát nội dung các bài đăng trên tạp chí, tập trung vào các chủ đề chính, cách lập luận, ngôn ngữ và phương thức truyền bá quan điểm cách mạng của Đảng. Bên cạnh nội dung, nghiên cứu cũng chú ý tới phân tích hình thức của tạp chí, qua đó làm rõ tính chất của một ấn phẩm xuất bản bí mật trong bối cảnh cách mạng đầu thập niên 30 thế kỷ XX. Thông qua việc vận dụng các phương pháp trên, bài viết xác định vị trí của Tạp chí Cộng sản trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và dòng báo lý luận của Đảng nói riêng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thông tin chung, tôn chỉ, mục đích và đối tượng độc giả của Tạp chí Cộng sản số 1
Giống như một số báo, tạp chí bí mật của các tổ chức cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương bấy giờ, Tạp chí Cộng sản được viết tay hoàn toàn, từ trang bìa đến trang nội dung. Bìa tạp chí được thiết kế trên nền giấy trắng tinh, với ba sọc tô màu đỏ bên phía trái. Ở phía trên, góc trái ghi chữ “Năm thứ nhất, Số 1”; góc phải ghi ngày xuất bản là “Ngày 1 tháng 2, 1931”. Chính giữa trang bìa là chữ “Tạp chí” (viết chữ đen thường) “Cộng Sản” (viết chữ màu đỏ), trên nền hình vẽ búa liềm và ngôi sao năm cánh. Phía dưới của trang bìa là dòng chữ “Cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản (In lần thứ nhất)”.
Tạp chí gồm 51 trang nội dung, khổ giấy 20x25 cm, in trên giấy bột. Căn cứ trên nét chữ, dự đoán việc chép bản thảo do 2 hoặc 3 người đảm nhiệm. Bản viết tay sau đó được nhân bản theo kỹ thật in litho (in thạch bản) khá phổ biến lúc bấy giờ. Tuy nhiên, nhiều trang in có hiện tượng nhòe, lem hoặc mờ nét. Điều này thường là do thao tác in ấn chưa chuẩn, hoặc bản thạch bị mòn.
Cách trình bày trên các trang nội dung của Tạp chí khá đơn giản. Các bài viết được chép liên tiếp trên từng mặt giấy. Tiêu đề bài báo viết bằng chữ thường, cỡ chữ lớn hơn phần nội dung. Giữa các bài viết có sự phân cách bằng đường kẻ ngang giữa dòng hoặc họa tiết trang trí đơn giản. Các trang đều có đánh số ở đầu trang. Những câu hay ý quan trọng được nhấn mạnh bằng cách kẻ chân. Tạp chí có sử dụng lối viết tắt, như chữ “không” viết là “khg”; cách viết tên nước ngoài không thống nhất, ví dụ Stalin hoặc Xít-ta-lin.
Điểm đáng chú ý là Tạp chí có đính kèm 2 tờ “Cải chính” với lời dẫn: “Trước khi đọc sách này, anh em hãy xem đến bản chữa đây mà sửa lại những chỗ thừa thiếu, sai lầm, kể sau đây”. Phần “Cải chính” được lập thành bảng gồm các đầu mục: Trang, Dòng, Sách viết là, Chữa lại là. Tổng cộng có 15 lỗi gồm lỗi từ, lỗi câu, lỗi thiếu ý. Điều đó cho thấy những người phụ trách Tạp chí đã áp dụng kỹ thuật biên tập hiện đại, có sự kiểm soát đầy đủ nội dung, thông tin.
Là tạp chí bí mật của Đảng nên trong Tạp chí không có thông tin về người sáng lập, chủ bút, hay ban biên tập. Các bài viết đều khuyết danh tác giả.
Ngay trong “Lời nói đầu” (dài 4 trang), Tạp chí đã trình bày rõ tôn chỉ, mục đích chính: “Mục đích chánh của tạp chí “Cộng sản” là cốt để giải thích chánh sách của Quốc tế Cộng sản và của đông chúng ta, kịch liệt công kích những tư tưởng sai lầm, những xu hướng hoạt đầu và biệt phái để làm cho nền tư tưởng và cách hành động trong đảng được nhứt thống. Tạp chí “Cộng sản” sẽ thâu góp các đều kinh nghiệm trong sự tranh đấu và lãnh đạo tranh đấu của các đảng viên và các đảng bộ ở Đông Dương và những sự kinh nghiệm tranh đấu của các đảng anh em trong toàn thế giới để làm cho đảng chúng ta mau phát triển. Tạp chí “Cộng sản” là cái chỗ chung cho các đảng viên thảo luận hết thảy mọi vấn đề quan trọng cho phong trào cách mạng Đông Dương và toàn thế giới. Tạp chí “Cộng sản” cũng là chỗ đăng các bài nghiên cứu về tình hình chánh trị kinh tế trong xứ và trong toàn thế giới để góp tài liệu cho đảng dự định kế hoạch tranh đấu. Sau lại tạp chí “Cộng sản” cũng là cái chỗ chung cho các đảng viên tự chỉ trích những đều sai lầm, khuyết điểm trong công tác hằng ngày của đảng, phát biểu ra những ý kiến mới mẻ để cùng nhau theo con đường chánh trị đúng” (trang 2,3).
Đối tượng chính hướng đến của Tạp chí được khẳng định “cốt để riêng cho đảng viên chớ không phải là một cái cơ quan tuyên truyền trong quần chúng”. Tạp chí kêu gọi mọi đảng viên đều phải hăng hái góp công, góp sức tham gia vào công tác của Tạp chí, bằng cách phát biểu ý kiến, góp ý kinh nghiệm, thảo luận các vấn đề quan trọng, tự chỉ trích, bởi “mỗi đảng viên không gắng sức gánh vác một phần thì nhiệm vụ ấy tạp chí “Cộng sản” không thể làm trọn được” (trang 4).
3.2. Nội dung và thông điệp chủ đạo của số đầu tiên
Ngoài “Lời nói đầu”, Tạp chí Cộng sản số 1 có 5 bài viết, gồm: “Vấn đề tổ chức công hội” (trang 5-15), “Án nghị quyết của đại hội Quốc Tế Công Hội Đỏ lần thứ năm về nhiệm vụ Công hội vận động ở Đông Dương” (trích ở án nghị quyết nhiệm vụ công hội đỏ ở các thuộc địa và bán thuộc địa) (trang 15-20), “Lời bàn về tổ chức” (trang 21-36), “Cần phải mở rộng việc tự chỉ trích trong đảng” (trang 36-41) và “Cuộc thế giới kinh tế khủng hoảng” (trang 41-50).
Bài “Vấn đề tổ chức công hội” xoay quanh chủ đề công hội ở Đông Dương. Trước hết, bài viết chỉ ra vai trò của công hội trong đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa: “Công hội là cái đoàn thể tranh đấu của toàn thể giai cấp vô sản trong cuộc tranh đấu chống lại bọn tư bổn để binh vực quyền lợi hằng ngày cho vô sản giai cấp để đánh đổ cái chế độ tư bổn và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Không lấy cái lực lượng tổ chức ấy mà chống lại với giai cấp tư bổn thì bọn thợ thuyền không thể binh vực quyền lợi hằng ngày của mình được. Tranh đấu được hay thua, cách mạng thắng lợi hay bại phần nhiều đều do ở sức công hội mạnh hay yếu” (trang 5). Từ việc trích dẫn các chủ trương của Quốc tế Cộng sản về nhiệm vụ cách mạng, trong đó nhấn mạnh đến “việc dự bị và lãnh đạo các cuộc bãi công, việc tổ chức đội tự vệ, việc khoách trương và kiên cố các công hội cách mạng, việc tổ chức đoàn thể phụ thuộc, việc tổ chức các bạn thanh niên và phụ nữ, việc tổ chức các thợ thất nghiệp, việc tổ chức công hội của công nhân nông nghiệp v...v...” (trang 6,7), bài viết đã chỉ ra “những xu hướng sai lầm, những cách hành động nhỏ hẹp làm ngăn cản sự phát triển của công hội” cần phải phê phán, loại bỏ. Đó là “xu hướng kinh tế”, tức là cho rằng công hội chỉ có mục đích “tranh đấu với bọn chủ nhà máy để binh vực quyền lợi kinh tế cho thợ thuyền mà thôi”. Xu hướng này được cho là nguy hiểm vì “nó muốn thủ tiêu cái tánh chất và cái mục đích giai cấp cách mạng của phong trào vô sản đi và làm cho phong trào ấy hóa ra cải lương” (trang 7). Bài báo lập luận rằng, vì giới tư bản không chỉ duy trì việc bóc lột thợ thuyền và quần chúng trong các cơ sở kinh tế mà còn tìm cách củng cố chế độ với bộ máy cai trị phức tạp để bóc lột trên các phương diện chính trị, xã hội, nên đấu tranh của giai cấp vô sản không chỉ là chống lại tư bản ở lĩnh vực kinh tế mà còn phải trên các lĩnh vực khác. Do vậy, xu hướng kinh tế chính là làm cho phong trào của công nhân mang tính chất cải lương, chỉ giới hạn trong những yêu cầu nhỏ hẹp mà không thoát ra khỏi chế độ tư bản.
Xu hướng sai lầm nữa là xu hướng coi đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị là hai thể thức khác nhau mà không thấy được đấu tranh kinh tế cũng là đấu tranh chính trị và ngược lại. Theo bài viết, “thợ thuyền không thể bỏ quyền lợi và mục đích của mình mà vâng lời của mấy vị hoạt động, khoanh tay lại mà ca tụng cái chánh trị áp bức của bọn tư bổn. Bởi vậy thợ thuyền phải tranh đấu thêm hăng, chống chính quyền tư bổn, chống khủng bố, đòi quyền tự do... cứ thế mà tranh đấu rộng ra mãi cho đến khi đánh đổ được chánh quyền của giai cấp thống trị. Vì lẽ ấy nên không tranh đấu chánh trị thì không thể tranh đấu kinh tế được”, “Chỉ có lúc đã lấy được chánh quyền rồi thợ thuyền mới có thể sửa đổi sự sanh hoạt của mình được hoàn hảo” (trang 10,11).
Một sai lầm khác cũng được chỉ ra ở đây là xu hướng “công hội biệt phái”, xa lìa dân chúng, tức tư tưởng cho rằng công hội chỉ là “cái đoàn thể cho những thợ thuyền hăng hái và giác ngộ hơn hết trong đám công nhân” (trang 11), “chỉ bo bo tổ chức trong vòng rất nhỏ hẹp, kiếm cho được những người có đủ mọi điều kiện như đảng viên cộng sản” (trang 13). Nguyên nhân của sự nhận thức thiếu sót này là do không hiểu đúng địa vị của công hội trong đấu tranh giai cấp. Bài báo lập luận: lật đổ chế độ tư bản phong kiến là nhiệm vụ cao nhất của cách mạng và phải dựa trên sức mạnh của anh em thợ thuyền. Do vậy, công hội phải là “tổ chức có thể bao khoát hết thảy thợ thuyền trong sản nghiệp, hết thảy vô sản giai cấp” (trang 13).
Vì thế, nhiệm vụ của của công tác Đảng là phải đẩy lùi các xu hướng trên bởi “Công hội có phát triển mau và rộng thì vô sản giai cấp mới có thể lãnh đạo cho dân cầy và hết thẩy quần chúng lao khổ tranh đấu để cướp chính quyền về công nông” (trang 14).
Bài “Án nghị quyết của đại hội Quốc Tế Công Hội Đỏ lần thứ năm về nhiệm vụ Công hội vận động ở Đông Dương” là phần trích dịch Nghị quyết về nhiệm vụ công hội đỏ ở các thuộc địa và bán thuộc địa. Phần trích gồm hai nội dung chính. Thứ nhất là phân tích tình hình của cách mạng Đông Dương trong đó nhấn mạnh sự phát triển nhanh chóng của phong trào công nhân, phong trào nông dân cũng như mối liên hệ giữa hai phong trào này. Thứ hai là chỉ ra 12 nhiệm vụ cần kíp của công hội để thúc đẩy sự phát triển của cách mạng ở Đông Dương, đó là: tổ chức các lực lượng; quy tụ đông đảo quần chúng tham gia công hội dưới các hình thức; đưa quần chúng vào các hình thức đấu tranh phù hợp, có tổ chức; công hội gắn kết với các tổ chức quần chúng khác; chú trọng công hội nông nghiệp; lập Tổng Công hội của Đông Dương; xây dựng mối liên hệ giữa Tổng Công hội ở Đông Dương và thế giới; lập công hội nông nghiệp ở nông thôn và đồn điền; nâng cao trình độ quần chúng; lập tổ chức, vận động những người thất nghiệp; xây dựng công hội tại Ai Lao, Cao Miên; vận động thanh niên, phụ nữ tham gia công hội.
“Lời bàn về tổ chức” là bài viết thứ ba. Trong phần mở đầu, bài viết khẳng định trách nhiệm của đảng viên là tham gia vào công tác tổ chức Đảng (Đảng Cộng sản) và các đoàn thể xung quanh Đảng (Phản đế, Công hội, Nông hội, Cứu tế). Tuy nhiên, phần nhiều đảng viên lại chưa hiểu rõ hoặc chưa đúng về vấn đề tổ chức: “Tiếng là đã đứng ra tổ chức cái đoàn thể này, cái hội nọ nhưng hiểu cái lối của mình vẫn là lờ mờ và sai lầm nữa... Có người thấy vậy thì hoặc không tìm được nguyên nhân hoặc là cho rằng quần chúng không giác ngộ gì, không liệu tìm đường tổ chức mà tới nhưng mình tưởng như vậy là lầm, không phải quần chúng tự nhiên tìm mình mà tới, nhưng mình phải đi tới tìm lấy quần chúng, mở đường tổ chức cho họ” (trang 22). Nguyên nhân công tác tổ chức chưa đạt kết quả được chỉ ra là do “không nhận rõ tánh chất, nhiệm vụ của những cái tổ chức và không nhận rõ những cái tổ chức đó khác nhau chỗ nào mà quan hệ với nhau làm sao” (trang 21,22). Trên cơ sở tóm lược nhiệm vụ và tính chất cơ bản của mỗi tổ chức, bài viết chỉ ra những biểu hiện phổ biến của sự nhận thức chưa đúng. Trước hết là việc lấy trình độ cách mạng triệt để hay không làm căn cứ để phân chia các tổ chức cách mạng. Tiếp đó là việc sắp xếp các tổ chức theo thứ tự, phân hạng cao thấp. Lối quan niệm rằng “một người đã tổ chức trong một cái tổ chức rồi thì không thể gì vô 1 cái tổ chức khác nữa, tức là đã ở lớp trên rồi thì không ở lớp dưới mà ở lớp dưới đã lên lớp trên thì là ra khỏi lớp dưới” (trang 28) cũng là biểu hiện của việc hiểu không đúng.
Từ đấy, bài viết đưa ra những luận giải chính đáng về tổ chức. Theo đó, mỗi tổ chức đều có ý nghĩa cách mạng riêng nên sự khác nhau giữa các tổ chức chính là ở “địa vị, nhiệm vụ, tánh chất mỗi cái trong toàn cuộc cách mạng vận động, không thể nói cái nào hơn cái nào, cái nào hạng nhứt, cái nào hạng nhì vì cái nào cũng có cái ích, cái giá trị của nó, cái nào có trường hoạt động của nó, cái này giúp cái kia, cái kia giúp cái nọ” (trang 30). Trong mối quan hệ giữa Đảng và các tổ chức xung quanh, Đảng Cộng sản được ví như trục xe đối với bánh xe, đóng vai trò trung tâm. Đảng cũng khác các hội, đóng vai trò “bộ tham mưu đối với toàn thể đội quân”, vì vậy phạm vi tổ chức của Đảng “không thể rộng hơn các hội, các hội phải có tánh chất quần chúng nghĩa là rộng hơn Đảng” (trang 28,29).
Bài viết cho rằng hệ quả từ việc xác định không đúng bản chất của từng tổ chức là “sinh ra cái tâm lý trên dưới vinh nhục trong lớp chiến sĩ cách mạng và rất hại cho công cuộc cách mạng” (trang 28), không thấy được sự liên kết giữa các tổ chức, bởi chủ trương chung của Đảng là: “Hết thảy những cái tổ chức phải hoạt động theo về một đường mà thôi, bởi vì mấy cái tổ chức đó đều phải châm về đường mục đích là lợi ích công cuộc vô sản giai cấp tổ chức ra phản đế đồng minh là cũng làm ích cho công cuộc v.s.g.c, làm cho vô sản giai cấp cầm quyền lãnh đạo cho hết thẩy mọi người cùng muốn đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, để làm cho vô sản giai cấp đạt được mục đích cuối cùng của mình” (trang 31).
Từ đó, bài viết kết luận: nhiệm vụ của công tác tổ chức hiện nay là cần phải “tổ chức ra đảng, ra Thanh niên Cộng sản đoàn, tổ chức ra thật nhiều hội quần chúng công nhân như công hội, hợp tác xã, cứu tế, tự vệ, thể dục tức là hết sức mở rộng lực lượng tổ chức vô sản giai cấp ra để kéo cho được đại đa số trong giai cấp mình” (trang 33). Với những nội dung như vậy, trách nhiệm của mỗi đảng viên là “xem xét lại công việc của mình đã qua mà mau mau sửa đổi lại, có như vậy thì Đảng mới mong có phát triển một cách đúng con đường bôn-sơ-vích được” (trang 36).
“Cần phải mở rộng việc tự chỉ trích trong đảng” là bài viết được ký tên “Cộng sản”. Bài viết nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc tự chỉ trích bởi đó là con đường để “làm trọn được nhiệm vụ to tát trong lúc bấy giờ nghĩa là làm trọn cái nhiệm vụ thu phục quảng đại quần chúng” (trang 37). Từ việc chỉ ra những quan niệm sai lầm về vấn đề tự chỉ trích như cho rằng tự chỉ trích là “làm cho rung động tới các cơ quan chỉ đạo”, rằng “đảng mình mới sinh trưởng nên chưa mở rộng sự tự chỉ trích vì nó làm cho quần chúng không hiểu mà phân vân” (trang 37), bài viết cho thấy chính nhờ tự chỉ trích, đảng cộng sản các nước Nga, Đức, Hoa Kỳ đã nhanh chóng trưởng thành, nâng cao sức mạnh, mở rộng lực lượng. Thực hiện tự chỉ trích cũng chính là thực hiện nghị quyết của Hội nghị thường vụ thứ 10 của Quốc tế Cộng sản nhưng tự chỉ trích phải tiến hành một cách khôn khéo theo cách bônsơvích, tức là “lấy quyền lợi của giai cấp vô sản làm cao trọng hơn hết”, để cho đảng kiên cố và bền vững, “đem những điều sai lầm về chính trị để sửa đổi lại cho công việc được hoàn toàn mỹ mãn hơn”.
Bài viết cũng đưa ra bốn nguyên tắc của tự chỉ trích. Đó là: chỉ trích những điều thiếu sót, sai lầm như ban trung ương của đảng phải bầy ra tự chỉ trích, phải phát triển sự tự chỉ trích ra và phải lãnh đạo việc thực hiện những điều đã chỉ trích; các cấp đều có trách nhiệm về những điều còn hạn chế, khiếm khuyết; tự nguyện sửa chữa sai lầm (trang 39,40). Cuối cùng, bài viết nhấn mạnh lại vai trò của tự chỉ trích với sự phát triển của Đảng: “Đảng của chúng ta là đảng của vô sản giai cấp cách mạng cho nên chúng ta không sợ mà không nói những sự sai lầm của chúng ta” (trang 40); “tự chỉ trích thiệt bôn-sơ-vích thì mới giúp đảng hóa nên bôn-sơ-vích được” (trang 41), “chỉ có chỉ trích 1 cách thiệt bôn-sơ-vích thì mới giáo dục và huấn luyện giai cấp vô sản và quần chúng lao động được”. Trong công tác tự chỉ trích, Tạp chí Cộng sản cũng sẽ góp sức với tư cách là cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản thông qua việc tập hợp và đăng tải các bài học tự chỉ trích của các đảng viên. Do vậy “các đồng chí phải đặc biệt chú ý về vấn đề ấy và viết vào Tạp chí Cộng sản” (trang 41).
Ngoài 5 bài viết trên, Tạp chí còn trích dịch một số lời bàn của V.I.Lênin (được phiên âm là Lê Ninh). Phần mở đầu bài “Cần phải mở rộng việc tự chỉ trích trong đảng” ghi: “Nhận lỗi của mình, tìm nguyên nhân điều lầm lỗi ấy xét tình thế đã ra lỗi ấy, châm chỉ kiếm cách để sửa lỗi ấy là cái chứng cớ rằng: đó là đảng đúng đắn, đó là làm tròn phận sự, đó là giáo dục và huấn luyện cho giai cấp và quần chúng” (trang 36). Phần kết của Tạp chí trình bày những quan điểm của V.I.Lênin về hai giai đoạn cách mạng (tư sản dân quyền và vô sản XHCN) và liên minh giai cấp trong từng giai đoạn: “Trong cuộc cách mạng tư sản những người bôn-sơ-vích giãy bầy sức mạnh giai cấp tương đương như vậy: vô sản giai cấp kéo cả dân cầy, làm cho bọn tư bổn cấp tiến đứng trung lập mà đánh đổ hết quân chủ, phong kiến và địa chủ. Cái tánh chất tư sản của cuộc cách mạng bộc bạch ra chánh là ở trong cuộc liên minh của vô sản giai cấp với tất cả nông dân bởi vì nông dân, nói gồm tất cả một lượt đều là những bọn sanh sản nhỏ làm việc cho thị trường. Sau lại những người bôn-sơ-vích lại nói thêm rằng: vô sản giai cấp thâu phục hết thẩy giai cấp bán vô sản (hết thẩy những người lao động và bị bóc lột) làm cho trung nông đứng trung lập mà đánh đổ giai cấp tư sản đó, cuộc cách mạng xã hội và những điều phân biệt với cuộc cách mạng tư sản dân quyền là thế” (trang 50,51).
4. Kết luận
Là ấn phẩm nối tiếp của Tạp chí Đỏ, Tạp chí Cộng sản ngay từ khi ra đời đã thực hiện sứ mệnh của một cơ quan lý luận đại diện cho Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1999, T.3, tr.300). Nội dung các bài viết trong số 1 bám sát thực tiễn công tác Đảng và phong trào cách mạng giai đoạn đó, một mặt nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn chống lại các khuynh hướng, nhận thức chưa chuẩn trong đảng viên, mặt khác để giáo dục, tuyên truyền các nội dung cụ thể, cấp thiết về công tác Đảng như công hội, tự phê bình, tổ chức các đoàn thể... Cùng với các cơ quan ngôn luận khác của Đảng và các tổ chức trực thuộc, Tạp chí Cộng sản đã có những đóng góp vào sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Tạp chí đã nhanh chóng được nhân bản với số lượng lớn và phân phối đi các nơi, làm định hướng cho công tác phát triển Đảng và phong trào cách mạng. Tuy nhiên, tháng 4-1931, cơ quan Trung ương Đảng và các Xứ ủy lần lượt bị tan vỡ; hàng ngàn đảng viên, quần chúng cách mạng bị bắt giữ và kết án. Cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của Tạp chí bị xóa sổ. Tạp chí Cộng sản buộc phải đình bản khi mới chỉ xuất bản được số 1. Đến năm 1934, việc xuất bản tạp chí lý luận của Đảng mới được khôi phục với sự ra đời của Tạp chí Bônsơvíc.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2002). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 2. Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1999). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 3. Nxb. Chính trị quốc gia
Đỗ Quang Hưng (Chủ biên). (2001). Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguyễn Thị Thúy Hằng. (6-11-2015). “Báo chí cách mạng Việt Nam trước năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. https://www.tapchicongsan.org.vn/truyen-thong-hien-tai/-/2018/36020/bao-chi-cach-mang-viet-nam-truoc-nam-1945-duoi-su-lanh-dao-cua-dang-cong-san-viet-nam.aspx?utm_source=chatgpt.com.