Ngày 25-9-2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh long trọng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương; lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể trong bối cảnh mới”. Hội thảo diễn ra trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị thực hiện cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã, không tổ chức cấp huyện) từ ngày 1-7-2025 theo Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025, Kết luận số 127-KL/TW ngày 28-2-2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đến nay, cả nước có 34 tỉnh/thành phố (gồm 28 tỉnh, 9 thành phố1) và 3.321 đơn vị cấp xã, phường, đặc khu.
Dự và chủ trì Hội thảo có đồng chí: PGS, TS Lê Hải Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Đồng chí Văn Thị Bạch Tuyết, Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh; PGS, TS Hoàng Anh, Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tham dự Hội thảo có đại diện Thường trực một số Tỉnh/Thành ủy; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo các Tỉnh/Thành ủy; các nhà khoa học đến từ Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng; Vụ Quản lý khoa học; các Học viện Chính trị khu vực II, III, IV thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đại diện lãnh đạo và cán bộ Phòng Lý luận Chính trị, Lịch sử Đảng; đại diện lãnh đạo một số xã, phường, đặc khu tiêu biểu; Tạp chí Lý luận Chính trị; Tạp chí Lịch sử Đảng và một số cơ quan báo chí.
Phát biểu chào mừng Hội thảo, đồng chí Văn Thị Bạch Tuyết, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng giữ vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào sự nghiệp đổi mới. Hiện nay, việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu, tên gọi tổ chức các cấp, bộ, ban, ngành trong cả nước. Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề mới cần thống nhất trong nhận thức và quan điểm chỉ đạo đối với công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Trong đó, việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, đoàn thể các cấp giai đoạn trước hợp nhất; đổi mới phương pháp tiếp cận, bố trí nguồn lực; xây dựng bộ tài liệu sau hợp nhất; cũng như sưu tầm, bảo quản tư liệu trong bối cảnh mới là những nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết.
Đồng chí Văn Thị Bạch Tuyết, Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu chào mừng
Trình bày Báo cáo Đề dẫn tại Hội thảo, PGS, TS Lê Hải Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khái quát bối cảnh đặc biệt của công tác lịch sử Đảng giai đoạn hiện nay và nhấn mạnh, việc sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền và giáo dục lịch sử Đảng. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để nhìn lại phương pháp, cách thức tổ chức và hiệu quả của công tác lịch sử Đảng trong điều kiện mới. Điều quan trọng là, phải thống nhất nhận thức: địa giới có thể thay đổi, tổ chức có thể thay đổi, nhưng lịch sử không đứt đoạn. Những giá trị lịch sử và truyền thống được hình thành qua các thời kỳ lịch sử cần được nhận diện, bảo tồn và kế thừa; đồng thời, những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra cũng cần được nghiên cứu, lý giải một cách khoa học.
PGS, TS Lê Hải Bình, Ủy viên Trung ương Đảng,
Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu đề dẫn Hội thảo
Với 47 báo cáo tham luận, trong đó có 6 báo cáo tham luận trực tiếp và 4 ý kiến trao đổi thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu đã đi sâu phân tích nhiều nội dung về nhận thức và cách làm, kinh nghiệm tổ chức nghiên cứu, biên soạn công trình lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể, đồng thời nhận diện rõ hơn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn và tháo gỡ trong thực tiễn. Các ý kiến đã tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, gắn lý luận với thực tiễn, giữa yêu cầu khoa học của công tác lịch sử Đảng với những vấn đề cụ thể đang đặt ra tại các địa phương, cơ quan, đơn vị sau sắp xếp đơn vị. Đặc biệt, các ý kiến đã tập trung làm rõ những vấn đề mới về nhận thức, đối tượng, phạm vi, tư liệu, phương pháp nghiên cứu; cách thức tổ chức lực lượng nghiên cứu, biên soạn các công trình lịch sử trong điều kiện mới.
1. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận đối với công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương; lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể trong bối cảnh mới trong bối cảnh mới
Tại bài viết gửi đến Hội thảo, PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Công tác lịch sử Đảng tuyệt đối không phải là thao tác kỹ thuật ghi chép sự kiện thuần túy mà là một bộ phận cấu thành hữu cơ, then chốt của công tác tư tưởng - lý luận, có tính chiến đấu cao theo tinh thần Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18-1-2018 của Ban Bí thư. Khi một đơn vị hành chính dừng hoạt động dưới tên gọi cũ, cuốn Lịch sử Đảng bộ chính là “chứng minh thư nhân dân bền vững nhất”. Lịch sử Đảng đóng vai quan trọng, là“chất keo gắn kết” thắt chặt khối đại đoàn kết nội bộ, triệt tiêu tư tưởng cục bộ; là “bảo tàng tri thức” cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp cấp ủy khóa mới hoạch định chiến lược phát triển địa phương; và là “nguồn dữ liệu sơ cấp” phục vụ công cuộc quản trị số.
Báo cáo tham luận của Thường trực Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Tỉnh ủy Hưng Yên và Thành ủy Hải Phòng tại Kỷ yếu Hội thảo phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa địa giới hành chính (mang tính thời điểm, giới hạn quyền quản lý nhà nước) và không gian lịch sử (mang tính liên tục, lâu dài, tích hợp của cộng đồng cư dân, phong trào đấu tranh và sự lãnh đạo của tổ chức đảng). Đơn vị hành chính mới hình thành không đồng nghĩa với một vùng đất mới sinh ra từ số không. Do đó, các đại biểu khẳng định, cần ngăn ngừa hai khuynh hướng sai lầm: Đó là sai lầm ở Khuynh hướng cộng gộp cơ học: Cắt dán, ghép nối giản đơn các cuốn lịch sử cũ của các đơn vị tiền thân lại với nhau thành một cuốn sách dày cộm, thiếu trục phân tích xuyên suốt, gây trùng lặp bối cảnh chung, thiếu sự tương tác, bổ trợ giữa các địa bàn và Khuynh hướng “xóa trắng” lịch sử: Lấy mốc thời gian thành lập đơn vị hành chính mới hoặc thời điểm sáp nhập làm điểm xuất phát điểm tuyệt đối, hoặc lấy tổ chức mới gán ngược làm chủ thể cho các phong trào cách mạng trước đây khi tổ chức đó chưa hề ra đời; hay lấy tên gọi của một địa phương làm dòng chính mà làm mờ nhạt, giản lược truyền thống vẻ vang của các địa bàn còn lại.
Vấn đề xác định các mốc kỷ niệm truyền thống và ngày thành lập của đảng bộ sau sáp nhập nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học và các địa phương.
Làm rõ mối quan hệ giữa lịch sử hành chính và lịch sử Đảng bộ, PGS, TS Nguyễn Văn Nhật (Viện Sử học) đã tái hiện tiến trình biến chuyển địa giới hành chính Việt Nam từ thời phong kiến qua cuộc cải cách của vua Minh Mạng (1831–1832), thời kỳ Pháp thuộc, qua các giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước đến dấu mốc sắp xếp 34 tỉnh, thành phố năm 2025. Từ đó, tác giả đưa ra các tiêu chí xác định ngày thành lập và ngày truyền thống.
Về nội dung này, tại báo cáo tham luận trong Kỷ yếu Hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà (Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản) nhấn mạnh, đối với công tác lịch sử Đảng, căn cứ quan trọng vẫn là tư liệu lịch sử, hồ sơ tổ chức Đảng, các quyết định thành lập, tài liệu của Trung ương và địa phương, kết quả nghiên cứu khoa học và thẩm định của cơ quan chuyên môn. Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, việc hợp nhất, chia tách, điều chỉnh địa giới không phải vấn đề mới. Vấn đề đặt ra hiện nay không đơn giản là “chọn một ngày” để làm ngày thành lập hay ngày truyền thống. Quan trọng hơn là phải xác định đúng chủ thể lịch sử, phân biệt đúng bản chất của các loại mốc thời gian và làm rõ mối quan hệ giữa tổ chức mới với lịch sử của các tổ chức tiền thân. Đây cũng là cơ sở để biên soạn lịch sử Đảng bộ sau sắp xếp theo hướng kế thừa, liên tục, khách quan và khoa học.? Tác giả đưa ra ý kiến: có thể phân biệt ít nhất ba trường hợp: Một là, một tổ chức Đảng tiếp tục tồn tại nhưng địa giới hoạt động được mở rộng hoặc thu hẹp. Trong trường hợp này, thay đổi không gian hoạt động không đồng nghĩa với việc tổ chức đó được thành lập lại. Hai là, một tổ chức Đảng mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất nhiều tổ chức Đảng tiền thân. Khi đó, cần xác định thời điểm tổ chức mới ra đời, đồng thời làm rõ lịch sử của các tổ chức tiền thân trước thời điểm hợp nhất. Ba là, một tổ chức được tái lập sau một thời gian nằm trong một tổ chức lớn hơn. Khi đó, “tái lập” không đồng nghĩa với việc lịch sử của đa phương chỉ bắt đầu từ thời điểm tái lập. Phân biệt như vậy giúp tránh một cách hiểu đơn giản rằng, cứ có một đơn vị hành chính mới thì phải có một lịch sử mới bắt đầu từ ngày đơn vị đó được thành lập.
Bàn về trường hợp cụ thể của Thành phố Hồ Chí Minh sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Quyết định số 321-QĐ/TW ngày 18-6-2025 của Bộ Chính trị, PGS, TS Hà Minh Hồng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) khẳng định: Dù Đảng bộ thành phố mới chỉ hơn 1 năm tuổi (tính đến tháng 9-2026), song Đảng bộ đã có bề dày gần 100 năm kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng. Tác giả phân tích: Ngày thành lập Đảng bộ sau hợp nhất (1-7-2025) là mốc hội tụ hành chính - pháp lý do Bộ Chính trị quyết định, mở ra nhiệm kỳ Đại hội I (2025-2030). Trong khi đó, ngày truyền thống gắn liền với sự ra đời của các chi bộ cộng sản đầu tiên (như An Nam Cộng sản Đảng tại Phong cảnh khách lầu tháng 11-1929 ở Sài Gòn; Chi bộ Đề-pô xe lửa Dĩ An tháng 1-1930 ở Bình Dương; Chi bộ Phước Hải tháng 2-1934 ở Bà Rịa - Vũng Tàu) là cội nguồn tạo nên chiều sâu bản sắc. Hai yếu tố này không loại trừ hay mâu thuẫn nhau mà bổ sung, kế thừa hữu cơ, tạo thành sức mạnh cộng hưởng mới.
Để giải quyết bài toán về tính liên tục của lịch sử Đảng bộ địa phương sau sáp nhập, TS Trần Thị Mỹ Hường (Trưởng Ban Lịch sử Đảng địa phương, Viện Lịch sử Đảng) đã đề xuất khung phương pháp luận phân kỳ lịch sử theo hai mặt đồng thời: Mặt tổ chức - chính trị: Đóng vai trò là trục xuyên suốt của công trình, dựa trên các bước chuyển lớn của phong trào cách mạng và hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng (vận động thành lập Đảng, đấu tranh giành chính quyền 1930-1945, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, thời kỳ xây dựng CNXH và Đổi mới). Mặt không gian - hành chính: Là căn cứ xác định bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn (tổ chức đảng mang tên gì, địa bàn hoạt động ra sao, trực thuộc cấp nào, địa giới thay đổi thế nào tác động đến sự lãnh đạo). Đồng chí cũng gợi ý kết cấu 3 phần tiêu chuẩn cho công trình lịch sử đảng bộ sau sáp nhập: (1) Lịch sử các đảng bộ tiền thân trước sáp nhập; (2) Quá trình sắp xếp, hợp nhất tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính năm 2025; (3) Lịch sử đảng bộ mới từ sau hợp nhất lãnh đạo phát triển địa phương.
2. Thực tiễn công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể tại các địa phương và đơn vị sau sắp xếp
Tại Hội thảo, tham luận trực tiếp của đại diện các tỉnh, thành ủy: Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Cà Mau, An Giang, Cao Bằng, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam; các ý kiến trao đổi thảo luận và báo cáo tại Kỷ yếu Hội thảo đã phản ánh sinh động, toàn diện bức tranh triển khai công tác lịch sử Đảng tại cơ sở, chỉ rõ những kết quả đột phá cùng các vướng mắc xuất phát từ đặc thù từng vùng miền. Thực tiễn từ các địa phương cho thấy, nơi nào cấp ủy nắm vững chủ trương và chủ động đón đầu quá trình sắp xếp bộ máy thì nơi đó công tác lịch sử Đảng không bị gián đoạn, bảo toàn được tối đa tư liệu và thành quả nghiên cứu.
Thành phố Hồ Chí Minh: Thường trực Thành ủy đã chủ động ban hành các văn bản định hướng công tác nghiên cứu giai đoạn 2026-2030. Thành phố đã hoàn thành và xuất bản nhiều công trình đồ sộ như: Bộ sách Lịch sử Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (6 tập), Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1975–2015 (4 tập), Củ Chi - Đất thép Thành đồng (3 tập), cùng các ấn phẩm tri ân lãnh đạo tiền bối như đồng chí Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng, Mai Chí Thọ.... Đồng thời, Thành phố đang lãnh đạo triển khai đồng loạt 3 công trình cấp thành phố, 32 công trình cấp huyện (trước khi giải thể) và 168 công trình cấp xã, phấn đấu hoàn thành trước ngày 30-11-2029 hướng tới chào mừng Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1930-2030).
Đồng chí Trần Văn Khuyên, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tham luận
Thành phố Bắc Ninh: Thực hiện việc hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Bắc Ninh mới (với 99 xã, phường; giảm 214 đơn vị cấp xã cũ; nay là thành phố Bắc Ninh). Tỉnh ủy Bắc Ninh đã kịp thời ban hành Kế hoạch số 25-KH/TU, Công văn số 1555-CV/TU và Hướng dẫn số 42-HD/BTGDVTU để định hướng toàn diện. Nhờ đó, công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2025–2030, biên soạn các công trình "Bác Hồ với Bắc Ninh - Bắc Ninh với Bác Hồ", "Bắc Ninh 100 năm có Đảng" và việc sưu tầm, thiết lập hồ sơ xác định ngày thành lập Đảng bộ thành phố được quan tâm thực hiện.
Tỉnh Cà Mau xác định, sau hợp nhất, mỗi cấp ủy mới tiếp nhận một địa bàn mới, đồng thời tiếp nhận hệ thống truyền thống, sự kiện, nhân vật, địa danh và bài học kinh nghiệm được hình thành qua nhiều thế hệ. Nếu thiếu nhận thức đầy đủ và cách tiếp cận thống nhất, lịch sử của các địa phương trước hợp nhất có thể bị nhìn nhận rời rạc, thiếu tính kế thừa hoặc chưa được phát huy tương xứng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và củng cố sự đồng thuận trên địa bàn mới. Cụ thể hóa Hướng dẫn số 977-HD/HVCTQG, ngày 13-7-2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau đã ban hành Kế hoạch số 131-KH/TU, ngày 4-8-2026 về triển khai công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương; lịch sử đảng bộ, lịch sử truyền thống các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp tổ chức, đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần tiếp tục nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin, lòng tự hào dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tỉnh An Giang: Tính đến ngày 1-7-2025, phần lớn các sở, ban, ngành của tỉnh đã hoàn thành biên soạn lịch sử truyền thống của cơ quan, đơn vị; 100% các huyện, thị, thành ủy đã hoàn thành việc xuất bản lịch sử Đảng bộ giai đoạn 1930-1975. Hầu hết các xã, phường, thị trấn trước sáp nhập đã xuất bản lịch sử Đảng bộ giai đoạn 1930-1975; nhiều địa phương đã tái bản, bổ sung và có thêm các công trình, kỷ yếu, lịch sử truyền thống. Tuy nhiên, khối lượng công việc sắp tới còn rất lớn, cần thống nhất mốc thời gian, xử lý sự khác biệt và kế thừa tư liệu giữa các đơn vị trước và sau hợp nhất. Khó khăn nổi bật nhất hiện nay không phải thiếu kinh phí, mà là thiếu căn cứ thống nhất để xác định mức chi cho công tác lịch sử Đảng.
Tỉnh Cao Bằng xác định, việc xây dựng một quy trình thẩm định khoa học, chặt chẽ và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thẩm định lịch sử đảng bộ địa phương là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần đảm bảo tính Đảng, tính khoa học và tính chân thực của các công trình lịch sử. Để bảo đảm tính Đảng, tính khoa học và tính giáo dục sâu sắc cho từng ấn phẩm lịch sử trước khi cấp phép xuất bản, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, chuẩn hóa và vận hành nghiêm túc quy trình thẩm định 5 bước chặt chẽ, phù hợp với đặc thù của tỉnh, cụ thể: Bước 1: Tự kiểm tra, nghiệm thu cơ sở tại cấp xã; Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ và tổ chức Hội đồng Thẩm định cấp tỉnh; Bước 3: Thẩm định độc lập; Bước 4: Tổ chức phiên họp Hội đồng Thẩm định; Bước 5: Chỉnh sửa, kiểm tra lại và ban hành văn bản kết luận thẩm định.
Tỉnh Nghệ An: Điểm nổi bật của Ban Tuyên giáo và Dân vận (nay là Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy) là đã chỉ đạo quyết liệt 100% đơn vị cấp huyện tổ chức sưu tầm, hoàn thiện và bổ sung lịch sử Đảng bộ viết đến mốc ngày 1-7-2025 ngay trước khi cấp huyện kết thúc hoạt động, tránh để lại khoảng trống sử liệu không thể bù đắp. Cùng với đó, Nghệ An thực hiện Đề án số 28-ĐA/TU, bước đầu số hóa thành công 32.372 trang tài liệu lịch sử Đảng có giá trị.
Tỉnh Quảng Trị: Tỉnh ủy (sau hợp nhất Quảng Bình và Quảng Trị cũ) kiên quyết giữ vững phương châm: "Sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh địa giới hành chính nhưng quyết không để đứt gãy mạch nguồn lịch sử truyền thống". Trước mốc 1-7-2025, 100% cấp huyện (18/18 đơn vị) và trên 90% cấp xã tại cả hai địa phương cũ đã xuất bản công trình lịch sử.
Tỉnh Lạng Sơn: Đã đạt thành tựu 100% cấp huyện (11/11 đơn vị) và 189/194 xã, phường xuất bản lịch sử Đảng bộ. Tỉnh ủy đã ban hành các Công văn số 2282-CV/TU và số 249-CV/TU chỉ đạo chuyển việc bàn giao tư liệu lịch sử thành một nội dung bắt buộc trong thủ tục giải thể, bàn giao tổ chức, không xem đó là khâu hành chính đơn thuần; đồng thời số hóa đưa 65 ấn phẩm lịch sử Đảng lên Trang thông tin điện tử.
Thành phố Huế: Hoàn thành 100% công trình lịch sử cấp thành phố, cấp huyện và 97% cấp xã (xuất bản 84 công trình trong giai đoạn 2020–2025); xây dựng Đề án chỉnh lý tài liệu lưu trữ vĩnh viễn cấp xã vào Lưu trữ Lịch sử thành phố giai đoạn 2026–2035.
Thành phố Hải Phòng: (Sau hợp nhất thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương) đã gắn kết chặt chẽ công tác lịch sử Đảng với nhiệm vụ chính trị - tư tưởng thông qua Kết luận số 293-KL/TU ngày 15/6/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy; vận hành Kho dữ liệu điện tử lịch sử Đảng bộ thành phố và định hướng nghiên cứu lịch sử trong mối quan hệ hữu cơ: đô thị - nông thôn - công nghiệp - cảng biển - hải đảo.
Bên cạnh kết quả đạt được, các báo cáo tham luận từ đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy/Thành ủy: An Giang, Hải Phòng, Quảng Trị, Gia Lai, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Nghệ An, đều thẳng thắn nêu một số lực cản, bất cập nảy sinh, như:
Đứt gãy và phân tán tư liệu: Khi giải thể cấp huyện, sắp xếp trụ sở cấp xã, tư liệu bị phân tán ở nhiều kho lưu trữ khác nhau; hồ sơ lưu trữ cấp xã cũ có nguy cơ bị thất lạc, ẩm mốc, hư hỏng trong quá trình di chuyển.
Thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn: Mô hình chính quyền hai cấp khiến bộ phận Tuyên giáo cấp huyện giải thể. Ở cấp xã mới, khối lượng công việc hành chính - chuyên môn tăng vọt, ban xây dựng Đảng cấp xã chỉ có 1-2 cán bộ phụ trách tuyên giáo kiêm nhiệm, phần lớn không được đào tạo chuyên ngành sử học hay lịch sử Đảng, thiếu kiến thức về phê phán sử liệu học và kỹ năng khai thác tư liệu lưu trữ.
Nguy cơ ghép nối cơ học và tư tưởng cục bộ: Xuất hiện tâm lý lúng túng giữa việc "viết mới hoàn toàn" hay "cộng gộp hai cuốn sách cũ làm một". Nhiều nơi nảy sinh mâu thuẫn về tâm lý cục bộ địa phương trong việc lựa chọn tên gọi, ngày truyền thống, mốc lịch sử tiêu biểu, phân bổ dung lượng trang viết và thứ bậc các nhân vật lãnh đạo qua các thời kỳ.
Vướng mắc về cơ chế tài chính: Ngoài thù lao biên soạn, việc khảo sát, phỏng vấn nhân chứng sống, sưu tầm tài liệu lưu trữ ở Trung ương, tổ chức hội thảo khoa học và thẩm định đa tầng đòi hỏi nguồn lực kinh phí lớn, song hiện nay cơ chế định mức chi ngân sách cho công tác lịch sử Đảng cấp xã sau sáp nhập chưa được điều chỉnh tương xứng với quy mô địa bàn mới.
Hạn chế trong công tác tuyên truyền, phát huy giá trị: Sách xuất bản ra phần lớn mới chỉ lưu hành nội bộ hoặc “nằm yên trên giá sách”, chưa chuyển hóa mạnh mẽ thành các sản phẩm truyền thông số đa phương tiện để giáo dục thế hệ trẻ và phục vụ đắc lực cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
3. Hệ thống giải pháp trong tổ chức thực hiện
Từ thực tiễn thảo luận dân chủ, khoa học, Hội thảo thống các nhóm giải pháp nhằm làm tốt công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng trong giai đoạn mới:
1. Nâng cao nhận thức chính trị và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của cấp ủy. Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng phải được xác định là nhiệm vụ chính trị - tư tưởng cốt lõi, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, không phải là phong trào xuất bản sự vụ hay hoạt động thuần túy học thuật. Cấp ủy các cấp (nhất là cấp xã, phường, đặc khu mới vận hành) phải trực tiếp chỉ đạo, đưa nhiệm vụ này vào nghị quyết công tác hàng năm, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, tránh tình trạng "khoán trắng" cho các đơn vị biên soạn bên ngoài.
2. Thống nhất nguyên tắc phương pháp luận: Kế thừa liên tục, không cộng gộp cơ học. Xác lập phương châm mang tính nguyên tắc: “Địa giới hành chính có thể chia tách, sáp nhập, bộ máy có thể tinh giản, nhưng dòng chảy lịch sử cách mạng trên địa bàn không bao giờ đứt đoạn”. Khi biên soạn lịch sử Đảng bộ đơn vị hành chính mới, phải tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể: Ở thời kỳ nào thì phản ánh đúng tên gọi, địa giới, chủ thể và cơ cấu tổ chức ở thời kỳ đó; tuyệt đối không dùng địa giới hay tổ chức hiện tại để áp đặt lên quá khứ. Các tổ chức tiền thân phải được đối xử bình đẳng, khoa học, đánh giá đúng cống hiến lịch sử. Kế thừa phải chọn lọc, tìm ra mạch phát triển biện chứng, chỉ rõ quá trình giao thoa, tương trợ và hội tụ truyền thống văn hóa - cách mạng giữa các vùng đất để củng cố khối đại đoàn kết nội bộ. Triển khai song hành hai nhiệm vụ: Khẩn trương hoàn thiện, khép lại các công trình lịch sử của các đảng bộ tiền thân đến mốc 30-6-2025; đồng thời thiết lập ngay chế độ ghi chép biên niên sự kiện lịch sử của đảng bộ mới kể từ ngày 1-7-2025.
3. Quản trị tư liệu khoa học: Đặt bảo toàn lên trước, kết hợp số hóa, coi công tác tư liệu là điều kiện tiên quyết bảo đảm tính chân thực của công trình lịch sử đảng bộ, lịch sử truyền thống. Kiểm kê và thiết lập “Hồ sơ lịch sử; Quan tâm tư liệu nhân chứng; Số hóa có kiểm chứng.
4. Kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ và xây dựng cơ chế tài chính
Xây dựng mạng lưới chuyên gia: Trong điều kiện cán bộ cơ sở kiêm nhiệm, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Trường Chính trị) phải giữ vai trò nhạc trưởng hướng dẫn phương pháp, hỗ trợ thẩm định. Cấp xã bố trí đầu mối phụ trách rõ ràng và huy động mạng lưới cộng tác viên rộng rãi: cán bộ lão thành, cựu giáo viên lịch sử, cán bộ hưu trí am hiểu truyền thống quê hương. Đồng thời, quan tâm phát huy vai trò của các trường đại học, đội ngũ nghiên cứu khoa học chuyên ngành lịch sử, lịch sử Đảng ở các trường đại học.
Tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố cần thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ "cầm tay chỉ việc", bồi dưỡng kỹ năng sưu tầm, thẩm định tư liệu, kỹ thuật biên soạn biên niên sự kiện cho cán bộ cơ sở.
Tháo gỡ về việc thiếu định mức kinh phí: Đề xuất Trung ương sớm ban hành khung cơ chế tài chính và định mức chi cho công tác nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, hội thảo, biên tập, thẩm định, xuất bản, số hóa và tuyên truyền lịch sử Đảng; đồng thời cho phép địa phương cụ thể hóa trong khung chung, bảo đảm thống nhất, linh hoạt, khả thi và phù hợp điều kiện thực tế.
5. Đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, giáo dục, phát huy giá trị công trình. Đổi mới căn bản tư duy: Xuất bản cuốn sách không phải là điểm kết thúc của quy trình nghiên cứu, mà là điểm khởi đầu cho hành trình lan tỏa giá trị lịch sử vào đời sống xã hội. Đưa nội dung lịch sử Đảng bộ địa phương vào chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị, tích hợp giảng dạy hiệu quả trong hệ thống trường phổ thông. Chuyển thể nội dung các công trình lịch sử thành hệ sinh thái truyền thông số đa phương tiện: podcast lịch sử, phim tư liệu ngắn, bản đồ số di tích cách mạng, mã QR tại các địa chỉ đỏ nhằm tiếp cận trực quan, hấp dẫn thế hệ trẻ. Khai thác nguồn sử liệu chân thực, khách quan và các luận cứ lịch sử vững chắc từ các công trình Đảng bộ địa phương là vũ khí sắc bén đấu tranh phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch mưu toan "xét lại", xuyên tạc lịch sử Đảng và dân tộc trên không gian mạng.
Sau một thời gian làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương; lịch sử truyền thống ban, ngành, đoàn thể trong bối cảnh mới” đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Ban Tổ chức đã nhận được 47 báo cáo tham luận, trong đó có 6 tham luận trực tiếp và 4 ý kiến của các đại biểu tại phiên trao đổi - thảo luận. Nhiều tham luận sâu sắc cùng các ý kiến phát biểu tâm huyết, thẳng thắn, phản ánh sinh động thực tiễn công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng từ Trung ương đến các địa phương, đơn vị. Đồng chí Lê Hải Bình thay mặt Đoàn Chủ trì tổng kết Hội thảo và nhấn mạnh ba nội dung cốt lõi:
Thứ nhất: Thống nhất cao về nhận thức chính trị, phương pháp luận khoa học và quyết tâm hành động thực tiễn
Hội thảo đã đạt được sự đồng thuận sâu sắc với nhận định: Lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử truyền thống các ban, ngành, đoàn thể không chỉ là sự ghi chép các sự kiện đã qua, mà chính là nền tảng tư tưởng, cội nguồn sức mạnh chính trị trong giai đoạn hiện nay. Kiến tạo sự đồng thuận trong không gian phát triển mới: Trước yêu cầu sắp xếp các đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy, công tác lịch sử Đảng phải đi trước một bước nhằm bồi đắp nhận thức chung, khơi dậy niềm tự hào và tình cảm gắn bó của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với vùng đất mới, địa giới hành chính mới; từ đó tạo sự đoàn kết, thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Xây dựng "pháo đài" bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Chúng ta khẳng định rằng, cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch sẽ không thể thực sự sắc bén và hiệu quả nếu thiếu đi một nền tảng cứ liệu lịch sử vững chắc, chân thực và thuyết phục. Lan tỏa tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề: Qua các ý kiến chia sẻ, chúng ta cảm nhận sâu sắc ngọn lửa nhiệt huyết cùng những trăn trở của đội ngũ những người làm công tác lịch sử Đảng tại cơ sở. Dù đối diện với nhiều khó khăn đặc thù, tất cả đều chung một khát vọng: làm sao để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này ngày một bài bản, chất lượng và hiệu quả hơn.
Thứ hai: Nhận diện thẳng thắn và tập trung tháo gỡ 3 thách thức lớn nổi lên từ thực tiễn
Để công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đáp ứng tốt yêu cầu trong bối cảnh mới, trong thời gian tơi, cần chủ động giải quyết 3 điểm nghẽn trọng tâm: Về phương thức tổ chức thực hiện: Mặc dù hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đã có, song thực tiễn đòi hỏi phải sớm xây dựng bộ cẩm nang quy trình chi tiết, cụ thể hóa các tiêu chuẩn khoa học để các cấp ủy, tổ chức đảng dễ nắm bắt, dễ triển khai đồng bộ và chuẩn mực ngay từ cơ sở. Về nhân lực và cơ chế phối hợp: Cần tiếp tục củng cố chủ thể tổ chức, kiện toàn đội ngũ và phân định rõ trách nhiệm trong từng khâu nghiên cứu, biên soạn, thẩm định; bố trí cán bộ phụ trách chuyên trách/bán chuyên trách và duy trì các đầu mối phối hợp chặt chẽ. Đặc biệt, công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ mới phải được đẩy mạnh toàn diện, nhất là kỹ năng tiếp cận nguồn sử liệu, phương pháp thẩm định khoa học và năng lực ứng dụng công nghệ số, xuất bản số vào công tác nghiên cứu lịch sử Đảng. Về cơ chế tài chính và nguồn lực bảo đảm: Ghi nhận những khó khăn về kinh phí được nhiều đại biểu nêu ra, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh sẽ tổng hợp, chủ động phối hợp và kiến nghị với Văn phòng Trung ương Đảng cùng các cơ quan chức năng để rà soát, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, khả thi, tạo hành lang thuận lợi cho công tác này phát huy hiệu quả lâu dài.
Thứ ba: Nắm bắt các cơ hội mới để khơi dậy niềm tự hào và thắt chặt mối quan hệ Trung ương - địa phương
Bối cảnh mới đặt ra thách thức nhưng đồng thời mở ra những thời cơ mang tính đột phá: Khơi dậy niềm tự hào chung trong diện mạo mới: Đây là thời cơ quý báu để làm sâu sắc hơn truyền thống cách mạng vẻ vang của từng vùng đất, từng cơ quan, đơn vị. Sau quá trình sáp nhập và triển khai thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, những thế hệ cán bộ mới, các cấp ủy và tổ chức chính quyền mới sẽ cùng chia sẻ một niềm tự hào chung, kế thừa và viết tiếp những trang sử hào hùng của quê hương, đất nước. Thiết lập cơ chế phối hợp hai chiều chặt chẽ, thực chất: Mối quan hệ giữa cơ quan nghiên cứu Trung ương và các địa phương đang ngày càng gắn kết hơn bao giờ hết. Cơ chế phối hợp hai chiều cần tiếp tục được vận hành nhịp nhàng: Trung ương hướng dẫn, định hướng khoa học kịp thời; địa phương chủ động phản ánh, cung cấp thực tiễn và những vấn đề mới nảy sinh, để cùng nhau hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao phó.
Cuộc cải cách tinh gọn bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bước ngoặt lịch sử mở rộng không gian phát triển của đất nước. Thực hiện trọn vẹn, trách nhiệm và khoa học công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ trong bối cảnh mới chính là thể hiện bản lĩnh chính trị kiên định, lòng tri ân sâu sắc đối với các thế hệ tiền bối và trách nhiệm cao nhất đối với tương lai dân tộc, thiết thực hướng tới kỷ niệm 100 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030).
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

1. 9 thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Đồng Nai, Quảng Ninh, Bắc Ninh.