Quang cảnh Hội thảo
Thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học năm 2026, nhân dịp kỷ niệm 51 năm chiến thắng 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Viện Lịch sử Đảng tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Đảng lãnh đạo thực hiện hòa hợp dân tộc từ ngày thống nhất đất nước (1975-2025) - một số kết quả và những gợi mở”.
Hội thảo do PGS, TS Trần Trọng Thơ và TS Lương Viết Sang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng chủ trì. Tham dự hội thảo có hơn 30 cán bộ, giảng viên của Viện Lịch sử Đảng cùng đại diện lãnh đạo Vụ Quản lý khoa học, Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Ban tổ chức hội thảo đã nhận được 30 bài viết của cácnhà khoa học. Nội dung của các bài viết, các tham luận và những ý kiến phát biểu tại hội thảo đã làm rõ nhiều vấn đề xung quanh nội dung hòa hợp, hòa giải dân tộc từ ngày thống nhất đất nước đến nay.
Thứ nhất, bối cảnh lịch sử hơn 50 năm qua đặt ra yêu cầu thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc
Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc đã được Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chủ trương và thực hiện, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Tuy nhiên kể từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, vấn đề hòa hợp dân tộc ngày càng trở nên cấp bách, nhằm hàn gắn những rạn nứt sâu sắc trong lòng dân tộc, xóa bỏ hận thù, chia rẽ, xây dựng sự đồng thuận xã hội giữa các bộ phận khác nhau trong cộng đồng dân tộc, đặc biệt là giữa những lực lượng từng ở hai phía đối lập trong cuộc chiến tranh. Nhiệm vụ hòa hợp, hòa giải dân tộc trở thành một yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài, được Đảng và Nhà nước ta đặt ra và từng bước có những chủ trương và chính sách nhằm giải quyết nhiệm vụ đó.
Thứ hai, hội thảo làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về hòa hợp, hòa giải dân tộc
Trong những năm 1975-1986, chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc đã được đặt ra, tuy nhiên trong bối cảnh đất nước phải giải quyết những hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh, đồng thời phải đối mặt với những cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, cùng với việc kinh tế - xã hội dần đi vào khủng hoảng đã khiến cho vấn đề hòa hợp dân tộc chưa được thực sự chú ý.
Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng của vấn đề này và đã từng bước ban hành các nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện vấn đề này.
Năm 1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08 - NQ/TW “về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là văn kiện đầu tiên xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, chủ trương này chưa phổ biến rộng rãi đến kiều bào và cán bộ làm công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.
Tiếp đó, năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 khóa IX ban hành 3 nghị quyết nền tảng về vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc: “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; “về công tác dân tộc”; “về công tác tôn giáo”. Các văn kiện này đã mở ra bước đột phá trong công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc, xóa bỏ những định kiến trước đây, tạo điều kiện đoàn kết toàn dân tộc.
Năm 2004, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36- NQ/TW “về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây là văn kiện đóng cột mốc công khai lần đầu tiên về chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc đối với toàn bộ kiều bào, xác định rõ xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng đến tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên, đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết đã thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận công tác kiều bào, giúp hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài xóa bỏ mặc cảm, hướng về quê hương.
Năm 2016, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định lại chủ trương nhất quán lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia dân tộc, đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung, để tập hợp đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước.
Tóm lại, chủ trương chính sách về hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước là xóa bỏ thành kiến, không phân biệt đối xử vì quá khứ, tập trung đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, chính kiến, ở trong nước hay ở nước ngoài, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó tạo mọi điều kiện thuận lợi để người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài xây dựng khối đoàn kết cộng đồng vừa hòa nhập vào xã hội nước sở tại, vừa liên hệ mật thiết gắn bó với quê hương, góp phần ngày càng nhiều vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, hội thảo làm rõ những thành tựu và hạn chế trong thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc
Trong hơn 50 năm qua, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về hòa hợp, hòa giải dân tộc đã mang lại những kết quả tích cực. Đã thực hiện hòa hợp giữa người ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, hàng triệu đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài đã trở về thăm quê hương, nhiều người đã ở lại đóng góp công sức cho sự phát triển đất nước, nhiều người đã xin lại quốc tịch Việt Nam, để gắn bó hơn với quê hương, nhiều người chống cộng cực đoan trước kia cũng đã thấy được chủ chương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, thay đổi lập trường, quay trở về quê hương, có tác động lớn đến tư tưởng, tình cảm của người Việt Nam ở nước ngoài. Đã hòa hợp giữa các tầng lớp các nhóm người dân trong nước, xóa bỏ sự phân biệt đối xử theo thành phần giai cấp, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, toàn thể người dân Việt Nam được tham gia công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu người dân trước đây sống dưới chế độ cũ ở miền Nam đã vứt bỏ tâm lý mặc cảm, tự ti, chung tay xây dựng cuộc sống mới của nước Việt Nam thống nhất. Hòa hợp dân tộc cũng đã giúp Việt Nam xây dựng hình ảnh một nước dân chủ, bao dung gắn kết với cộng đồng quốc tế, trên cơ sở đó để Việt Nam có thể thu hút được nhiều nguồn lực như vốn, công nghệ từ nước ngoài, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế Việt Nam.
Hội thảo cũng đã làm rõ những hạn chế trong việc thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc trong hơn 50 năm qua, đó là Đảng và Nhà nước chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc sau chiến tranh, do đó chậm có những chủ trương, chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc sau khi đất nước thống nhất; phải đến năm 1993 mới bắt đầu đặt ra vấn đề hòa hợp, hòa giải với người Việt Nam ở nước ngoài. Từ năm 2004, mặc dù đã có Nghị quyết số 36-NQ/TW “về người Việt Nam ở nước ngoài”, nhưng việc thực hiện chưa đạt được kết quả như mong muốn. Trong tổ chức thực hiện, một số cấp ủy Đảng và chính quyền còn có những biện pháp chưa phù hợp, vô tình tạo ra rào cản cho tiến trình hòa hợp dân tộc.
Thứ tư, hội thảo đã làm rõ một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc trong hơn 50 năm qua từ đó gợi mở một số vấn đề xung quanh nội dung này
Đó là việc phải lấy chủ quyền, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước làm nền tảng cho việc đề ra chủ trương, chính sách về hòa hợp dân tộc; phải kiên trì hướng đến mục tiêu chung của dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh và giàu mạnh; tôn trọng sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, xây dựng tinh thần bao dung trong một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, có nền văn hóa phong phú, đặc biệt đã trải qua chiến tranh lâu dài với những chế độ chính trị khác nhau; hòa hợp dân tộc phải gắn kết với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, lấy đó là mục tiêu để thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc. Cuối cùng, cần phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của dân tộc trong lịch sử coi đây là nguồn động lực quan trọng của dân tộc Việt Nam, hướng đến xây dựng một xã hội phát triển giàu mạnh, văn minh.
Một số bài viết đề cập đến tình hình và chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc trong những năm tới. Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc đang tiếp tục đặt ra những yêu cầu cấp bách. Đó là việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và của toàn dân về vấn đề hòa hợp dân tộc, từ đó thực hiện đúng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hòa hợp dân tộc, kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch, kích động quá khứ, hằn thù dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trên không gian mạng và trong thực tiễn, thực hiện nhất quán quan điểm đại đoàn kết dân tộc, nhấn mạnh quan điểm người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, hướng tới thực hiện những mục tiêu trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
BÌNH NGUYỄN