25/09/2023 - 09:16 PM - 1.777 lượt xem

Ngày 18-9-2023, Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện tiền tuyến miền Nam”.
Chủ trì Hội thảo có các đồng chí: PGS, TS Trần Trọng Thơ, Phó Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng; TS Lương Viết Sang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng. Tham dự hội thảo gồm toàn thể nhà khoa học là các giảng viên, nghiên cứu viên, biên tập viên, chuyên viên của Viện Lịch sử Đảng.
Hội thảo tập trung thảo luận các vấn đề sau: Bối cảnh lịch sử của đất nước nói chung và miền Bắc nói riêng trong giai đoạn 1954-1975; Quan điểm, chủ trương của Đảng; chính sách của Nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp; Vai trò và đóng góp của hợp tác xã nông nghiệp đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975); Vai trò và đóng góp của hợp tác xã nông nghiệp đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam (1954-1975); Giá trị lý luận và thực tiễn của mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong giai đoạn 1954-1975 đối với việc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ đổi mới.
Các tham luận đi sâu phân tích về quá trỉnh hình thành hợp tác xã: Sau khi Việt Nam giành được độc lập (1945), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát triển hợp tác xã. Ngày 11-4-1946, Người viết thư kêu gọi điền chủ nông gia Việt Nam tham gia hợp tác xã nông nghiệp, trong thư nêu rõ: Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã.
Sau khi Hiệp định Gieneve được ký kết, miền Bắc được giải phóng, chuyển sang thực hiện chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, HNTƯ 14 (11-1958) khóa II đề ra chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp nhằm cải biến quan hệ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn từ quan hệ sản xuất cá thể, phân tán lên quan hệ sản xuất tập thể. Tiếp đó, HNTƯ 16 mở rộng (1959) khóa II nhấn mạnh: Hợp tác hóa nông nghiệp là cái khâu chính trong toàn bộ sợi dây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta. Trong diễn văn khai mạc HNTƯ 16, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Miền Bắc nước ta hiện đang tiến lên chủ nghĩa xã hội… Vì vậy, chúng ta phải hợp tác hóa nông nghiệp làm cho nông nghiệp phát triển, làm cho công nghiệp và nông nghiệp tiến đều, thì mới cải thiện tốt đời sống nhân dân, đồng thời đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm nền tảng vững mạnh cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Về kết quả thực hiện chủ trương của Đảng về hợp tác hóa nông nghiệp, các tham luận tập trung làm rõ: từ cuối năm 1958, nông thôn miền Bắc đã có sự chuyển biến quan trọng. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, đông đảo nông dân hăng hái đi vào con đường đổi công hợp tác. Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trở thành phong trào quần chúng rộng rãi. Tính đến tháng 4-1959, miền Bắc có 246.965 tổ đổi công và trên 7.000 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, với 119 hợp tác xã bậc cao. Đến hết năm 1960, miền Bắc phát triển lên 41.000 hợp tác xã, với 84,8% số hộ nông dân gia nhập hợp tác xã.
Trong giai đoạn tiếp theo, từ năm 1961 đến năm 1975, hợp tác hóa nông nghiệp tiếp tục được củng cố và hoàn thiện trên phạm vi toàn miền Bắc. Nhiều địa phương đã xây dựng hợp tác xã bậc cao. Năm 1973, toàn miền Bắc có 18.311 hợp tác xã; năm 1975 là 17.000 hợp tác xã. Đồng bằng Bắc Bộ 98,2% tổng số hộ là hộ xã viên, trong đó 99,7% tổng số hộ xã viên thuộc các hợp tác xã bậc cao; vùng trung du là 98,1% và 100%; khu IV cũ là 98,4% và 97,5%; Miền núi là 81,2% và 86,8%. Có thể thấy, gần như tuyệt đại đa số hộ xã viên đều tham gia trong các hợp tác xã nông nghiệp bậc cao.
Về giá trị lý luận và thực tiễn, các tham luận tập trung làm rõ sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và những kinh nghiệm xây dựng hợp tác xã ở Liên Xô, Trung Quốc vào thực tiễn Việt Nam. Hợp tác xã được xây dựng ở miền Bắc trong giai đoạn từ sau năm 1954 đến năm 1975 có ý nghĩa, vai trò to lớn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đồng thời chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các hợp tác xã đã thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa qua quá trình hợp tác sản xuất và phân phối sản phẩm trong bối cảnh đất nước có chiến tranh; cho phép Nhà nước có khả năng huy động nguồn lực cao nhất cho các hoạt động xây dựng, bảo vệ ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam.
Về mô hình hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, môt số tham luận tại Hội thảo đã phân tích so sánh mô hình hợp tác xã nông nghiệp qua các thời kỳ lịch sử, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của các mô hình hợp tác xã; những vấn đề đặt ra đối với mô hình hợp tác xã hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu.
Kết luận Hội thảo, PGS, TS Trần Trọng thơ cho rằng: Trong quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975, tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng có vai trò tích cực trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội góp phần quan trọng vào việc đảm bảo nhu cầu dân sinh và chi viện cho chiến trường, phục vụ chiến đấu trong những năm tháng gay go, ác liệt. Đây là những cơ sở quan trọng làm tăng thêm sức mạnh cho nhân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu, chi viện cho chiến trường miền Nam. Những ý kiến tại Hội thảo là những gợi mở để tiếp tục nghiên cứu làm rõ, góp phần vào việc phát triển kinh tế tập thể hiện nay.