Tóm tắt: Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã thấm nhuần tư tưởng vĩ đại của cha ông, gìn giữ non sông, bảo vệ chủ quyền, xây đắp nền văn hiến. Sau nhiều năm tháng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều phong trào đấu tranh, tiếp nhận nhiều luồng tư tưởng tiến bộ của nhân dân thế giới. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Người đã đề cập những chân lý phổ biến của cách mạng thế giới, từ đó khẳng định quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

Từ khóa: Tuyên ngôn Độc lập; 2-9-1945; quyền tự nhiên của con người; quyền độc lập, tự do; dân tộc

Căn phòng tầng 2, nhà 48 phố Hàng Ngang, nơi Bác Hồ viết bản Tuyên ngôn Độc lập

1. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai đoạn văn bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789. Trở về những trang sử thời lập quốc ở Mỹ và thời cách mạng tư sản ở Pháp vào thế kỷ XVIII, chúng ta thử đi tìm cội nguồn của những ý tưởng mang tính nguyên lý vĩnh cửu đó.
Thực ra, từ khi xã hội có giai cấp, có bóc lột và bị bóc lột, có áp bức và bị áp bức thì những ý tưởng về quyền tự do và bình đẳng đã nảy nở từ hình thức sơ khai cho tới các trào lưu lý thuyết. Đấu tranh cho tự do của con người, cho công bằng trong xã hội là mục tiêu của biết bao cuộc khởi nghĩa, là lý tưởng của biết bao thế hệ từ thời cổ đại cho đến ngày nay.
Châu Âu thế kỷ XVII - XVIII ngột ngạt vì chế độ cai trị độc đoán của các triều đại phong kiến ở Anh, ở Pháp cùng nhiều nước khác. Chính trên mảnh đất đầy mâu thuẫn nhưng giàu văn hóa này đã sản sinh các nhà lý thuyết vĩ đại có thể kể đến John Locke ở Anh, các nhà triết học Khai sáng ở Pháp như Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Diderot,... Họ thuộc các giai tầng khác nhau, mang theo nhiều quan điểm khác nhau nhưng gặp nhau ở chỗ cùng chống lại nền quân chủ chuyên chế phong kiến, cùng hướng tới quyền tự nhiên của con người với một chính quyền nhân bản và dân chủ.
Nhà triết học Anh John Locke đã nêu lên học thuyết về quyền lực nhà nước và pháp luật, phát triển tư tưởng về sự chuyển biến từ trạng thái quyền tự nhiên sang quyền công dân và những hình thức quản lý nhà nước. Trong tác phẩm Luận thuyết thứ hai về cai trị, ông cho rằng, trong “trạng thái tự nhiên”, con người có các quyền tự do, bình đẳng và tư hữu. Các quyền này bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người, bởi vậy, không ai có thể làm thay đổi được. Mục đích của nhà nước là bảo vệ tự do và sở hữu do lao động đem lại. Để đảm bảo những quyền tự nhiên ấy, ông đưa ra lý thuyết về sự phân chia quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên minh, trong đó quyền lập pháp là cao nhất và thuộc về nghị viện. Tán thành chế độ quân chủ lập hiến, ông cho rằng, nhà vua nắm quyền hành pháp phải thi hành theo pháp luật và không có một đặc quyền nào. Đi ngược lại nguyên tắc đó, nhà vua có thể bị lật đổ, quyền lực bị tước bỏ, nhân dân có quyền thiết lập một chính phủ khác, thậm chí cầm vũ khí chiến đấu. Học thuyết của J.Locke về “Quyền tự nhiên không thể bị tước bỏ của con người” có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội thời bấy giờ.
Có thể nói, trong các nhà Khai sáng ở Pháp, Montesquieu là người chịu ảnh hưởng khá sâu đậm quan điểm của J.Locke. Trong tác phẩm Tinh thần luật pháp, ông lên án mạnh mẽ chế độ chuyên chế nhưng cũng chỉ dừng lại ở chủ trương thiết lập chế độ lập hiến. Đóng góp lớn lao của ông là gắn kết tư tưởng tự do chính trị với tự do công dân. Để bảo đảm quyền tự do công dân, cần có sự phân chia quyền lực một cách minh bạch giữa quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Những quyền này hạn chế lẫn nhau, cân bằng nhau và nằm trong tay các cơ quan khác nhau. Ông kêu gọi thành lập các tổ chức đại diện nhân dân để hạn chế quyền lực của nhà cầm quyền, bảo vệ tư tưởng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do đấu tranh chống chuyên quyền,... Học thuyết Montesquieu sau này được phản ánh khá đậm nét trong Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền năm 1789 mà ở đó nổi lên ba tiêu chí lớn của cách mạng Pháp là Tự do - Bình đẳng - Bác ái.
Đi xa hơn nữa trong học thuyết về thể chế chính trị, Jean-Jacques Rousseau cho rằng, nguyên tắc cơ bản của chế độ chính trị phải là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong tác phẩm Khế ước xã hội, ông bàn đến trạng thái tự nhiên của con người là tự do và bình đẳng, khi mà xã hội chưa có bất công. Nguồn gốc sản sinh ra bất công chính là do sự bất bình đẳng trong chế độ sở hữu, có những người sở hữu quá lớn, nắm lấy quyền lực để đè nén, bóc lột những người sở hữu nhỏ. Sự bất công về sở hữu sẽ dẫn đến bất công về quyền lực nhà nước, làm cho bất công kinh tế tăng lên thành bất công chính trị. Ông nêu lên “con người sinh ra tự do, song khắp nơi họ đều bị xiềng xích”. Cho nên, chủ quyền phải thuộc về nhân dân, con người phải có quyền tự do công dân và quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Từ đó, mọi người được hưởng quyền bình đẳng do hiệu lực của pháp luật và khế ước. Xã hội lý tưởng phải thiết lập chế độ cộng hòa, do nhân dân làm chủ, trong đó mọi người đều có quyền sở hữu một tài sản nhỏ, nghĩa là có quyền tư hữu hạn chế. Học thuyết Rousseau được thấm nhuần trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền cùng Hiến pháp năm 1793 và ít nhiều được thử nghiệm trong thời kỳ cầm quyền của những người thuộc phái Jacobins ở Pháp (tháng 6-1793 đến tháng 7-1794).
Ở châu Mỹ, dưới thời thuộc địa của Anh, các trào lưu tư tưởng dân chủ tự do từ châu Âu như những luồng gió mới làm dấy lên nhiều làn sóng đấu tranh kế tiếp nhau. Những khuynh hướng tư tưởng dân chủ châu Âu được các nhà tư tưởng cấp tiến Bắc Mỹ đón nhận và đưa vào cuộc sống. Patrick Henry, người chiến sĩ lỗi lạc của nền dân chủ bang Virginia, trong bài diễn văn chống Đạo luật thuế Tem2 đã đưa ra lời thách thức: “Hãy cho tôi tự do, hoặc là tôi sẽ chết”3. Từ đó, khẩu hiệu “Tự do hay là chết” đầy tính đấu tranh đã kích động lòng người trong cuộc chiến tranh giành độc lập, tự do, vang mãi đến ngày nay.
Samuel Adams xuất phát từ quyền tự nhiên của con người là tự do và bình đẳng đã cho rằng, nhân dân có quyền nổi dậy chống bạo chúa, chính quyền do nhân dân thiết lập, vì lợi ích của nhân dân nên phải đặt dưới sự kiểm tra của nhân dân. Chính bản Tuyên ngôn các quyền do bang Virginia khởi xướng đã chứa đựng nhiều ý tưởng cơ bản của ông mà sau này được đưa vào Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.
Tháng 1-1776, nhà dân chủ cách mạng Thomas Paine công bố chuyên luận Lương tri, gây ảnh hưởng lớn đối với phong trào đấu tranh hồi đó. Ông kêu gọi nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, tách các thuộc địa Bắc Mỹ khỏi quyền lực của Vương quốc Anh theo nguyên tắc về quyền tự nhiên.
Thomas Jefferson đã tiếp nhận và phát triển những quan điểm trên, ông trở thành tác giả chính của bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Trong phần mở đầu, Tuyên ngôn “khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”4. Để bảo đảm những quyền lợi đó, chính phủ do nhân dân lập ra có quyền lực chính đáng với sự nhất trí của nhân dân. Nếu vi phạm những mục tiêu này thì “nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới” sao cho an ninh và hạnh phúc của họ được bảo đảm và có hiệu quả tốt nhất.
Rõ ràng là các nhà soạn thảo Tuyên ngôn đã thể hiện quan điểm của các nhà tư tưởng tiền bối, khẳng định các quyền tự nhiên của con người và quyền bảo vệ những quyền tự nhiên ấy. Vận dụng vào hoàn cảnh thuộc địa, Tuyên ngôn dành nhiều dòng tố cáo chính sách cai trị của nhà vua Anh - thực chất là chế độ thực dân Anh trong việc bóp nghẹt các quyền tự do, dân chủ ở Bắc Mỹ, thi hành nhiều loại thuế khắc nghiệt đối với hàng hóa, ban hành nhiều đạo luật rất tàn bạo và cuối cùng là điều động quân đội sang đàn áp phong trào nhân dân thuộc địa.
Từ những lý lẽ trên, bản Tuyên ngôn đã “trịnh trọng và công khai tuyên bố rằng các thuộc địa liên minh với nhau này đã và có quyền phải là quốc gia tự do và độc lập”. Với tư cách quốc gia tự do và độc lập, họ xóa bỏ mối quan hệ phụ thuộc vào Vương quốc Anh, có quyền ký kết liên minh, tuyên chiến hoặc đình chiến và nguyện “hiến dâng tính mệnh, tài sản và danh dự thiêng liêng của mình để bảo đảm cho bản Tuyên ngôn này”.
 
2. Trong những năm 1910, có một thanh niên Việt Nam yêu nước đã đặt chân đến các châu lục trên thế giới, dừng lại ở nhiều nước Âu - Mỹ. Chính trong những năm tháng tìm đường cứu nước ấy, Nguyễn Ái Quốc đã đọc được các văn kiện chính trị quan trọng: Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp. Tư tưởng về quyền bình đẳng và tự do trong các văn kiện lịch sử đó đã gợi mở cho Nguyễn Ái Quốc suy nghĩ về con đường cách mạng của dân tộc mình. Bởi thế, ngay trong tài liệu huấn luyện đầu tiên cho thế hệ thanh niên cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra lịch sử cuộc cách mạng ở Mỹ, ở Pháp nhưng rồi dừng lại ở cách mạng Nga để từ đó tìm ra Đường Kách mệnh của Việt Nam. Luồng tư tưởng về các quyền tự nhiên - tài sản trí tuệ và khát vọng chung của loài người - vẫn khắc sâu trong khối óc và trái tim của con người hết lòng vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào.
Trong không khí sục sôi cách mạng cuối tháng 8-1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Hồ Chí Minh đã viết Tuyên ngôn Độc lập. Người đã trích gần như trọn vẹn hai câu trong Tuyên ngôn của Mỹ và của Pháp. Ta hãy nghe lời kể lại của A.Patti, sỹ quan Mỹ, khi được nghe dịch bản thảo Tuyên ngôn trong buổi gặp Người: “Tôi chặn người phiên dịch lại và kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn của ông không? Tôi không hiểu sao điều đó lại đập mạnh vào tôi, tuy vậy tôi cứ hỏi. Ông Hồ ngồi dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và như đang suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi tôi một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Tôi cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên, - tôi trả lời. - Tại sao lại không?”5. Có thể thấy, các văn kiện trên đã gây ấn tượng sâu sắc chừng nào đối với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và đó là căn nguyên mà Người mở đầu bản tuyên ngôn của mình bằng những lời bất hủ của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp.
Nhưng ngay sau câu trích các bản tuyên ngôn trên, Người đã viết: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”6.
Nếu so sánh với đoạn văn được trích dẫn từ Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ thì có thể nhận thấy một cụm từ khác nhau: “Tất cả mọi người...” được thay bằng “Tất cả các dân tộc...” và “dân tộc nào cũng có quyền...”. Ở đây bao hàm hai ý: một là, câu sau không hề phủ nhận câu trước mà từ câu trước có thể suy rộng ra thành câu sau; hai là, từ quyền của tất cả mọi người, quyền của từng cá thể được nhìn nhận ở mức độ cao hơn và khái quát hơn, đó là quyền của tất cả các dân tộc trên thế giới.
Rõ ràng, nhận thức của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của các dân tộc được đúc kết từ tấm lòng thiết tha với vận mệnh dân tộc Việt Nam đã từng rên xiết dưới ách thực dân, và từ sự thể nghiệm qua cuộc hành trình thế giới trước tình cảnh nhiều dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh vẫn đang bị nô dịch. Trong mỗi dân tộc có nhiều cá nhân song quyền của mỗi cá nhân lại không bao hàm đầy đủ quyền của dân tộc. Cho nên, sự “suy rộng ra...” của Người thật là chí lý, mở rộng khái niệm và nâng cao tầm nhìn về quyền tự nhiên cùng đối tượng được hưởng quyền tự nhiên ấy. Do vậy, câu viết súc tích trên nói lên khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và cũng là tiếng nói chung của các dân tộc trên thế giới.
Giá trị nhân văn, ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh giải phóng được bao hàm trong lời tuyên bố đó. Học giả Nhật Bản Shingo Shibata nhận xét: “Đặc điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ông đã thừa hưởng tư tưởng về quyền con người và mở rộng quyền đó vào quyền các dân tộc. Sự đóng góp nổi bật của Hồ Chí Minh là trên thực tế, ông đã phát triển quyền con người vào quyền các dân tộc. Từ đó dẫn đến tất cả các dân tộc đều được hưởng quyền quyết định vận mệnh của chính mình, như vậy thì tất cả các dân tộc đều có thể và thực hiện việc tự cai quản nền độc lập của mình”7.
Sau khi tố cáo chế độ cai trị tàn bạo của thực dân Pháp, phát xít Nhật và nền quân chủ phong kiến; công bố việc giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”8.
Thế là chỉ trong một đoạn văn ngắn, đã ba lần Hồ Chí Minh nhắc đến “tự do và độc lập” với ba ý nghĩa nối tiếp nhau: Dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, đã trở thành một quốc gia tự do và độc lập, quyết hy sinh để bảo vệ quyền tự do và độc lập. Tuyên bố đanh thép đó đã được minh chứng trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam với Lời kêu gọi kháng chiến chống thực dân Pháp “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”9, và lời hiệu triệu toàn dân kháng chiến chống đế quốc Mỹ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”10.
Lời tuyên thệ “quyết giữ vững tự do và độc lập” đến chân lý ngời sáng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã đưa nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc. Đó là minh chứng hùng hồn cho sức sống vĩnh cửu của Tuyên ngôn Độc lập.
Với cuộc hành trình đầy gian nan đi từ “quyền tự nhiên” của con người đến “quyền của các dân tộc”, Hồ Chí Minh - tác giả của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được nhân dân thế giới tôn vinh và ngưỡng mộ. Đúng như một nhận định về Người: Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường, bất chấp những khó khăn chất chồng, đã có thể đưa Hồ Chí Minh lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX11.
 
 
  
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 9-2021
1, 6, 8, 9. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.4, tr. 3, 1, 3, 534
2. Là một đạo luật được chính quyền thuộc địa Anh ban hành năm 1756. Đạo luật này quy định tất cả báo chí, biểu ngữ, sách nhỏ, giấy môn bài, hợp đồng thuê mướn và các loại văn bản pháp luật khác đều bị dán tem để đánh thuế
3. Thomas Paine: Common Sense, 1776, p.76-77. Dẫn theo Nguyễn Thái Yên Hương: Liên bang Mỹ. Đặc điểm xã hội - văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, H, 2006, tr.146
4. “Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ”, Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam xuất bản
5. Archimedes L. A. Patti: Tại sao Việt Nam?, Nxb Đà Nẵng, 1995, tr. 230
7. Shingo Shibata: Lessons of the Vietnam War, Amsterdam, 1973, p.141
10. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. IX
11. Xem Charles Fenn: Lời giới thiệu cuốn sách Hồ Chí Minh, một chân dung (của Lady Borton), Nxb Thanh niên, H, 2003, tr. 8.