Tóm tắt: Giai đoạn 1961-1965, trong bối cảnh cách mạng miền Nam chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, Trung ương Cục miền Nam xác định công tác kinh tế-tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng và đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn bộ máy tổ chức, phát triển sản xuất, tự túc lương thực, tiết kiệm, bồi dưỡng sức dân; đồng thời chú trọng huy động, quản lý nguồn thu, bảo đảm ngân sách và đấu tranh kinh tế với địch. Bài viết tập trung làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác kinh tế-tài chính, củng cố hậu phương tại chỗ ở miền Nam, bảo đảm vật chất cho cuộc kháng chiến, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Từ khóa: Trung ương Cục miền Nam; công tác kinh tế - tài chính; 1961-1965
Ngày nhận: 14-9-2026; Ngày thẩm định, đánh giá: 22-9-2026 ; Ngày duyệt đăng: 28-9-2026

POLICIES AND DIRECTION OF THE CENTRAL OFFICE FOR SOUTH VIETNAM ON ECONOMIC AND FINANCIAL WORK (1961–1965)

Abstract: During the 1961–1965 period, in the context of the South Vietnamese revolution’s struggle against the United States’ “Special War” strategy, the Central Office for South Vietnam identified economic and financial work as one of its important tasks. Accordingly, e Central Office for South Vietnamfocused its leadership and direction on consolidating the organizational apparatus, developing production, promoting food self-sufficiency and thrift, and fostering the people’s strength. At the same time, it placed emphasis on mobilizing and managing revenue sources, ensuring budgetary resources, and conducting economic struggles against the enemy. This article focuses on clarifying the policies and direction of the Central Office for South Vietnam regarding economic and financial work, thereby strengthening local rear bases in South Vietnam, ensuring material support for the resistance war, and contributing to the defeat of the United States’ “Special War” strategy.

Keywords: Central Office for South Vietnam; economic and financial work; 1961–1965

1. Đặt vấn đề
Trong những năm 1961-1965, Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đẩy mạnh càn quét, gom dân, lập “ấp chiến lược”, phong tỏa và phá hoại kinh tế, gây nhiều khó khăn cho cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, yêu cầu xây dựng, bảo vệ tiềm lực kinh tế và bảo đảm nguồn lực cho cách mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Trung ương Cục miền Nam đã từng bước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện chủ trương về công tác kinh tế - tài chính, đồng thời trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm nhu cầu ngày càng lớn của cuộc kháng chiến. Đã có nhiều nghiên cứu về sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhưng chưa có một nghiên cứu toàn diện, hệ thống về Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác kinh tế - tài chính giai đoạn 1961-1965. Do đó, việc nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác kinh tế-tài chính (1961-1965) là cần thiết, góp phần làm rõ hơn vai trò lãnh đạo toàn diện của Trung ương Cục miền Nam và đóng góp của công tác kinh tế-tài chính đối với cách mạng miền Nam giai đoạn 1961-1965.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và logic nhằm tái hiện quá trình lãnh đạo công tác kinh tế - tài chính của Trung ương Cục miền Nam (1961-1965). Đồng thời, bài viết chú trọng phương pháp nghiên cứu sử liệu, sử dụng những tài liệu được công bố trong Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975 và những tài liệu lưu trữ có liên quan; tiến hành đối chiếu, kiểm chứng và chắt lọc thông tin nhằm bảo đảm tính xác thực, độ tin cậy của sử liệu sử dụng trong bài viết.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương của Trung ương Cục miền Nam
Từ năm 1961, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, dùng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu do cố vấn Mỹ chỉ huy, đẩy mạnh càn quét, đàn áp, dồn dân, lập “ấp chiến lược” với âm mưu giành lại thế chủ động, nhanh chóng “bình định” miền Nam; đồng thời tăng cường vơ vét, phá hoại sản xuất, tăng thuế, kiểm soát lúa gạo và lưu thông hàng hóa.
Đối với phong trào cách mạng miền Nam, từ sau phong trào Đồng khởi (1960), thế và lực của cách mạng miền Nam phát triển mạnh, vùng giải phóng và căn cứ cách mạng ngày càng được mở rộng. Nhằm tăng cường sự lãnh đạo trực trực tiếp của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam, Đại hội III (1960) của Đảng chủ trương thành lập Trung ương Cục ở những đảng bộ đặc biệt trọng yếu. Thực hiện chủ trương này, ngày 23-1-1961, HNTƯ 3 khóa III quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam. Đây là một bộ phận của Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng trên địa bàn Nam Bộ và Liên khu V.
Nhằm chủ động đấu tranh kinh tế với địch, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam (mở rộng) lần thứ nhất (tháng 10-1961) xác định: “Trên mặt trận kinh tế, tuy ta có những vùng căn cứ rộng lớn, ta quản trị hàng triệu quần chúng, ta có một số cơ sở sản xuất nhưng ta không chủ trương lập hẳn ra vùng ta, vùng địch có ranh giới rõ ràng, có chế độ chính trị, kinh tế hoàn chỉnh, hoàn toàn độc lập và đối lập nhau, hơn nữa, ta cần phải đấu tranh không cho phân biệt ra 2 vùng địch, ta rõ rệt như thế” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.441). Hội nghị xác định cần dựa vào quần chúng nhân dân để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống và bảo đảm nhu cầu ngày càng tăng của cách mạng. Hội nghị đề ra 3 mục tiêu cơ bản là: “đấu tranh với địch trên mặt trận kinh tế tài chính; cải thiện đời sống nhân dân; bảo đảm nhu cầu to lớn của cách mạng đang phát triển” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.507).
Hội nghị Trung ương Cục miền Nam (từ ngày 20-4 đến ngày 5-5-1962) tiếp tục cụ thể hóa chủ trương về công tác kinh tế - tài chính, gắn xây dựng kinh tế vùng cách mạng với chống bao vây, phá hoại của đối phương. Hội nghị nêu rõ: “Công tác kinh tế hiện nay nhằm đẩy mạnh phong trào nhân dân sản xuất lương thực và phong trào tự túc của cơ quan và chống cướp phá bao vây kinh tế của địch, duy trì sự giao lưu kinh tế bình thường giữa vùng căn cứ và vùng ngoài;… Công tác tài chánh nhằm tăng thu, tiết kiệm và quản lý tài chánh cho chặt chẽ” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.790); trong đó nguồn thu chính vẫn dựa vào đảm phụ của nhân dân, nhưng việc huy động phải dựa trên giác ngộ và sự tự nguyện, làm cho quần chúng nhận rõ trách nhiệm đóng góp cho cách mạng.
Năm 1963, cùng với yêu cầu đẩy mạnh đấu tranh chống phá khu dồn dân, khu trù mật, ấp chiến lược, Trung ương Cục chủ trương bảo vệ nguồn nhân lực, vật lực và cơ sở sản xuất của nhân dân, gắn với cuộc đấu tranh chống chính sách kinh tế của đối phương. Nghị quyết số 32/CV về “công tác chống phá khu, ấp chiến lược, gom dân” (tháng 7-1963) của Trung ương Cục xác định “kết hợp việc chống, phá không cho địch cướp lấy nhân, tài, vật lực trong khu, ấp chiến lược với việc khai thác lấy số nhân, tài, vật lực đó để xây dựng phát triển thực lực cách mạng” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020b, tr.503). Nghị quyết yêu cầu cần có kế hoạch sản xuất, bố phòng để khi đồng bào trở về có thể sinh sống và chống địch “gom dân” trở lại. Như vậy, phá khu dồn dân, ấp chiến lược không chỉ nhằm giải phóng dân khỏi sự kìm kẹp mà còn gắn với khôi phục sản xuất, ổn định đời sống và tạo điều kiện để nhân dân bám đất, bám làng, củng cố cơ sở kinh tế - xã hội của cách mạng.
Để củng cố vùng giải phóng, Trung ương Cục xác định cần phải tăng cường quản lý vùng nông thôn giải phóng, gắn công tác kinh tế - tài chính với xây dựng và tổ chức quản lý vùng cách mạng. Trong Điện số 393/AT ngày 9-9-1963 về “quản lý tốt vùng nông thôn giải phóng”, Trung ương Cục xác định cần nghiên cứu chủ trương thành lập ở cấp Trung ương và tỉnh một tổ chức công khai, có thể lấy tên là Hội đồng giải phóng hoặc Hội đồng quản lý để thực hiện một số chức năng quản lý, như: hướng dẫn cấp dưới về chế độ, lề lối làm việc, nhiệm vụ công tác và đào tạo cán bộ. Thành phần dự kiến của tổ chức này “có thể gồm một số đồng chí ở các ngành như: quân sự, kinh tế tài chính, an ninh, tuyên huấn, dân vận, y tế và một số đồng chí ở ủy ban Mặt trận, do cấp ủy đảng trực tiếp lãnh đạo” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020b, tr.559). Chủ trương đưa cán bộ kinh tế - tài chính tham gia quản lý vùng giải phóng cho thấy phạm vi công tác kinh tế-tài chính được mở rộng, không chỉ gắn với huy động và bảo đảm tài chính đơn thuần, mà còn gắn với việc tổ chức, quản lý và xây dựng vùng giải phóng.
Tháng 3-1964, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ hai xác định nhiệm vụ kinh tế - tài chính trong thời gian tới: “ra sức động viên mạnh hơn nữa sự đóng góp tài vật lực của nhân dân cho những nhu cầu của cuộc chiến tranh cách mạng ngày càng phát triển trên cơ sở tích cực bồi dưỡng sức dân, đồng thời đấu tranh chống địch bao vây cướp phá kinh tế ta; làm suy yếu và đẩy lùi từng bước kinh tế đế quốc và phong kiến, từng bước xây dựng kinh tế dân tộc dân chủ nhân dân ở vùng giải phóng” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.214). Hội nghị chủ trương bồi dưỡng sức dân gắn với giải quyết quyền lợi ruộng đất cho nông dân, phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm và bảo vệ kinh tế trước sự đánh phá của địch, lấy nông nghiệp làm chủ yếu, trong nông nghiệp phải lấy lương thực làm trọng tâm, khôi phục, phát triển những ngành nghề tiểu thủ công. Tăng sản lượng cây trồng bằng thâm canh, tăng vụ, khai hoang, cải tiến kỹ thuật; tương trợ về vốn, nông cụ và nhân công. Sản xuất không chỉ là nhiệm vụ của nhân dân mà còn là nghĩa vụ của các cơ quan và lực lượng cách mạng.
Cùng với phát triển sản xuất, cần phải tổ chức và hướng dẫn lưu thông hàng hóa theo hướng vừa phục vụ dân sinh, vừa phục vụ kháng chiến và đấu tranh kinh tế với địch. Về tài chính, thực hiện phương châm tăng thu đi đôi với bồi dưỡng nguồn thu, phát huy khả năng tự lực của từng địa phương kết hợp với điều hòa cho toàn miền. Mỗi địa phương phải tìm khả năng tăng thu để tự giải quyết phần lớn nhu cầu của mình và đóng góp cho nhu cầu chung. Đồng thời, nghiên cứu phát hành “Công phiếu giải phóng” để tạo vốn cho tín dụng, phát triển sản xuất, tạo một phần dự trữ tài chính.
Ngày 31-12-1964, Trung ương Cục thông qua Nghị quyết số 27/36 về “Hội nghị kinh tế tài chánh”, khẳng định: “lấy sản xuất làm căn bản để xây dựng và phát triển kinh tế tài chánh” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.513). Theo đó, sản xuất quyết định phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng là cơ sở của tăng thu tài chính và cả việc chuẩn bị phát hành tiền tệ về sau; sản xuất phải tiến tới tự túc, tự cấp nhằm giảm dần sự lệ thuộc vào kinh tế địch. Trung ương Cục chủ trương mở rộng thương nghiệp và lưu thông hàng hóa, xác định thương nghiệp là khâu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa nông thôn với thành thị và giữa các vùng kinh tế. Nhiệm vụ của thương nghiệp là điều hòa hàng hóa, phục vụ sản xuất, bảo đảm hàng tiêu dùng thiết yếu, tạo dự trữ, phá phong tỏa và đấu tranh chống độc quyền của đối phương; Trung ương Cục đồng thời đặt vấn đề “nghiên cứu và bắt đầu xây dựng những cơ sở mậu dịch công doanh” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.521).
Nghị quyết số 27/36 thể hiện rõ bước phát triển từ giải quyết thu chi trước mắt sang từng bước xây dựng nền tài chính kháng chiến tương đối có hệ thống: “Tăng cường quản lý tài chánh chặt chẽ; trên cơ sở phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, bồi dưỡng sức dân mà ra sức tăng thu bảo đảm cung cấp cho nhu cầu cách mạng; mặt khác ra sức tiết kiệm, giảm bớt hoặc hoãn những chi tiêu chưa thật cần thiết, dành phần lớn ngân sách cho nhu cầu chủ yếu; tiến tới thống nhất quản lý thu chi, tạo điều kiện thăng bằng thu chỉ ngân sách theo yêu cầu phát triển của cách mạng, bảo đảm cho cuộc chiến đấu trường kỳ đi đến thắng lợi” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.524). Nghị quyết đề ra việc huy động tiền trong nhân dân, phát hành công phiếu giải phóng ở những nơi có điều kiện, tích cực chuẩn bị phát hành tiền tệ - từng bước vững chắc xây dựng một nền tài chính, tiền tệ độc, lập tự chủ. Thực hiện chính sách “Đảm phụ quỹ giải phóng” ở vùng giải phóng, tiếp tục lạc quyên ở vùng tạm chiếm và đô thị, giảm nhẹ đóng góp ở miền núi…
Năm 1965, cùng với sự phát triển của cách mạng, yêu cầu xây dựng hậu phương và huy động nguồn lực cho kháng chiến trở nên cấp bách hơn. Tháng 1-1965, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ ba thông qua Nghị quyết về “tình hình cách mạng miền Nam năm 1964 và nhiệm vụ trước mắt của ta”, xác định một trong bốn mục tiêu lớn là mở rộng vùng giải phóng, “giải quyết tốt vấn đề tô tức và ruộng đất, tăng gia sản xuất, đoàn kết nông thôn, xây dựng hậu phương mạnh mẽ, vững chắc để huy động tích cực nhân, tài, vật lực cho chiến tranh cách mạng” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.554), với khẩu hiệu chung là “đoàn kết, sản xuất, giết giặc và huy động tích cực nhân, tài, vật lực để giành thắng lợi” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020c, tr.556).
Như vậy, trong những năm 1961-1965, chủ trương của Trung ương Cục miền Nam về công tác kinh tế - tài chính từng bước phát triển, từ sản xuất, tự túc, bảo đảm lương thực và huy động nguồn lực đến tổ chức lưu thông, phát triển thương nghiệp, tạo nguồn thu, quản lý ngân sách, tiết kiệm, dự trữ và đấu tranh với kinh tế địch, tạo điều kiện để từng bước xây dựng một nền kinh tế - tài chính kháng chiến theo hướng tự lực, tự chủ, vừa bảo đảm đời sống nhân dân vùng hậu phương tại chỗ ở miền Nam, vừa đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của cuộc kháng chiến.
2.2. Sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam
Triển khai thực hiện những chủ trương trên, Trung ương Cục miền Nam yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị và lực lượng vũ trang tập trung tổ chức sản xuất, bảo đảm lương thực, phát động tiết kiệm, quản lý thu chi, huy động đóng góp phù hợp với tình hình và khả năng, điều kiện thực tế của từng vùng.
Về tổ chức, Trung ương Cục từng bước xây dựng bộ máy chuyên trách. Tháng 10-1961, Ban Kinh-Tài Trung ương Cục được thành lập trên cơ sở Ban Tài chính Xứ ủy Nam Bộ. Nhiệm vụ của Ban là nghiên cứu nghị quyết của Trung ương Cục, đề xuất chính sách và biện pháp kinh tế - tài chính, hướng dẫn nghiệp vụ cho địa phương, trực tiếp lãnh đạo các đơn vị trực thuộc và đào tạo cán bộ. Khi thành lập, Ban có khoảng 20 người, sang năm 1962 được bổ sung thêm 10 cán bộ, gồm các bộ phận: văn phòng, sản xuất và thu - chi, giữ quỹ tài chính. (Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, 2007, tr.76-78). Việc kiện toàn Ban Kinh - Tài tạo cơ sở để thực hiện những chỉ đạo của Trung ương Cục về kinh tế tài chính hiệu quả hơn.
Để bảo đảm cung cấp cho lực lượng cách mạng, ngày 27-12- 1961, Ban Thường vụ Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 7-CTR về “chống địch vơ vét lúa gạo”, chỉ rõ “âm mưu vơ vét lúa gạo, phá hoại sản xuất của địch rất thâm độc cần kiên quyết lãnh đạo quần chúng đấu tranh đánh bại âm mưu đó” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.569). Trên cơ sở đó, Trung ương Cục có những chỉ đạo cụ thể theo từng địa bàn: ở nơi đang phá thế kìm kẹp, phải phát động quần chúng chống tập trung lúa gạo, chống cướp phá hoa màu, đồng thời tổ chức dự trữ, cất giấu lương thực; ở nơi đã phá được thế kìm kẹp nhưng đối phương dùng tiền thu vét lúa, phải vận động nhân dân chỉ bán một phần cần thiết, giữ lại lúa để bảo đảm đời sống và đề phòng giá tiền biến động.
Từ chống vơ vét lúa gạo của địch, Trung ương Cục chỉ đạo phải tạo nguồn và chủ động dự trữ lương thực, đẩy mạnh tăng gia sản xuất lúa và hoa màu trong lực lượng vũ trang, cán bộ thoát ly và nhân dân vùng căn cứ; sản xuất phải đi đôi với bảo vệ mùa màng, cất giấu lúa và thực hành tiết kiệm. Công tác bảo đảm lương thực được triển khai từ sản xuất, thu mua, dự trữ, cất giấu, bảo quản, kiểm tra và báo cáo. Năm 1961, bộ phận Kinh - Tài đã tiến hành thu mua, xay xát, vận chuyển lương thực, thực phẩm dự trữ; riêng ở khu vực Chiến khu Đ, khu A tổ chức 5 đội sản xuất, mỗi đội từ 100 đến 200 người, khai thác các khu vực Mã Đà, Suối Ràng, Bù Téc, Bàu Cá, Tà Lài, Bãi Cát Tiên với tổng diện tích sản xuất khoảng 1.000 ha; Đại đội 61 của T1 có 120 người làm nhiệm vụ thu mua lương thực, thực phẩm tại một số địa bàn để cung cấp cho lực lượng ở căn cứ. (Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, 2007, tr.91-93).
Trong Chỉ thị số 12/CTR ngày 10-2-1962 về “cần đi sâu hơn nữa về âm mưu thủ đoạn của địch và cách đối phó của ta”, Trung ương Cục chỉ đạo “đẩy mạnh sản xuất, bảo vệ sản xuất, cất giấu dự trữ lương thực, đấu tranh kinh tế với địch, hướng các hoạt động của địa phương mở rộng ra vùng địch” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.703), đồng thời nhấn mạnh “Trong lúc tiến hành các công tác trên phải đồng thời đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng và sản xuất tự túc của các cơ quan và các đơn vị bộ đội” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.704). Đối với công tác “chống chiến dịch lúa gạo và phá hoại hoa màu lương thực” của địch, Trung ương Cục  yêu cầu: “một mặt đẩy mạnh phong trào trong các vùng yếu lên, một mặt có kế hoạch thu cất dự trữ cho cơ quan, lực lượng và nhân dân, đồng thời đẩy mạnh việc sản xuất và bảo vệ sản xuất” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.708). Kết quả, đến cuối năm 1962, nhiều căn cứ đã xây dựng được kế hoạch tự túc lương thực, trung bình khoảng 6 tháng, có nơi từ 8 tháng đến một năm; sản lượng và diện tích sản xuất tăng, một số vùng không chỉ khắc phục tình trạng thiếu đói mà còn cung cấp tại chỗ nguồn lương thực và nhân lực cho cách mạng. Các hình thức đổi công, vần công được mở rộng ở miền núi và bắt đầu phát triển ở đồng bằng Nam Bộ.
Ngày 4-5-1962, Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị về “công tác chi tiêu tài chánh, ra sức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, trực tiếp chấn chỉnh cách sử dụng, quản lý tiền, tài sản, vật tư và lương thực của các cơ quan, đơn vị. Thường vụ Trung ương Cục chỉ đạo “phải triệt để tiết kiệm, tích cực chống lãng phí, phải có kế hoạch sử dụng tài chánh thật hợp lý, tập trung chỉ tiêu vào những việc quan trọng, cấp bách nhất, việc gì có thể hoãn hoặc bỏ thì kiên quyết hoãn bỏ” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.806). Đồng thời, tiến hành kiểm kê đầy đủ tài sản và quy định người phụ trách từng ngành phải chịu trách nhiệm đối với tài sản thuộc phạm vi mình quản lý. Chỉ thị này cho thấy Trung ương Cục chỉ đạo tiết kiệm, chống lãng phí hết sức quyết liệt, cụ thể, từ kiểm kê, kiểm tra, chấn chỉnh chi tiêu, tăng cường kỷ luật tài chính đến quy định trách nhiệm.
Thực hiện Chỉ thị “Về công tác kinh tế tài chánh” của Trung ương Cục (tháng 12-1962), hệ thống tổ chức của Ban Kinh - Tài tiếp tục được kiện toàn: Ban Kinh - Tài Trung ương Cục (Miền, R), Ban Kinh - Tài T1 (Đông Nam Bộ), Ban Kinh - Tài T2 (Trung Nam Bộ), Ban Kinh - Tài T3 (Tây Nam Bộ), Ban Kinh - Tài T4 (Đặc khu Sài Gòn), Ban Kinh - Tài T6 (cực Nam Trung Bộ) đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục và các Khu ủy. Các Ban Kinh - Tài Khu 5 và Trị Thiên được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Khu 5 và Trị - Thiên. Dưới cấp khu, các tỉnh đều thành lập Ban Kinh - Tài tỉnh, ở huyện và xã bố trí cấp ủy viên và cán bộ chuyên trách phù hợp.
Cùng với sản xuất và tài chính, Trung ương Cục coi trọng mậu dịch và lưu thông hàng hóa, xác định nhiệm vụ cụ thể của công tác mậu dịch là “nghiên cứu dần dần hướng dẫn chỉ đạo việc lưu thông hàng hóa. Đấu tranh kinh tế với địch. Phục vụ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống cho quần chúng. Bảo đảm một số nhu cầu cho cách mạng” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020a, tr.1126-1127). Mỗi cấp ủy tập trung vào lãnh đạo công tác kinh tế - tài chính và quy định từ cấp tỉnh trở lên, tổ chức Ban Kinh - Tài chính gồm: các bộ phận sản xuất, tài chính, mậu dịch và đấu tranh kinh tế với địch, qua đó từng bước xây dựng bộ máy chuyên môn làm chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của cấp ủy.
Ngày 20-2-1963, Ban Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị về “tình hình, nhiệm vụ và công tác trước mắt” yêu cầu cấp ủy các cấp tập trung chỉ đạo: “tiếp tục giải quyết quyền lợi ruộng đất cho nông dân theo đúng chánh sách. Đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất cải thiện đời sống nhân dân và phong trào sản xuất tự túc của cơ quan, bộ đội, nhứt là ở căn cứ rừng núi, các vùng căn cứ” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020b, tr.148). Về công tác tài chính, cần tích cực tăng thu, giảm chi, tiếp tục nghiên cứu các nguồn thu ở từng vùng, hướng dẫn mức thu công bằng, hợp lý hơn, cải tiến phương pháp thu, lấy giác ngộ, tự nguyện của quần chúng làm gốc. Trong quá trình đó, cần nghiên cứu nguồn thu và xác định mức động viên hợp lý dưới hình thức thu đảm phụ mang tên “Quỹ giải phóng”. Mức động viên đối với nông hộ phổ biến là 10% số lúa thu hoạch, đối với một số hoa màu là 3% sản lượng; cơ sở công thương nghiệp, tiểu thương và một số hoạt động kinh doanh đóng từ 5% đến 10% lợi tức hằng tháng; sau khi thu, 5-10% được để lại làm ngân sách xã (Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, 2007, tr.110-111).
Để thực hiện tốt công tác quản lý tài chính, ngày 25-10-1963, Ban Thường vụ Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 70/CT “về tăng cường quản lý chi tiêu, tập trung chấn chỉnh dự trù, cấp phát, quyết toán, tiền mặt, tồn quỹ, tồn kho và kho tàng”. Chỉ thị quy định mỗi ngành muốn được cấp phát tiếp phải quyết toán đúng thời hạn; mọi khoản chi phải có dự trù, chi ngoài chế độ phải được xét duyệt. Chỉ thị còn yêu cầu kiện toàn hệ thống quản lý tài chính trong quân đội, chú trọng tiếp liệu, thu mua, dự trữ lương thực và tổng kiểm kê tài sản cuối năm. Đây là bước chỉ đạo nhằm đưa công tác kinh tế tài chính đi vào nền nếp, “có thi hành nghiêm khắc kỷ luật tài chính thì mới khắc phục được một phần nào tính chất bấp bênh của ngân sách chúng ta và mới thêm phần đảm bảo kế hoạch phân phối cung cấp chung…. và đối với các địa phương” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020b, tr.748).
Cuối năm 1963, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo đấu tranh kinh tế phải mở rộng và cụ thể hơn đối với địa bàn đô thị, gắn các yêu cầu kinh tế thiết thực của các tầng lớp nhân dân với phong trào đấu tranh chính trị. Điện ngày 13-11-1963 của Ban Thường vụ Trung ương Cục về “hướng dẫn bản kế hoạch đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị”, nêu rõ đấu tranh ở vùng đô thị phải gắn với các yêu cầu “tự do kinh doanh, tự do đi lại mua bán làm ăn, chống các độc quyền kinh tế, chống đầu cơ tích trữ, chống vơ vét bóc lột, lạm phát tiền tệ (chống đổi bạc)” (Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020b, tr.799) và giải quyết việc làm, tăng lương, tổ chức bảo hiểm lao động cho công nhân và tăng lương cho công chức, binh lính. Ở nông thôn, bên cạnh phá ấp chiến lược để đưa nhân dân trở về ruộng vườn cũ làm ăn, Chỉ thị yêu cầu cần phát triển các hình thức tương trợ, vần đổi công và các tổ chức bán hợp pháp có lợi cho quần chúng. Qua đó, góp phần tạo nên những thắng lợi trong phá thế kìm kẹp của đối phương, khôi phục sản xuất, ổn định sinh kế và củng cố các hình thức hợp tác, tương trợ trong nhân dân.
Ngày 22-5-1964, Ban Thường vụ Trung ương Cục ra Chỉ thị số 7/CT “về việc thực hiện nghĩa vụ sản xuất tự túc của cơ quan và lực lượng chung quanh Trung ương Cục miền Nam”, yêu cầu các cơ quan và các lực lượng thực hiện nghĩa vụ sản xuất, quy định mức huy động nhân lực, số ngày công và trách nhiệm của từng đơn vị, đồng thời giao Ban Kinh-Tài hướng dẫn chuyên môn. Thường vụ Trung ương Cục yêu cầu các cơ quan, đơn vị phát động phong trào tiết kiệm thực hiện dân chủ, quản lý và công khai kinh tế; các ban chuyên môn phải kiểm tra việc chi tiêu trong ngành mình, Ban Kinh -Tài và Hậu cần có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn, phát hiện những trường hợp lãng phí để đề nghị cấp ủy xử lý; đồng thời chấn chỉnh việc quản lý lương thực, tài sản và nhân lực.
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục, đến năm 1965, nguồn thu ngân sách trên địa bàn do Trung ương cục miền Nam quản lý tăng đáng kể; riêng tiền thuế các tỉnh nộp về Ban Kinh-Tài Trung ương Cục là 2,074 triệu đồng, tương đương 591.540 tấn thóc, chiếm 65,2% (3,178 triệu đồng) tổng số thu tài chính của Ban Kinh - Tài. Nếu theo chỉ số phát triển về số thu ngân sách năm 1960 là 100% thì số thu ngân sách năm 1965 là 1.891%, trong đó số thu tại chỗ (miền Nam) tăng 12 lần so với năm 1960 (Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, 2007, tr.118).

3. Kết luận
Giai đoạn 1961-1965, trong bối cảnh Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đẩy mạnh gom dân, lập ấp chiến lược, phá hoại kinh nền tế kháng chiến của ta, Trung ương Cục miền Nam nhận thức rõ vai trò quan trọng của kinh tế - tài chính đối với việc bảo đảm hậu cần phục vụ kháng chiến ở Nam Bộ và Khu V. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Trung ương Cục miền Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sát công tác kinh tế - tài chính. Từ yêu cầu về bảo vệ lương thực, sản xuất tự túc, tiết kiệm và huy động đóng góp, đến mở rộng lưu thông hàng hóa, quản lý thu - chi, ngân sách, huy động vốn, kiện toàn tổ chức bộ máy và đấu tranh kinh tế với địch, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm hậu cần cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1961-1965 ở Nam Bộ và Khu V.
 
Tài liệu tham khảo
Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam Việt Nam. (2007). Lịch sử Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb Chính trị quốc gia
Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020a). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975. Tập 8 (1961-1962). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020b). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975. Tập 9 (1963). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2020c). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975. Tập 10 (1964-1965). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.