Tóm tắt Trong những năm 1936-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương tiếp tục xác định 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, Đảng tập trung lãnh đạo đấu tranh chống phản động thuộc địa, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Bài viết tập trung làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trước mắt, kết hợp các hình thức đấu tranh phù hợp với thực tiễn, phát triển phong trào dân chủ và chuẩn bị lực lượng cho giai đoạn cách mạng tiếp theo; trình bày một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với việc xác định và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Từ khóa: Đảng Cộng sản Đông Dương; phong trào dân chủ 1936-1939; mục tiêu chiến lược; nhiệm vụ trước mắt; sách lược cách mạng
Ngày nhận bài: 27-7-2026; Ngày thẩm định: 20-8-2026; Ngày duyệt đăng: 19-9-2026
THE INDOCHINESE COMMUNIST PARTY'S APPROACH TO RECONCILING STRATEGIC OBJECTIVES AND IMMEDIATE TASKS (1936–1939)
Abstract: During the period 1936–1939, the Indochinese Communist Party continued to uphold national independence and socialism as the two strategic objectives of the Vietnamese revolution. However, in response to the changing historical circumstances, the Party shifted its immediate focus towards the struggle against colonial reactionaries and for freedom, democracy, improved living conditions, and peace. This article examines how the Indochinese Communist Party addressed the relationship between long-term strategic objectives and immediate revolutionary tasks, adopted appropriate forms of struggle in response to prevailing conditions, advanced the democratic movement, and prepared revolutionary forces for the subsequent stage of the revolution. It also draws lessons from this historical experience that remain relevant to the formulation and implementation of Vietnam's strategic tasks in its new stage of development.
Keywords: the Indochinese Communist Party; Democratic Movement of 1936–1939; strategic objectives; immediate tasks; revolutionary tactics.
1. Đặt vấn đề
Trước những tác động của tình hình quốc tế và trong nước, trong những năm 1936-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam với những nhiệm vụ trước mắt. Trong đó, mục tiêu chiến lược vẫn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhưng trong bối cảnh mới, nhiệm vụ trước mắt là chống phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Điều đó được thể hiện qua việc Đảng xác định kẻ thù trực tiếp, xử lý quan hệ giữa nhiệm vụ phản đế và phản phong, giải quyết vấn đề ruộng đất, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, lựa chọn hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh phù hợp. Đảng kết hợp hoạt động công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp với củng cố tổ chức bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo và chuẩn bị lực lượng cách mạng.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh. Các phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh được sử dụng để làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam; sự điều chỉnh chủ trương và lãnh đạo phong trào dân chủ trong những năm 1936-1939 theo trình tự thời gian. Phương pháp lôgíc phân tích làm rõ mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trước mắt; giữa điều chỉnh nhiệm vụ, khẩu hiệu, lực lượng và phương pháp đấu tranh với việc giữ vững mục tiêu của cách mạng tư sản dân quyền. Phương pháp so sánh nhằm làm rõ sự kế thừa, điều chỉnh và phát triển nhận thức về quan điểm, chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng trong từng thời điểm.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Sự phát triển nhận thức và quan điểm, chủ trương của Đảng về mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trước mắt
Thứ nhất, Đảng kiên định mục tiêu chiến lược của cách mạng
Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định ngay từ đầu năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng chủ trương làm “tư sản dân quyền c.m và thổ địa c.m để đi tới xã hội cộng sản” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.2), trong đó nhiệm vụ hàng đầu là “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến... làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.2). Luận cương chính trị (10-1930) tiếp tục khẳng định: “Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr.93). Tuy có những điểm khác nhau trong xác định vị trí từng nhiệm vụ, nhưng hai văn kiện đều thống nhất con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Trong những năm 1936-1939, mục tiêu chiến lược đó tiếp tục được khẳng định trong điều kiện lịch sử mới. Hội nghị BCHTƯ tháng 7-1936, xác định cách mạng ở Đông Dương vẫn là “làm cách mạng tư sản dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền của công nông bằng hình thức Xôviết, để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là mục đích cuối cùng của cuộc cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.139). Sự kiên định mục tiêu chiến lược tiếp tục được thể hiện tại các Hội nghị BCHTƯ Đảng tháng 3-1937 và tháng 9-1937. Các quan điểm, chủ trương về tổ chức quần chúng, công tác mặt trận và vận dụng hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp đều được xác định trên cơ sở giữ vững đường lối cách mạng tư sản dân quyền. Đảng chú trọng củng cố hệ thống tổ chức bí mật, qua đó bảo đảm vai trò lãnh đạo đối với phong trào cách mạng. Đến Hội nghị tháng 3-1938, khi quyết định thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất Đông Dương, nhằm tập hợp “các lớp nhân dân toàn xứ, sĩ nông công thương, không phân biệt giai cấp đảng phái, nòi giống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.597) để đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình, Đảng đặt lên hàng đầu nhiệm vụ củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên quyết chống khuynh hướng “tả” khuynh cô độc, hẹp hòi và khuynh hướng hữu khuynh, thỏa hiệp vô nguyên tắc.
Qua các Hội nghị BCHTƯ từ tháng 7-1936 đến tháng 3-1938, Đảng từng bước nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trước mắt; kiên định mục tiêu của cách mạng tư sản dân quyền, thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, tiến lên CNXH, tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết về tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Việc mở rộng Mặt trận, phát triển các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp luôn gắn với củng cố tổ chức bí mật và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Sự thống nhất giữa kiên định về chiến lược với linh hoạt về sách lược giúp Đảng tránh cả khuynh hướng giáo điều, biệt phái và hữu khuynh, cải lương, tạo cơ sở mở rộng lực lượng cách mạng.
Thứ hai, Đảng xác định đúng nhiệm vụ trước mắt và kẻ thù trước mắt của cách mạng
Kiên định mục tiêu chiến lược song không giáo điều, máy móc, Đảng căn cứ vào so sánh lực lượng, trình độ của phong trào cách mạng và yêu cầu cấp thiết của quần chúng để xác định nhiệm vụ trước mắt phù hợp. Hội nghị BCHTƯ tháng 7-1936, trên cơ sở phân tích những biến chuyển quan trọng của tình hình thế giới đã xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Đông Dương là: chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đảng chỉ rõ kẻ thù nguy hại nhất cần tập trung mũi nhọn đấu tranh của nhân dân Đông Dương lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc Pháp nói chung, mà là “bọn tây thuộc địa phản động, bọn chân tay phát xít ở Đông Dương”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.149). Đây là sự phân hóa kẻ thù rõ ràng, chính xác. Nhờ đó, Đảng vừa tranh thủ được ảnh hưởng của phong trào dân chủ ở chính quốc, vừa cô lập thế lực phản động nhất ở thuộc địa, vừa mở rộng lực lượng có thể tập hợp.
Xuất phát từ thực tiễn tổ chức và đấu tranh của nhân dân Đông Dương chưa đủ trình độ để “trực tiếp đánh đổ đế quốc Pháp, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.144), vì vậy Đảng chủ trương tập hợp lực lượng thực hiện nhiệm vụ “cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.144), bằng các khẩu hiệu đòi quyền dân chủ, dân sinh cụ thể: tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do đi lại, thả tù chính trị, ngày làm 8 giờ, cải thiện đời sống. Việc tạm gác khẩu hiệu chiến lược không có nghĩa là từ bỏ nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và phong kiến. Đó là sự lựa chọn mục tiêu phù hợp với trình độ giác ngộ và khả năng đấu tranh hiện thời của quần chúng nhân dân, để từ những lợi ích thiết thân hằng ngày, mà thức tỉnh, tập hợp, rèn luyện hàng triệu quần chúng nhân dân, từng bước nâng phong trào lên trình độ cao hơn. Nhiệm vụ trước mắt được xác định như vậy vừa xuất phát từ yêu cầu khách quan của tình hình, vừa nằm trên quỹ đạo của mục tiêu chiến lược, phục vụ mục tiêu chiến lược.
Thứ ba, nhận thức mới về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và cách mạng ruộng đất
Tháng 10-1930, Đảng công bố tài liệu Chung quanh vấn đề chiến sách mới nêu rõ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa thì cần phải đánh đổ đế quốc. Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.152). Từ đó, Đảng nêu nguyên tắc chỉ đạo: “nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyết trước. Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà đánh cho được toàn thắng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.152).
Những quan điểm, chủ trương trên thể hiện rõ bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng. Những quan điểm, chủ trương mới của Đảng có ý nghĩa lý luận quan trọng, không phủ nhận hai nhiệm vụ chiến lược, không thay đổi mục tiêu của cách mạng tư sản dân quyền, song không coi hai nhiệm vụ cách mạng này phải tiến hành song song, ngang nhau trong mọi hoàn cảnh. Thứ tự giải quyết hai nhiệm vụ là vấn đề thuộc về chỉ đạo chiến lược, phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể và yêu cầu tập trung lực lượng đánh vào kẻ thù chính của dân tộc trong từng thời kỳ. Đặt trong tiến trình phát triển đường lối cách mạng của Đảng, nhận thức này thể hiện sự trở về và phát triển Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu trên cơ sở phân tích đúng mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa. Đây là bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị (10-1930), khi nhấn mạnh hai nhiệm vụ phản đế và điền địa ngang nhau, chưa làm nổi bật nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Nhờ giải quyết về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng có căn cứ để tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc, dân chủ vào Mặt trận dân tộc thống nhất, mà không chệch hướng cách mạng. Nhận thức mới này còn chuẩn bị trực tiếp về tư duy lý luận cho quá trình thay đổi chiến lược những năm 1939-1941, khi Đảng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
2.2. Quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trước mắt gắn với mục tiêu chiến lược trong thực tiễn phong trào cách mạng 1936-1939
Trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng vận dụng các hình thức tổ chức và đấu tranh phù hợp để tập hợp quần chúng đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Thông qua phong trào đấu tranh, Đảng giác ngộ, tổ chức quần chúng, xây dựng và rèn luyện lực lượng cách mạng, chuẩn bị điều kiện thực hiện mục tiêu chiến lược.
Trước hết, Đảng chỉ đạo tập hợp quần chúng trong Mặt trận Dân tộc thống nhất; chủ động gửi thư ngỏ tới các đảng phái, đề ra các biện pháp thương lượng nhằm hình thành một mặt trận chung chống phản động thuộc địa. Các đoàn thể cách mạng được chuyển sang hình thức tổ chức và tên gọi thích hợp với điều kiện đấu tranh công khai. Tên gọi Mặt trận được điều chỉnh từ Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (7-1936) thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3-1938), nhằm tập hợp cả “những phần tử cấp tiến dân chủ người Pháp, người Nam, người Miên, người Lào, người Trung Quốc,... cùng nhau tranh đấu chống thế lực phản động thuộc địa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.597). Sự mềm dẻo về hình thức tổ chức và tên gọi không làm thay đổi thực chất, Mặt trận vẫn do Đảng lãnh đạo, là trung tâm tập hợp lực lượng chính trị cho cách mạng.
Trên cơ sở lực lượng được tập hợp, Đảng phát động cuộc vận động Đông Dương Đại hội (từ giữa năm 1936). Nắm lấy việc Quốc hội Pháp dự định cử phái đoàn sang điều tra tình hình thuộc địa, Đảng nêu 12 điều yêu cầu về tự do, dân chủ làm cơ sở để quần chúng hội họp, thảo luận, lập các bản dân nguyện. Đảng kêu gọi thành lập các “Ủy ban hành động” ở nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, làng xã. Chỉ chưa đầy 2 tháng “riêng Nam Kỳ đã thành lập hơn 600 Ủy ban hành động” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021, tr.88), gần một nửa có trụ sở công khai. Tuy Đại hội không họp được do chính quyền thuộc địa cấm đoán, cuộc vận động đã rèn luyện hàng chục vạn quần chúng qua thực tiễn đấu tranh công khai, đưa Mặt trận Dân tộc thống nhất bước đầu hình thành từ cơ sở. Yêu sách trước mắt về dân sinh, dân chủ trở thành phương thức khôi phục và phát triển lực lượng cách mạng sau thời kỳ thoái trào.
Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ tiếp tục dâng cao với nhiều hình thức phong phú. Nhân dịp phái viên Chính phủ Pháp Giuyxtanh Gôđa (Justin Godart) sang điều tra tình hình Đông Dương và Toàn quyền Bơrêviê (Brévié) nhậm chức (đầu năm 1937), Đảng huy động hàng chục vạn quần chúng xuống đường dưới danh nghĩa đón tiếp, thực chất là biểu dương lực lượng và đưa dân nguyện. Cuộc tổng bãi công của công nhân vùng mỏ (ngày 12-11-1936) buộc chủ mỏ phải chấp nhận yêu sách tăng lương, giảm giờ làm. Tiêu biểu là cuộc mít tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938, tại khu Đấu Xảo (Hà Nội), với sự tham dự của 25.000 người, được tổ chức thành 25 đoàn theo các ngành, giới (Viện Lịch sử Đảng, 2013, tr.579-580). Bên cạnh các cuộc biểu dương lực lượng lớn, Đảng tổ chức các giai tầng đấu tranh đòi quyền lợi thiết thân hằng ngày. Riêng năm 1938, “có 135 cuộc bãi công với 12.762 người tham gia, có 125 cuộc đấu tranh của nông dân và biểu tình, tổng cộng có 68.124 người tham gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.729). Các cuộc đấu tranh không chỉ tăng về số lượng, mà ngày càng chặt chẽ về tổ chức. Điều đó cho thấy, trình độ lãnh đạo của các tổ chức đảng và trình độ giác ngộ của quần chúng đều được nâng lên qua thực tiễn.
Trên mặt trận nghị trường, Đảng xác định đó là diễn đàn công khai để tố cáo chính sách phản động thuộc địa, bênh vực quyền lợi quần chúng, mở rộng ảnh hưởng chính trị của Đảng và phân hóa hàng ngũ thân thực dân. Đảng đưa người của Mặt trận ra tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ (1-1937), Viện Dân biểu Trung Kỳ (8-1937), Hội đồng thành phố Hà Nội (1938) giành nhiều thắng lợi. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh chống tăng thuế ở Trung Kỳ giữa năm 1938; đã có sự phối hợp giữa phong trào quần chúng, hoạt động của các dân biểu tiến bộ trong Viện Dân biểu Trung Kỳ và báo chí công khai. Do sức ép mạnh mẽ của quần chúng nhân dân và dư luận rộng rãi bên ngoài, ngày 16-9-1938, Viện Dân biểu Trung Kỳ phải thông qua Nghị quyết bác bỏ dự án tăng thuế của chính quyền thực dân.
Trên mặt trận báo chí, tận dụng điều kiện xuất bản hợp pháp, Đảng đẩy mạnh tuyên truyền, cổ động qua hệ thống báo chí cách mạng bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, qua đó mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng. Báo Dân chúng, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương ra số đầu tiên ngày 22-7-1938, “trung bình mỗi số in tới 6000 bản... số Xuân 1939 in tới 15.000 bản” (Viện Lịch sử Đảng, 2013, tr.591). Báo chí công khai vừa hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi các quyền lợi trước mắt, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng của Đảng; đồng thời, giữ vai trò trực tiếp trong tuyên truyền, vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương những năm 1938-1939. Bên cạnh hoạt động báo chí, Đảng còn xuất bản nhiều sách chính trị phổ thông, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và phổ biến chủ trương, chính sách mới. Tiêu biểu, tác phẩm Vấn đề dân cày của Qua Ninh (Trường Chinh) và Vân Đình (Võ Nguyên Giáp) đã tố cáo chính sách áp bức, bóc lột của đế quốc và phong kiến đối với nông dân, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của lực lượng này trong cách mạng Việt Nam. Tác phẩm Chủ nghĩa mácxít phổ thông của Hải Triều, xuất bản và phát hành (năm 1938). Cùng thời gian đó, nhiều cuốn sách giới thiệu về Liên Xô, cách mạng Trung Quốc, Mặt trận Nhân dân Pháp và Mặt trận Nhân dân Tây Ban Nha cũng được phổ biến rộng rãi.
Về xây dựng Đảng, hệ thống tổ chức được khôi phục từ Trung ương tới cơ sở; các Xứ ủy Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ được lập lại. Đến tháng 4-1938, toàn Đảng có “1.597 đảng viên (bí mật) và hơn 200 đảng viên công khai lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.374). Đảng giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; mọi tổ chức công khai hay bí mật đều phục tùng cơ quan chỉ huy của Đảng. Nhờ đó, một đội quân chính trị hàng triệu người được tập hợp, giác ngộ; trận địa cách mạng mở rộng từ nông thôn đến thành thị, từ bí mật ra công khai. Đảng kịp thời chấn chỉnh biểu hiện “tả” khuynh, hữu khuynh trong nhận thức và thực hiện chính sách mặt trận của một số cán bộ, đảng viên. Tác phẩm Tự chỉ trích (7-1939) của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã phân tích thẳng thắn những hạn chế của cuộc vận động dân chủ; khẳng định việc mở rộng Mặt trận phải gắn với giữ vững tính độc lập về chính trị và tổ chức của Đảng; đồng thời, phê phán khuynh hướng cô độc, hẹp hòi và thỏa hiệp vô nguyên tắc. Qua đó, Đảng đã thể hiện rõ bản lĩnh kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược
2.3. Một số kinh nghiệm
Một là, kiên định mục tiêu chiến lược, xác định đúng nhiệm vụ trước mắt phù hợp với so sánh lực lượng và trình độ của phong trào trong từng thời kỳ
Kinh nghiệm này bắt nguồn từ yêu cầu có tính nguyên tắc của cách mạng vô sản, mọi mục tiêu cụ thể đều phải đặt trong quan hệ với mục tiêu cơ bản, lâu dài, đồng thời bắt nguồn từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng. Những năm 1930-1935, việc chưa giải quyết thỏa đáng quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và cách mạng ruộng đất đã hạn chế khả năng tập hợp lực lượng. Trong những năm 1936-1939, Đảng đã phân định rành mạch giữa cái bất biến và cái khả biến, nhưng mục tiêu chiến lược không thay đổi, dù sách lược đấu tranh có điều chỉnh linh hoạt, Đảng vẫn kiên định không từ bỏ mục tiêu chiến lược là: đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, người cày có ruộng, tiến lên CNXH. Đây chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là bản chất cách mạng triệt để của Đảng, không bị hòa tan hay đánh mất trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trước mắt; nhiệm vụ trước mắt được xác định căn cứ vào tình hình thế giới, so sánh lực lượng và trình độ giác ngộ của quần chúng. Kiên định mục tiêu chiến lược là cơ sở để Đảng vận dụng sách lược linh hoạt, mà không rơi vào hữu khuynh; xác định đúng nhiệm vụ trước mắt giúp khắc phục khuynh hướng “tả” khuynh, cô độc, hẹp hòi trong lãnh đạo phong trào. Kinh nghiệm này giữ nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIV (2026) của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.81); sự kiên định về mục tiêu chiến lược gắn liền với xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá của từng giai đoạn phát triển đất nước.
Hai là, dựa vào dân, nắm vững nguyện vọng cấp thiết của nhân dân, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi để thực hiện nhiệm vụ trước mắt, chuẩn bị lực lượng cho mục tiêu chiến lược
Điểm xuất phát của chủ trương chuyển hướng đấu tranh năm 1936 là sự nhận định đúng yêu cầu cấp thiết của quần chúng về tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đảng đã nắm lấy những yêu cầu ấy để đề ra mục tiêu, khẩu hiệu đấu tranh, biến nguyện vọng hằng ngày của hàng triệu quần chúng thành động lực cách mạng; đồng thời, sáng tạo các hình thức mặt trận, hội quần chúng phù hợp để tập hợp mọi lực lượng tán thành dân chủ, hòa bình. So với thời kỳ 1930-1931 và 1932-1935, bước phát triển của Mặt trận dân tộc thống nhất trong những năm 1936-1939 thể hiện ở việc tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, mở rộng lực lượng. Thắng lợi trong đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin và trình độ tổ chức của quần chúng; nhiệm vụ trước mắt trở thành cơ sở đưa phong trào tiến dần tới mục tiêu chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.453). Kinh nghiệm này được Đảng kế thừa trong điều kiện mới. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.375); và kêu gọi “phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.390). Mọi chủ trương, chính sách xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân chính là củng cố nền tảng chính trị - xã hội cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Ba là, phân hóa và cô lập kẻ thù nguy hiểm nhất, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù trước mắt
Việc xác định kẻ thù trước mắt là phản động thuộc địa và tay sai, chứ không phải chủ nghĩa đế quốc Pháp nói chung, thể hiện sự điều chỉnh trọng tâm đấu tranh trong khi vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược chống đế quốc. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới đã khái quát nguyên tắc xác định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất để tập trung lực lượng đấu tranh của cả dân tộc. Sự phân biệt đó tạo điều kiện để Đảng tranh thủ sự ủng hộ của Mặt trận Nhân dân Pháp và các lực lượng dân chủ ở chính quốc, góp phần cô lập thế lực phản động ở thuộc địa và mở rộng tối đa lực lượng có thể tập hợp. Trong điều kiện hiện nay, kinh nghiệm này gợi mở phương pháp xác định rõ đối tác và đối tượng trên từng lĩnh vực, thấy được trong đối tượng có mặt cần tranh thủ hợp tác, trong đối tác có mặt phải cảnh giác đấu tranh, tránh nhận thức mơ hồ, ảo tưởng lẫn khuynh hướng cứng nhắc, bỏ lỡ cơ hội tranh thủ các nhân tố tích cực phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại… Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.117). Quan điểm này đặt ra yêu cầu nhận diện cụ thể đối tác, đối tượng trên từng lĩnh vực, kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh, tranh thủ các nhân tố tích cực, nhưng không mơ hồ, mất cảnh giác.
Bốn là, kết hợp và sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh, song không xa rời nguyên tắc chiến lược
Phương pháp cách mạng là một yếu tố quyết định thành bại của cách mạng, nếu chỉ có mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược đúng đắn thôi chưa đủ, mà còn cần phải có phương pháp tiến hành phù hợp mới bảo đảm cách mạng thành công. Trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể, phương pháp cách mạng phải thay đổi cho phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra và phải khai thác được sức mạnh, nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Những năm 1936-1939, Đảng kết hợp chặt chẽ tổ chức bí mật với tổ chức công khai, kết hợp hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp với hoạt động bất hợp pháp, sử dụng đồng thời đấu tranh của quần chúng, đấu tranh nghị trường, đấu tranh báo chí. Sự phong phú về hình thức đấu tranh đã phát huy tác dụng trên cơ sở nguyên tắc: hệ thống tổ chức bí mật của Đảng được giữ vững làm hạt nhân lãnh đạo; mọi tổ chức, mọi hình thức hoạt động đều phục tùng cơ quan chỉ huy của Đảng. Khi phong trào bộc lộ lệch lạc, Đảng kịp thời tự phê bình, uốn nắn, trong đó tác phẩm Tự chỉ trích của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là mẫu mực.
Giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu đổi mới linh hoạt, sáng tạo phương thức lãnh đạo và phương pháp tổ chức thực hiện trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thế giới, trong nước và khả năng thực tế của đất nước nhằm “giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.84). Đại hội XIV xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới…; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc” của các cơ quan lãnh đạo, tham mưu của Đảng từ Trung ương đến cơ sở (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.142,143). Đồng thời, đặt ra yêu cầu: “Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật đảng. Đổi mới mẽ tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.139). Những quan điểm đó thể hiện sự thống nhất giữa đổi mới phương thức lãnh đạo với giữ vững nguyên tắc tổ chức, kỷ luật và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng; qua đó bảo đảm sự linh hoạt về phương pháp không dẫn đến xa rời mục tiêu và nguyên tắc chiến lược.
3. Kết luận
Trong những năm 1936-1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng. Về nhận thức, Đảng kiên định mục tiêu chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền kiểu mới đã được xác định từ năm 1930; đồng thời, xác định đúng nhiệm vụ trước mắt là chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10-1936) đánh dấu bước phát triển của tư duy chiến lược khi đặt lại một cách khoa học mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và cách mạng ruộng đất. Về chỉ đạo thực tiễn, Đảng tổ chức các hình thức đấu tranh phong phú, từ cuộc vận động Đông Dương Đại hội, đấu tranh nghị trường, báo chí công khai đến phong trào đòi dân sinh, dân chủ rộng khắp, theo nguyên tắc mỗi thắng lợi của nhiệm vụ trước mắt đều là bước tích lũy lực lượng cho mục tiêu chiến lược. Nhờ đó, một đội quân chính trị hàng triệu người được tập hợp, giác ngộ; hệ thống tổ chức đảng được khôi phục, phát triển; trận địa cách mạng được mở rộng, chuẩn bị trực tiếp cho quá trình thay đổi chiến lược những năm 1939-1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thực tiễn đó để lại những kinh nghiệm quý về chỉ đạo chiến lược: kiên định mục tiêu chiến lược gắn với xác định đúng nhiệm vụ trước mắt; dựa chắc vào dân, tập hợp lực lượng trong Mặt trận Dân tộc thống nhất; phân hóa, cô lập kẻ thù nguy hiểm nhất; linh hoạt về hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh trên cơ sở giữ vững nguyên tắc chiến lược. Sau 90 năm nhìn lại (1936- 2026), những kinh nghiệm ấy vẫn giữ nguyên giá trị tham khảo đối với việc xác định và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 2. (1930). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 6 (1936 -1939). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập II. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập: Tập 13. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Viện Lịch sử Đảng. (2013). Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam: Tập 2: Đảng lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền và thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1930-1945). Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật.