Tóm tắt: Trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam, kinh tế tư nhân đã trải qua những giai đoạn phát triển thăng trầm. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi mang tính bước ngoặt. Từ chỗ dè dặt thừa nhận sự tồn tại khách quan nhằm giải quyết các rào cản, định kiến tiến tới xác định là “bộ phận cấu thành quan trọng”, “một động lực quan trọng”. Đặc biệt, bước đột phá chiến lược được xác lập tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 và Đại hội XIV (2026) của Đảng, khi Đảng chính thức định vị kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”.
Từ khóa: Quan điểm của Đảng; kinh tế tư nhân; tư duy lý luận; (1986-2026)

Ngày nhận bài: 22-2 -2026; Ngày thẩm định đánh giá: 30-8-2026; Ngày duyệt đăng: 21-9-2026

THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM’S PERSPECTIVE ON THE POSITION AND ROLE OF THE PRIVATE ECONOMY IN THE NATIONAL ECONOMY (1986-2026)

Abstract: In the Progress of Vietnam's socio-economic development, the private sector has experienced fluctuations intrinsically linked to various economic management mechanisms. However, since the inception of the innovation process in 1986, the Communist Party of Vietnam's perspectives and guidelines regarding the development of the private economy have undergone a watershed transformation. Transitioning from a cautious acknowledgement of its objective existence to alleviate pressing economic bottlenecks, the Party has progressively dismantled historical prejudices, advancing to designate the sector as an 'important constituent part' and “an important driving force”. Notably, a strategic breakthrough was cemented when the of Vietnam officially positioned the private sector as “the most important driving force of the economy” in Resolution 68-NQ/TW (4-5-2025) and at the 14th National Congress.
Keywords: The perspective of the Communist Party of Vietnam; private sector economy, theoretical thinking, (1986-2026).

1. Đặt vấn đề
Trong hệ thống lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, kinh tế tư nhân (KTTN) đã trải qua một quá trình chuyển đổi về vị thế và vai trò. Từ chỗ bị phủ định, KTTN đã dần khẳng định vai trò là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc khơi thông và phát huy tối đa nội lực từ khu vực tư nhân không chỉ là yêu cầu cấp thiết về kinh tế, mà còn là vấn đề mang tính chiến lược. Bài viết tập trung làm rõ quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN từ năm 1986 đến nay; những bước đột phá mang tính cách mạng trong quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW và Đại hội XIV của Đảng. Quá trình chuyển đổi tư duy này không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng trong việc vượt qua những rào cản lý luận và định kiến cũ, mà còn cho thấy khả năng bám sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm và không ngừng hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Qua đó, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển KTTN trở thành xung lực đột phá trong kỷ nguyên mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng chủ yếu các phương pháp chuyên ngành như: phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp và phương pháp tổng kết thực tiễn. Trong đó chủ đạo là phương pháp lịch sử và logic nhằm hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIV (2026); đồng thời, làm rõ tính tất yếu trong sự vận động tư duy của Đảng từ nhận thức bước đầu trong việc phát triển KTTN để huy động vốn, giải quyết việc làm đến việc xác lập tầm nhìn chiến lược, định vị KTTN là chủ thể then chốt, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và cạnh tranh toàn cầu. Phương pháp phân tích và tổng hợp giúp bài viết làm rõ được các luận điểm khoa học nhằm đánh giá sự thay đổi trong tư duy thể chế, từ “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo”, khẳng định vị trí quan trọng của KTTN trong nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bài viết chứng minh rằng: mọi sự điều chỉnh, xác định vai trò của KTTN trong nhận thức của Đảng đều xuất phát từ việc lấy hiệu quả kinh tế và sự thịnh vượng quốc gia làm thước đo căn bản.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kinh tế tư nhân được thừa nhận và định hướng phát triển (1986-1996)
Đại hội VI của Đảng là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự thay đổi căn bản trong tư duy kinh tế. Đây là lần đầu tiên Đảng chính thức thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm cả kinh tế tư nhân khi khẳng định sự cần thiết phải “sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.60), quan trọng hơn là “xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.63). Hoạt động của “kinh tế tư bản tư nhân phải phải được hướng dẫn đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội bằng nhiều hình thức của kinh tế tư bản nhà nước, thông qua sự kiểm soát của Nhà nước và sự liên kết với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.62). Những quan điểm này của Đại hội VI của Đảng chủ yếu tập trung nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội của đất nước như tạo việc làm và huy động vốn trong dân. Mặc dù vậy, chủ trương “mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.57) có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của KTTN, mở đường cho những bước đột phá mạnh hơn sau này. 
Để cụ thể hóa đường lối đổi mới được xác lập tại Đại hội VI, Bộ Chính trị khóa VI ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5-4-1988 “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” và  Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15-7-1988 “Về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh”. Các nghị quyết này đánh dấu bước chuyển quan trọng về nhận thức, tư duy lý luận của Đảng trong việc xác lập hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và thừa nhận sự cần thiết của việc phát triển KTTN trong nền kinh tế quốc dân. Việc ban hành và triển khai những nghị quyết này đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt trong nông nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ; góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách về lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng, từng bước ổn định đời sống nhân dân. Sự phát triển trong nhận thức và tư duy của Đảng có ý nghĩa mở đường cho sự phát triển của kinh tế tư nhân trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
 Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước,… hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.396).
Hiến pháp năm 1992, Điều 21 xác định: “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh” (Quốc hội,  1992). Việc ghi nhận sự tồn tại và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân là một bước tiến pháp lý quan trọng, mang lại sự yên tâm và tin tưởng cho các nhà đầu tư tư nhân.
Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội VIII (1996) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.646). Đây là một bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, chuyển từ việc chỉ thừa nhận sự tồn tại sang việc tạo môi trường thuận lợi để KTTN có thể phát triển bền vững và đóng góp lớn hơn vào nền kinh tế.

3.2. Khẳng định vị trí quan trọng và vai trò động lực to lớn của kinh tế tư nhân (2001 - 2011)
Đại hội IX (2001) đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế quốc dân. Lần đầu tiên, Đảng khẳng định các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là “bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.871). Quan điểm này thể hiện bước chuyển từ tư duy coi kinh tế tư nhân chỉ là khu vực bổ trợ sang thừa nhận đây là một thành tố quan trọng của nền kinh tế. Trong đó: “kinh tế cá thể tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.871) trong nền kinh tế quốc dân. Đảng chủ trương “khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.921). Sự chuyển biến trong quan điểm của Đảng, từ việc bước đầu thừa nhận sự tồn tại của KTTN đến xác định khu vực này là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và giữ vị trí quan trọng lâu dài trong quá trình phát triển đất nước, phản ánh bước phát triển rõ nét trong nhận thức lý luận về vai trò của KTTN. Nếu như trước đây KTTN chủ yếu được nhìn nhận như một thành phần kinh tế có khả năng đóng góp bổ sung cho tăng trưởng, thì ở giai đoạn này, khu vực KTTN được xác định là một thành tố tất yếu, gắn bó hữu cơ với cấu trúc và sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18-3-2002 “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên, Đảng ban hành một nghị quyết riêng và chuyên sâu về KTTN, thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tầm quan trọng của KTTN. Nghị quyết không chỉ xác định phát triển KTTN là “bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân” (Ban Chấp hành Trung ương,18-3-2002), mà còn khẳng định đây là “vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” (Ban Chấp hành Trung ương,18-3-2002). Nghị quyết nêu rõ quan điểm: “bảo hộ sự phát triển, tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển” (Ban Chấp hành Trung ương,18-3-2002), cho thấy Đảng nhận thức sâu sắc về vai trò của KTTN, xóa bỏ rào cản tâm lý, định kiến trước đây và cam kết tạo điều kiện cho KTTN phát triển. Đây là yếu tố then chốt để giải phóng tiềm năng thực sự khuyến khích KTTN phát triển.
Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục xác định vị trí và định hướng phát triển các thành phần kinh tế chủ yếu. Trong đó, KTTN được xác định là “một trong những động lực của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.83), được coi là “một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  2006,tr.180).  Đại hội chủ trương: “Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử; bảo đảm thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh được tiếp cận các nguồn vốn… được đáp ứng thuận lợi nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.237). Đặc biệt, Đại hội X đã đưa ra một quyết định mang tính đột phá khi cho phép đảng viên làm KTTN. Chủ trương này không chỉ hợp thức hóa đảng viên được tham gia phát triển KTTN, mà còn tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho sự phát triển của KTTN. Từ đó có thể thu hút những người có năng lực, có kinh nghiệm quản lý từ khu vực nhà nước tham gia vào phát triển KTTN, nâng cao chất lượng và hiệu quả của KTTN.
Sự duy trì vị trí, vai trò của KTTN tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI (2011) với quan điểm: “Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật… Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.209). Như vậy, qua 2 kỳ Đại hội (X và XI), KTTN được xác định là “một trong những động lực của nền kinh tế”, đã cho thấy sự ổn định trong nhận thức của Đảng, Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích, tạo niềm tin cho KTTN phát triển. Qua đó, nhiều nhà đầu tư đã tăng nguồn vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.

3.3. Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng và quan trọng nhất của nền kinh tế (2016-2026)

Từ quan điểm KTTN là “một trong những động lực của nền kinh tế”, Đại hội XII (2016) của Đảng đã khẳng định dứt khoát rằng KTTN là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đây là sự thay đổi về chất trong nhận thức của Đảng, đã nhìn nhận vai trò tích cực và tiềm năng to lớn chưa được giải phóng của KTTN; KTTN không chỉ là một trong nhiều động lực ngang hàng, mà là một động lực có vai trò riêng biệt, có ý nghĩa quan trọng, khẳng định vị thế độc lập và không thể thiếu của KTTN. KTTN được tạo thuận lợi phát triển ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế và “khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, Phần II, tr.659).
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết nêu rõ: “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng… Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp” (Ban Chấp hành Trung ương, 3-6-2017). Việc đặt ra các mục tiêu định lượng cụ thể cho thấy sự chuyển dịch từ định hướng chính sách sang cam kết hành động và đo lường hiệu quả, thể hiện quyết tâm cao của Đảng. Các mục tiêu này tạo áp lực và động lực cho các cấp chính quyền phải cụ thể hóa chính sách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để đạt được các mục tiêu đề ra.
Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế… hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.240); khuyến khích “hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.240). Nghị quyết nhấn mạnh chủ trương “đổi mới sáng tạo”, “hiện đại hóa công nghệ”, “nâng cao năng suất” và “khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế” đã cho thấy Đảng nâng tầm của KTTN, từ vai trò đơn thuần tạo việc làm và huy động vốn sang vai trò dẫn dắt nâng cao chất lượng tăng trưởng và hội nhập quốc tế, trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững dựa trên tri thức và công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.

Vai trò của KTTN được khẳng định mạnh mẽ nhất là trong Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị “về phát triển kinh tế tư nhân”. Nghị quyết khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 4-5-2025). Đồng thời, Nghị quyết nêu quan điểm: “Xóa bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam; đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước,… doanh nhân là người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế” (Bộ Chính trị, 4-5-2025). Những quan điểm này cho thấy sự quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng một môi trường xã hội tôn vinh và khuyến khích KTTN phát triển hơn nữa. Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đề xuất nhóm giải pháp riêng biệt tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực quan trọng về đất đai, vốn và nhân lực chất lượng cao; hướng tới việc tăng cường kết nối và phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp, từ đó tạo nên một hệ sinh thái kinh doanh bền vững và toàn diện.
Tính đến giữa năm 2025, KTTN đóng góp “khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm” (Bộ Chính trị, 4-5-2025), điều đó khẳng định vị thế là động lực quan trọng của KTTN trong nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, để KTTN thực sự bứt phá, cần xóa bỏ mọi rào cản về cơ chế, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và minh bạch. Chỉ khi các tập đoàn tư nhân lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế và các doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp sức mạnh mẽ mới có thể hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển vào năm 2045.
Hơn nữa, “một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” không thể được tạo lập nếu thiếu động lực tăng trưởng, thiếu việc làm, thiếu nguồn lực cho giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội” (Nguyễn Sĩ Dũng,16-5-2025). Do đó, KTTN nếu được khơi thông và bảo vệ sẽ là nguồn lực to lớn để xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, Đại hội XIV (2026) của Đảng tiếp tục khẳng định KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Sự khẳng định này không chỉ là sự kế thừa các nghị quyết trước đây, mà là kết quả tất yếu của quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, minh chứng cho sự chuyển dịch mang tính chiến lược của KTTN từ vai trò “bổ trợ” sang vai trò “then chốt”, gánh vác các nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Trọng tâm của định hướng này là chủ trương “chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam lớn, mạnh, ngang tầm khu vực và thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.I, tr.96). Đây được xem là giải pháp then chốt nhằm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng nội sinh hóa các công nghệ cốt lõi và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong kỷ nguyên số. Với năng lực quản trị hiện đại và tiềm lực tài chính dồi dào, các tập đoàn lớn được kỳ vọng sẽ đóng vai trò “đầu tàu”, dẫn dắt các ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, năng lượng tái tạo và hạ tầng giao thông chiến lược. Để giải phóng tối đa năng lực sản xuất này, Nhà nước cam kết triển khai các cơ chế đặc thù như thí điểm chính sách, chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm trong đổi mới sáng tạo. Hệ thống hành lang pháp lý hướng tới việc kiến tạo một môi trường kinh doanh minh bạch, sòng phẳng, nơi các tập đoàn kinh tế tư nhân đóng vai trò là “quả đấm thép” thúc đẩy dân tộc vươn mình bứt phá.
Sức mạnh của nền kinh tế không chỉ dựa vào những “con sếu đầu đàn”, mà còn nằm ở sự ổn định của hệ sinh thái tổng thể trong nền kinh tế quốc dân. Đại hội XIV chủ trương: “Hỗ trợ tích cực và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.96). Sự kết hợp chặt chẽ giữa các tập đoàn lớn và cộng đồng doanh nghiệp nhỏ sẽ tạo nên một cấu trúc kinh tế bền vững, vừa bảo đảm tính tự chủ, vừa nâng cao chỉ số phát triển con người, đưa nền kinh tế phát triển toàn diện. Hơn nữa, việc tạo môi trường thuận lợi để cộng đồng doanh nghiệp, từ các tập đoàn đầu tàu đến kinh tế tập thể và các hộ sản xuất kinh doanh tiếp cận bình đẳng các nguồn lực về đất đai, vốn và dữ liệu bảo đảm tính bao trùm của sự phát triển, trong đó KTTN là xung lực mạnh mẽ để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Như vậy, hành trình từ việc “xóa bỏ định kiến” đến “động lực quan trọng” và là “động lực quan trọng nhất”, phản ánh một quá trình nhận thức sâu sắc của Đảng về KTTN, điều mà hiệu quả kinh tế và sự thịnh vượng quốc gia ngày càng được ưu tiên. Sự thay đổi này là một sự thay đổi về chất trong tư duy lãnh đạo của Đảng, đặt KTTN vào vị trí trọng yếu của chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
3.3. Một vài nhận định, đánh giá
Quá trình phát triển nhận thức về kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến nay là một minh chứng rõ nét cho sự đổi mới tư duy, bám sát thực tiễn và không ngừng hoàn thiện đường lối kinh tế của Đảng
Sự phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN là một quá trình thận trọng. Từ “thừa nhận sự tồn tại” (Đại hội VI), đến công nhận “vị trí quan trọng lâu dài” (Đại hội IX), sau đó nâng tầm thành “một trong những động lực” (Đại hội X), củng cố vai trò là “một động lực quan trọng” (Đại hội XII và XIII) và “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân” (Nghị quyết số 68-NQ/TW và Đại hội XIV). Sự tiến triển này phản ánh sự công nhận sâu sắc hơn, niềm tin ngày càng tăng vào KTTN; đồng thời, cho thấy một cách tiếp cận thận trọng, nhưng kiên quyết của Đảng, nơi các chủ trương được thực hiện và điều chỉnh dựa trên các kết quả thực tiễn. Khi KTTN chứng minh được hiệu quả trong việc tạo việc làm, huy động vốn, đóng góp vào GDP và thích ứng với cơ chế thị trường, Đảng đã dần dần gạt bỏ những định kiến cũ và nâng cao vai trò của KTTN. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy lý luận sang tư duy thực tiễn, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Sự phát triển trong nhận thức của Đảng cho thấy khả năng thích nghi, đổi mới tư duy của Đảng trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Mỗi kỳ Đại hội và nghị quyết của Đảng đều kế thừa và bổ sung, phát triển quan điểm của kỳ trước, phù hợp với tình hình mới và yêu cầu của thực tiễn
Quá trình nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN là sự phát triển liên tục, từ thừa nhận sự tồn tại của KTTN (Đại hội VI) đến thể chế hóa và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của KTTN (Hiến pháp 1992), tiếp theo là các nghị quyết chuyên đề và nghị quyết Đại hội IX, XII và XIII, XIV cho thấy những quan điểm phát triển KTTN được kế thừa, bổ sung và phát triển liên tục. Đồng thời, các lĩnh vực xác định ưu tiên đầu tư phát triển được mở rộng, ban đầu chủ yếu tập trung thừa nhận những vấn đề cơ bản, cấp thiết như: tạo việc làm, quy mô nhỏ (cá thể, tiểu chủ), về sau khuyến khích phát triển không giới hạn quy mô, hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, hướng tới khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Vai trò của Nhà nước cũng đã thay đổi, từ chỉ đơn thuần “quản lý và hướng dẫn” (Đại hội VII) sang chủ động “tạo điều kiện thuận lợi” (Nghị quyết số 10-NQ/TW, 2017), đến vai trò chủ động và “kiến tạo” hơn trong Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Xu hướng bao trùm của quá trình nhận thức đó là sự tin tưởng, tạo điều kiện hội nhập ngày càng tăng của KTTN. Từ những rào cản tâm lý đối với KTTN (trước Đại hội X) đến trân trọng doanh nhân, cho phép đảng viên làm KTTN (Đại hội X) đến nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh, khẳng định vai trò của doanh nhân là những “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế” (Nghị quyết số 68 và Đại hội XIV).
Quá trình chuyển biến trong nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của nền kinh tế
Nhận thức của Đảng về phát triển KTTN giai đoạn 1986-2026 đã phản ánh quá trình không ngừng đổi mới tư duy của Đảng, luôn bám sát thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập quốc tế, từ bỏ những quan điểm cũ không còn phù hợp. Sự thay đổi này đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, huy động các nguồn lực xã hội to lớn từ khu vực tư nhân, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới.
Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển KTTN trong 40 năm (1986-2026) thể hiện rõ mục đích về việc thiết lập lại một cách cơ bản mối quan hệ giữa Nhà nước và khu vực KTTN, bằng cách bảo đảm các biện pháp bảo vệ pháp lý, đối xử công bằng giữa các thành phần kinh tế. Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc giải phóng năng lực sản xuất kinh doanh của đội ngũ doanh nhân, khơi thông các nguồn lực xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Đó là cơ sở vững chắc để KTTN phát huy vai trò là động lực tăng trưởng cốt lõi, là trụ cột tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội cho Việt Nam. Với việc được xác định là “động lực quan trọng nhất”, KTTN ngày càng xác định rõ hơn về sứ mệnh của mình, đóng vai trò là “lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia” (Tô Lâm, 2-4-2025).

4. Kết luận
Trải qua 40 năm (1986-2026) đổi mới, quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế quốc dân đã phát triển vượt bậc, mang tính cách mạng. Từ chỗ dè dặt thừa nhận sự tồn tại khách quan của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần tại Đại hội VI, Đảng  liên tục hoàn thiện quan điểm mới về phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của KTTN qua từng kỳ Đại hội, coi KTTN là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân”. Sự thay đổi trong nhận thức này không chỉ là sự điều chỉnh về mặt lý luận mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, cho thấy khả năng bám sát thực tiễn và tính linh hoạt trong lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng. Quá trình này là minh chứng cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là quan điểm về phát triển KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự hoàn thiện tư duy của Đảng về phát triển KTTN đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân và giải quyết nhiều vấn đề xã hội của đất nước.

Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (3-6-2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-10-nqtw-ngay-362017-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-phat-trien-kinh-te-tu-560
Ban Chấp hành Trung ương. (18-3-2002). Nghị quyết số 14-NQ/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-ix/nghi-quyet-so-14-nqtw-ngay-1832002-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve-tiep-tuc-doi-moi-co-650
Bộ Chính trị. (4-5-2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia
Nguyễn Sĩ Dũng. (16-5-2025). Tổng Bí thư Tô Lâm và tư duy lý luận mới về kinh tế tư nhân. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-va-tu-duy-ly-luan-moi-ve-kinh-te-tu-nhan-119250513070534354.htm
Tô Lâm. (2-4-2025). Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-119250318000126845.htm
 Hiến pháp 1992. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1992-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-Viet-nam-38238.aspx.