Tóm tắt: Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (5-1941) đã tạo bước ngoặt quan trọng trong nhận thức về xây dựng Nhà nước Việt Nam, đặt nền tảng để tiến tới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945. Từ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều nhất quán theo định hướng nhà nước kiểu mới - của dân, do dân, vì dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhà nước phục vụ lợi ích nhân dân.
Từ khóa: Phát triển nhận thức; xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; Hội nghị Trung ương 8; Đại hội XIV

Ngày nhận bài: 21-5-2026; ngày thẩm định, đánh giá: 13-7-2026; ngày duyệt đăng: 20-7-2026

1. Đặt vấn đề
Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) là một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển tư duy lý luận và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc, đồng thời xác lập những quan điểm nền tảng về mô hình nhà nước mới ở Việt Nam sau khi giành được độc lập. Từ đây, tư tưởng xây dựng một nhà nước dân chủ kiểu mới - nhà nước của dân, do dân và vì dân - từng bước được hình thành, phát triển và hiện thực hóa trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây là bước phát triển sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời thể hiện tư duy chính trị vượt thời đại về quyền làm chủ của nhân dân và mô hình nhà nước dân chủ.
Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân được kế thừa và phát triển xuyên suốt trong các thời kỳ cách mạng. Những quan điểm được đặt nền móng từ HNTƯ 8 (5-1941) đã trở thành cơ sở lý luận quan trọng cho việc xây dựng thể chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đổi mới phương thức quản trị quốc gia ở Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng và Nhà nước đang tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, nghiên cứu những quan điểm của HNTƯ 8 (5-1941) về xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Việc làm rõ quá trình hình thành, phát triển và giá trị bền vững của tư tưởng này không chỉ góp phần khẳng định tầm vóc lịch sử của HNTƯ 8 (5-1941), mà còn cung cấp những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
 
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Trong quá trình nghiên cứu, bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện bối cảnh ra đời, nội dung cơ bản và quá trình phát triển của tư tưởng xây dựng nhà nước dân chủ từ HNTƯ 8 (5-1941) đến thực tiễn xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay. Phương pháp lịch sử được sử dụng để phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước và yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam đầu những năm 40 của thế kỷ XX; làm rõ quá trình Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập mô hình nhà nước dân chủ mới trong tiến trình lãnh đạo cách mạng. Phương pháp logic được vận dụng nhằm khái quát, hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân qua các giai đoạn lịch sử.
Ngoài ra, bài viết còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu tư liệu nhằm làm rõ sự kế thừa và phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước dân chủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các nguồn tư liệu sử dụng trong bài viết chủ yếu là các văn kiện của Đảng, các tác phẩm của Hồ Chí Minh cùng những công trình nghiên cứu có liên quan đến HNTƯ 8 (5-1941) và lịch sử xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện đại. Qua đó, bài viết góp phần luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại của tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân được hình thành từ HNTƯ 8 (5-1941).
 
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Quan điểm xây dựng Nhà nước dân chủ tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941)
Cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến tác động trực tiếp đến Việt Nam. Tháng 9-1940, Nhật xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp đã nhanh chóng “quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.2). Từ đây, nhân dân Việt Nam phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của Pháp - Nhật. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc, phát xít Nhật - Pháp trở nên gay gắt hơn bao giờ hết; vấn đề giải phóng dân tộc trở thành nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của cách mạng Việt Nam.
Sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, chuẩn bị cho công cuộc giải phóng dân tộc. HNTƯ 8 diễn ra từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại Khuổi Nặm - Pác Bó thuộc châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng), do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Hội nghị nhận định: “Pháp-Nhật ngày nay không chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp-Nhật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.112).
Từ nhận định trên Hội nghị nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.113). Hội nghị khẳng định chủ quyền của mỗi dân tộc phải được hoàn toàn tôn trọng, sự tự do của mỗi dân tộc giải quyết trên tinh thần dân tộc tự quyết; tôn trọng việc lựa chọn hình thức nhà nước của mỗi dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương. Đối với Việt Nam,sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.14).
Hội nghị chỉ rõ: “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.150)“chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.150). Đó là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử của xã hội Việt Nam, là sự phát triển tư duy sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng và nhà nước; đồng thời, là bước phát triển mới về hình thức nhà nước so với những quan điểm xây dựng “Chính phủ công, nông binh”, “chính quyền Xôviết công-nông” được đề cập trong các Văn kiện đầu tiên của Đảng năm 1930.
Sau khi Mặt trận Việt Minh được thành lập, Tổng bộ Việt Minh đã cụ thể hóa chủ trương của Mặt trận Việt Minh thành Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ để phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm là một hệ thống các chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, ngoại giao và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân, “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước:
1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập;
2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. (...) Chỉ có chương trình cứu nước của Việt Minh mới làm cho nước Việt Nam sau này thành một nước tân dân chủ, mạnh mẽ, văn minh và tiến bộ. Chỉ có chương trình cứu nước của Việt Minh mới mang lại độc lập, tự do, cơm áo cho nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000 tr.470). Chương trình cứu nước của Việt Minh được đúc kết thành 10 chính sách lớn và được thực hiện ở Khu giải phóng Việt Bắc.
Theo chủ trương đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào (ngày 16,17-8-1945) quyết định những vấn đề quan trọng: nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng; cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng như một hình thức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới; thông qua 10 chính sách của Việt Minh. Chương trình 10 điểm này cô đọng, ngắn gọn, trong đó thể hiện rõ những nội dung cơ bản của chính sách đối nội, đối ngoại và thể chế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định quyền tự do dân chủ của nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào không chỉ là cơ sở cho sự ra đời một chế độ mới của dân, do dân, vì dân, mà còn là tiền đề để cả nước tiến tới một cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ngay sau khi đất nước giành được độc lập.
 Như vậy, với tầm nhìn chiến lược, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định dứt khoát chính thể của Nhà nước Việt Nam là Cộng hòa Dân chủ từ năm 1941 từng bước hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Những quan điểm chiến lược trên, là nền tảng để tiến tới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945.
3.2. Kế thừa quan điểm về xây dựng nhà nước của Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) vào việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử của dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do và phát triển đất nước theo con đường XHCN. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tuyên bố trước thế giới về chủ quyền độc lập của dân tộc và quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hàng đầu được đặt ra cho Chính phủ là phải tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, để từ đó cử ra Chính phủ của toàn dân và ban hành bản Hiến pháp dân chủ. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.7). Người chỉ rõ: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài có đức để gánh vác công việc nước nhà. (...) Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân(Hồ Chí Minh, 2011c, tr.153)với “Một Quốc hội được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu đã đảm bảo cho đất nước có một Hiến pháp dân chủ”(Hồ Chí Minh, 2011c, tr.521).
Cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra ngày 6-1-1946 trên phạm vi cả nước. Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tiếp đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, xã - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương được nhân dân bầu chọn, bộ máy nhà nước được thiết lập đồng bộ, thống nhất, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở (cấp xã).
Ngày 9-11-1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Hiến pháp năm 1946. Nhà nước của dân, do dân, vì dân được xây dựng và củng cố trên thực tế và cơ sở pháp lý là Hiến pháp năm 1946, đặt nền tảng cho việc quản lý nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật.
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bầu ra là những cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Việc thành lập bộ máy quyền lực nhà nước thông qua bầu cử dân chủ không chỉ thể hiện bản chất của Nhà nước dân chủ nhân dân mà còn bảo đảm tính chính danh của một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Tính chính danh đó được xác lập trên cơ sở quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được nhân dân trao quyền thông qua lá phiếu bầu cử; đồng thời được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống pháp luật quy định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước.
Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước khẩn trương thực hiện thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung trong cả nước năm 1976 và sự ra đời của Quốc hội thống nhất đã hoàn thành quá trình thống nhất về mặt nhà nước, thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về một nhà nước thống nhất, hợp hiến và hợp pháp, là “sự biểu thị hùng hồn ý chí của toàn dân ta đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004, tr.501-502). Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI, Quốc hội chung của cả nước, quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự hoàn tất quá trình thống nhất quốc gia cả về lãnh thổ và tổ chức nhà nước.
Quốc hội khóa VI đã quyết định thành lập bộ máy nhà nước thống nhất trên phạm vi cả nước. Năm 1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới (Hiến pháp 1980) đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về mặt thể chế, xác lập mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, tập trung vào các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương. Trong giai đoạn này, bộ máy nhà nước được tổ chức theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung; vai trò lãnh đạo của Đảng được thể chế hóa rõ hơn trong Hiến pháp. Tuy nhiên, trước những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, mô hình quản lý nhà nước bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải đổi mới cả về tư duy và tổ chức bộ máy.
Tháng 12-1986, Đại hội VI của Đảng mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước. Đảng chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước, từng bước đổi mới cơ chế quản lý từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Quá trình đổi mới đó được thể chế hóa bằng việc ban hành Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 kế thừa những thành quả của Hiến pháp năm 1980, đồng thời bổ sung những nội dung phù hợp với yêu cầu đổi mới, khẳng định Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một bước tiến quan trọng về nhận thức lý luận trong giai đoạn này là Đảng đã chính thức nêu chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (11-1991) lần đầu tiên khái niệm Nhà nước pháp quyền được nêu ra. Quan điểm này sau đó tiếp tục được thể hiện trong các văn kiện của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994) khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa các giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng lãnh đạo”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.224). Hội nghị đã nêu cụ thể và toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền, bao gồm cả tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Đến đây, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thể hiện một cách rõ nét và toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền trở thành một chủ trương có tính chiến lược, định hướng cho toàn bộ quá trình xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đến HNTƯ 8 khóa VII (1-1995), Đảng tiếp tục chủ trương xây dựng và hoàn thiện nhà nước, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính. Nghị quyết nêu 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước:
“- Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1995, tr.23-25).
Đại hội VIII (1996) của Đảng khẳng định và làm rõ thêm những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước đã được đề ra ở HNTƯ 8 khoá VII. Đại hội nhấn mạnh các nhiệm vụ: Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Về cải cách nền hành chính nhà nước, cần cải cách về thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và về đội ngũ cán bộ, công chức hành chính. Cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng.
Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (6-1997) ra Nghị quyết “về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Nghị quyết nhấn mạnh: tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước... Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; cán bộ, công chức nhà nước thật sự là công bộc, tận tụy phục vụ nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước…
Ba yêu cầu trên quan hệ chặt chẽ với nhau, dựa trên nền tảng chung là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.311).
Đại hội IX (2001) của Đảng khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.131-132).
Đại hội X (2006) của Đảng chủ trương: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.126).
Tại Đại hội XI (2011) của Đảng, trong Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” là 1 trong 8 phương hướng cơ bản để thực hiện thành công mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN. Cương lĩnh chỉ rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân. Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.246-247).
 Đại hội XII (2016) và Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục xác định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, coi đó “là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.174-175).
Đại hội XIV (2026) của Đảng một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.126).
Sau 40 năm đổi mới, cùng với đổi mới hệ thống chính trị, Nhà nước Việt Nam tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong đó nhân dân là chủ thể quyền lực cao nhất. Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua bầu cử dân chủ. Nhân dân bầu ra Quốc hội, Hội đồng nhân dân, giám sát chính quyền. Nhà nước ban hành chính sách an sinh, cải cách hành chính phục vụ người dân, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh làm trọng tâm. Hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung; chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội. Nền hành chính từng bước được cải cách để phục vụ nhân dân được tốt hơn. Cùng với thay đổi đó, việc xây dựng chính phủ, chính quyền điện tử và chuyển đổi số… có bước phát triển mạnh mẽ, phục vụ tốt hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Đó là những minh chứng sống động về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tuy nhiên, bộ máy nhà nước vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: việc phân cấp, phân quyền giữa các cấp vẫn chưa triệt để, còn tình trạng chồng chéo chức năng; hệ thống chính sách, pháp luật vẫn chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển thực tiễn; không ít cán bộ, công chức về đạo đức, phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn yếu; tình trạng lãng phí, quan liêu, đặc biệt nạn tham nhũng trong bộ máy Nhà nước vẫn còn là một nguy cơ lớn, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Đặc biệt sau khi tinh gọn mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc vận hành bộ máy nhà nước, còn bộc lộ một số điểm nghẽn. Quá trình đổi mới và sắp xếp bộ máy được Đảng và Nhà nước luôn chú trọng thực hiện nhằm khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, hướng tới một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả hơn.
 
4. Kết luận
Từ mô hình xây dựng Nhà nước dân chủ được xác lập tại HNTƯ 8 (5-1941), sau hơn 80 xây dựng và hoàn thiện, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng lãnh đạo cải cách thể chế, đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước một cách đồng bộ, bao gồm cả cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm trên thực tế Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đây là quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc, giữ vững định hướng XHCN, bản chất giai cấp công nhân trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh, trong sạch, có đạo đức và năng lực là nhiệm vụ then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Từ tư tưởng xây dựng Nhà nước dân chủ đến Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rồi Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mô hình tổ chức, bộ máy, phương thức hoạt động, vận hành chính quyền nhà nước không ngừng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, bảo đảm sứ mệnh nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tổ chức nhà nước luôn bảo đảm nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, cơ chế vận hành có sự thay đổi mang tính chất cách mạng, chuyển từ tư duy nặng về quản lý sang tư duy quản trị, kiến tạo, thúc đẩy phát triển, tăng cường hiệu quả, hiệu lực, hiệu năng. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-7-2025, bước phát triển về thể chế, phân cấp, phân quyền, đưa bộ máy của chính quyền nhà nước tinh gọn và hoạt động gần dân hơn, phục vụ tốt hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
 
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1995). Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VII. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 7 (1940-1945). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 37 (1976). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 53 (6/1993-12/1994). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 56 (1997). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011a). Toàn tập: Tập 2. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chí Minh. (2011b). Toàn tập: Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Hồ Chí Minh. (2011c). Toàn tập: Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.