Tóm tắt: Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Nam Bộ luôn anh dũng, kiên cường, vừa xây dựng lực lượng, tổ chức đánh địch, vừa củng cố, phát triển nền kinh tế kháng chiến. Giai đoạn 1951-1954, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam, nhân dân và lực lượng vũ trang Nam Bộ đã tiếp tục xây dựng nền kinh tế kháng chiến vững mạnh, phục vụ cuộc “trường kỳ kháng chiến”, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân trong vùng kháng chiến. Bài viết tập trung làm rõ đường lối, chủ trương của Đảng, quá trình lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam thực hiện xây dựng nền kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ trong giai đoạn 1951-1954 và một số kết quả đạt được.
Từ khóa: Trung ương Cục miền Nam; Nam Bộ; Kinh tế kháng chiến; 1951-1954.
Ngày nhận bài: 3-8-2026; Ngày đánh giá thầm định: 4-9-2026; Ngày duyệt đăng: 10-9-2026
THE CENTRAL OFFICE FOR SOUTH VIETNAM LED THE PEOPLE OF SOUTHERN VIETNAM TO BUILD A RESISTANCE ECONOMY (1951–1954)
Abstract: Throughout the resistance war against French colonial aggression, the people of Southern Vietnam demonstrated remarkable courage and resilience, simultaneously building their forces, organizing military operations against the enemy, and consolidating and developing the resistance economy. During the period from 1951 to 1954, under the direct leadership of the Central Office for South Vietnam, the people and armed forces of Southern Vietnam continued to build a strong resistance economy to support the “protracted resistance war,” while stabilizing and improving the living conditions of the population in the resistance zones. This article focuses on clarifying the Party’s policies and guidelines, the leadership of the Central Office for South Vietnam in implementing the construction of the resistance economy in Southern Vietnam during the period 1951–1954, and some of the major results achieved.
Keywords: The Central Office for South Vietnam; Southern Vietnam; Resistance economy; 1951–1954.
1. Đặt vấn đề
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam, nhân dân Nam Bộ đã giành được những thắng lợi to lớn trên khắp các mặt trận từ quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa…, trong đó kinh tế giữ vai trò rất quan trọng, vừa là nguồn lực cho kháng chiến vừa là mặt trận đấu tranh quyết liệt với địch. Tuy nhiên đến nay, việc nghiên cứu sâu về chủ đề Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo xây dựng nền kinh tế kháng chiến chưa nhiều, chưa phân tích đủ những nội dung phong phú trên lĩnh vực này. Bài viết tập trung làm rõ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo quân dân Nam Bộ xây dựng nền kinh tế kháng chiến và một số những kết quả quan trọng đạt được trong giai đoạn 1951 - 1954.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng hai phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để tái hiện và đánh giá sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu được vận dụng trong quá trình khai thác, xác minh các tư liệu, tài liệu lưu trữ, các văn kiện của Đảng, bảo đảm tính khách quan khoa học của bài viết.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Bối cảnh nền kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ giai đoạn 1945- 1950
Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, mặc dù đối mặt với muôn vàn khó khăn được ví như “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ưu tiên giải quyết những vấn đề cơ bản về kinh tế, đời sống của người dân, xác định: “kinh tế luôn là nhu cầu cấp thiết, có vai trò quan trọng, có ý nghĩa lớn lao góp phần quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến” (Lưu Văn Quyết, 2021, tr.59). Vấn đề ruộng đất cho nông dân cũng bắt đầu trở thành chủ trương lớn của Đảng giai đoạn này đối với Nam Bộ, ruộng đất có vai trò rất quan trọng cần phải được giải quyết cấp bách.
Tại HNTƯ (1-1949), Đảng tiếp tục đề ra chính sách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của bọn phản quốc chia cho dân cày nghèo, giao Nhà nước quản lý các cơ sở đồn điền của Pháp, trong đó Đông Nam Bộ là khu vực tập trung diện tích rất lớn đồn điền cao su Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tiếp ký các Sắc lệnh liên quan đến các vấn đề ruộng đất, thuế, nợ,… giải quyết trực tiếp khó khăn cho đời sống của người dân cả nước. Cụ thể như Sắc lệnh ngày 14-7-1949 quyết định giảm 25% mức địa tô so với giai đoạn trước 1945; Sắc lệnh số 25/SL ngày 13-2-1950 về sử dụng ruộng đất vắng chủ thời kỳ kháng chiến, ưu tiên giao cho nông dân không có ruộng đất để canh tác; Sắc lệnh số 89/SL ngày 22-5-1950 về việc giảm lãi, xóa nợ, hoãn nợ đối với những việc vay mượn trước đây.
Bên cạnh chú trọng xây dựng nguồn lực sản xuất cho nền kinh tế kháng chiến, ngay từ đầu năm 1946, Đảng, Chính phủ đã quan tâm đến việc phát hành thống nhất tiền giấy từ vĩ tuyến 16 trở vào thông qua Sắc lệnh số 18B/SL ngày 31-01-1946 (đến tháng 11 thì lưu hành trong cả nước). Đây là điều kiện thiết yếu của nền kinh tế kháng chiến, tiền tệ được lưu thông là huyết mạch quan trọng của nền kinh tế, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy lao động, sản xuất hàng hóa. Những chính sách của Chính phủ đã có tác động tích cực đến việc củng cố, xây dựng nền kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ.
Tại Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, ngay từ những tháng cuối năm 1945, phong trào kháng chiến ở Nam Bộ đã quy tụ mọi tầng lớp người dân từ thành thị đến nông thôn: “Dân quân đã bắt đầu dùng chiến thuật du kích, lúc ẩn khi hiện, đột nhập thình lình để phát hoại chớp nhoáng và lập tức rút lui trong im lặng” (Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, 2010, tr.239)
Tháng 12-1947, Hội nghị đại biểu toàn Xứ quyết định phương hướng, nhiệm vụ thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh của Đảng ở Nam Bộ. Về kinh tế, Xứ ủy chủ trương thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng gắn với xây dựng nền kinh tế kháng chiến: Thực hiện giảm tô 25 %, vận động địa chủ hiến điền, tạm cấp ruộng đất quản thu, ruộng đất vắng chủ, ruộng đất bỏ hoang cho dân cày thiếu hoặc không có đất; đẩy mạnh sản xuất tự cấp, tự túc là hướng chủ đạo lâu dài. Các hội, đoàn thể như: Hội Nông dân Cứu quốc Nam Bộ, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc Nam Bộ được sự hỗ trợ lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã tích cực hoạt động đóng góp một phần vào nền kinh tế kháng chiến. Trong vùng căn cứ, hàng hóa nông nghiệp giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến khá dồi dào với những sản vật thiên nhiên như tôm cá, các loại trái cây, lương thực, gà, vịt. Lương thực, nhu yếu phẩm cung cấp cho cán bộ, cơ quan đóng quân trên địa bàn cơ bản đáp ứng đầy đủ, bảo đảm cho cho sinh hoạt, chiến đấu. Xứ ủy khuyến khích người dân tăng gia sản xuất, mỗi đơn vị vũ trang có một vườn rau hay thửa ruộng. Việc lưu thông hàng hóa trong vùng giải phóng diễn ra liên tục; trong vùng địch tạm chiếm thì tuy vẫn có nhưng không thường xuyên. Tuy nhiên trong vùng địch kiểm soát và những nơi địch đánh phá gặp nhiều khó khăn.
Năm 1950, Xứ ủy ban hành Chỉ thị số 113/CTX nhằm tiến hành triệt để và thận trọng hơn việc giảm tô, thuế: “Xứ ủy chỉ đạo, trong khi triệt để thi hành giảm tô, giảm tức thì đối với việc tạm cấp ruộng đất phải tiến hành thận trọng, “không được hấp tấp” và cần có sự mềm dẻo trong thực hiện” (Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, 2010, tr.479).
Cụ thể hóa nội dung Sắc lệnh 78/SL năm 1949 của Chính phủ về giảm tô, giảm tức, tháng 10-1950, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ triển khai công tác đo đạc ruộng đất, công nhận chính thức ruộng đất đã tạm cấp trước đó cho nông dân. Tại miền Tây Nam Bộ, khu vực đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế kháng chiến của Đảng với trữ lượng lúa gạo, nông sản dồi dào thì tình cảnh nông dân bị điền chủ bóc lột sức lao động đã dần giảm đi rõ rệt. Việc vận động điền chủ hiến đất cho kháng chiến đem lại kết quả tích cực. Với diện tích đất rộng lớn được điền chủ hiến cho cách mạng đã góp phần mở rộng nguồn tư liệu sản xuất, nâng cao năng suất, sản lượng lương thực cho người dân, qua đó đóng góp trực tiếp vào sự ổn định, phát triển của nền kinh tế kháng chiến Nam Bộ.
Những năm 1945-1950, Nam Bộ thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền kinh tế kháng chiến trong hoàn cảnh khó khăn do địch đánh phá, mở rộng và bình định toàn bộ địa bàn. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ, quân và dân miền Nam đã kiên định đường lối lãnh đạo của Trung ương Đảng, linh hoạt trong triển khai thực hiện các quyết sách về kinh tế, nhất là những vấn đề liên quan đến ruộng đất, như tạm cấp, giảm tô, hiến điền, tăng gia sản xuất…
Từ sau Chiến dịch Biên giới năm 1950, cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước bước sang giai đoạn mới: giành quyền chủ động chiến lược, đẩy mạnh thế tiến công, do đó, nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế kháng chiến đặt ra những yêu cầu lớn: bên cạnh việc bảo đảm tự cung, tự cấp còn phải bảo đảm phục vụ hậu cần chiến dịch, đóng góp ngày càng lớn vào xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Nam Bộ, thực hiện đường lối kháng chiến và kiến quốc mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra.
2.2. Quá trình lãnh đạo xây dựng nền kinh tế kháng chiến của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1951 - 1954
Tháng 3-1951, HNTƯ 1, khóa II quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam - trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân Nam Bộ. Trên cơ sở quán triệt những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và thực tiễn việc triển khai xây dựng nền kinh tế kháng chiến đã đạt được kể từ sau khi giành được độc lập - Trung ương Cục miền Nam đã tập trung lãnh đạo đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, phát triển nền kinh tế kháng chiến trong giai đoạn 1951 - 1954 để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Một là, Trung ương Cục tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự lực, tự chủ
Chỉ thị số 08/CT-TWC ngày 27-6-1951 của Trung ương Cục “về công tác tăng gia sản xuất trong các lớp huấn luyện, các trường học” xác định: “các chi bộ ở trường học như trung học, bình dân, các chi bộ ở lớp huấn luyện của Đảng, dân quân chính các cấp đều phải có kế hoạch tăng gia sản xuất. Trung bình mỗi ngày học viên và học sinh phải dành ra 2 giờ để tham gia sản xuất.” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.483). Công tác tăng gia sản xuất được Trung ương Cục quán triệt thực hiện đến từng cấp chi bộ, xem đây là: “một nhiệm vụ quan trọng trọng tâm của công tác của chi bộ trong giai đoạn này” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.483). Tinh thần tự lực, tự chủ trong kinh tế kháng chiến, từng đảng viên, chi bộ phải thật sự làm gương, đi trước từ đó tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong các đoàn thể, người dân, nhất là ở những vùng giải phóng.
Trong nền kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ, canh nông (sản xuất nông nghiệp) đóng vai trò rất quan trọng, là trụ cột chính cung cấp nguồn quân lương cho hoạt động kháng chiến, cho xây dựng lực lượng vũ trang, hậu cần chiến dịch. Ngày 27-6-1951, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 09/CT-TWC, trong đó xác định phải: “thấm nhuần tư tưởng kinh tế nhân dân, cuộc kháng chiến của chúng ta còn trường kỳ, gian khổ mới thắng lợi. Mà nói đến trường kỳ là phải nói đến kinh tế canh nông, nói đến sản xuất” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.486). Ngoài ra, để tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác canh nông, Trung ương Cục yêu cầu mỗi cấp ủy phải phân công một đồng chí cấp ủy viên phụ trách trực tiếp ngành kinh tế ở khu vực.
Trung ương Cục đã đẩy mạnh lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thực hiện công tác tăng gia, sản xuất trên toàn địa bàn. Chỉ thị Số 14/CT-TWC ngày 7-7-1951 của Trung ương Cục xác định rõ quan điểm: “tăng gia sản xuất được thấm nhuần trong tất cả đồng chí và nhân viên trong cơ quan” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.529), đồng thời các cấp ủy đảng và chính quyền các địa phương phải nhanh chóng có: “kế hoạch và xúc tiến ngay việc tất cả đồng chí và quần chúng cơ quan đều phải tham gia sanh sản” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.529). Trong quá trình thực hiện chủ trương này, Trung ương Cục cũng chỉ rõ những tư tưởng sai lầm, lệch lạc như cho rằng cán bộ, nhân viên cơ quan không thích hợp làm những việc liên quan đến trồng trọt, nông nghiệp, các cơ quan thường xuyên di chuyển nên không thể canh tác, sản xuất lâu dài, ổn định hay đặc biệt là tư tưởng cán bộ thực hiện tăng gia sản xuất cốt chỉ để hướng dẫn cho quần chúng nhân dân. Đây là một trong những sai lầm cơ bản mà Trung ương Cục đã chỉ rõ để cấp ủy và chính quyền các địa phương nhận diện, khắc phục nhằm tăng tính thực chất, hiệu quả của công tác tăng gia sản xuất, nâng tính tự lực, tự chủ, “góp phần vào việc xây dựng nền kinh tế chung” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2018a, tr.530).
Xuất phát từ thực tiễn chiến trường Nam Bộ có nhiều khó khăn, phức tạp, vùng giải phóng, vùng tạm chiếm đan xen, thay đổi liên tục, ở xa Trung ương Đảng nên việc tiếp tế có nhiều trở ngại. Do đó, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Trung ương Cục là phải bảo đảm tự cung tự cấp, không trông chờ ỷ lại. Đặc biệt, ở những vùng căn cứ sản xuất quan trọng của ta phải có kế hoạch nâng cao năng suất lao động, mở rộng sản xuất, thực hành tiết kiệm, lấy nông nghiệp làm trụ cột chính, gắn bó mật thiết với người dân, dựa vào sức dân để cùng phát triển.
Tại miền Tây Nam Bộ, năm 1953, Phân Liên khu ủy miền Tây đã ban hành Nghị quyết về tình hình kinh tế tài chính, trong đó gồm có những chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm trong năm 1953. Nghị quyết xác định rõ: “Công tác sản xuất và tiết kiệm là một trung tâm công tác của chúng ta trong vùng tự do, và là một công tác rất trọng yếu trong vùng du kích hiện nay” (Phân Liên khu ủy miền Tây, 1952, 10-10-1952).
(Trong vùng giải phóng ở miền Tây: “vụ mùa năm 1951 - 1952 sản xuất được 440.000 tấn thóc, tăng 40% so với vụ mùa năm 1950-1951, thừa 140.000 tấn. Vùng Đồng Tháp Mười sản xuất được 136.560 tấn thóc, thừa 20.000 tấn” (Phân Liên khu ủy miền Tây, 1952, 10-10-1952).
. Đây là nguồn lực rất lớn đóng góp vào việc tăng nguồn tài chính, dự trữ, hậu cần nuôi quân… không chỉ có ý nghĩa trực tiếp mà còn mang tầm chiến lược, củng cố vững chắc hơn nữa quyết tâm kháng chiến của Đảng để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Ở miền Đông Nam Bộ, Phân Liên khu ủy miền Đông quy định diện tích đất phục vụ sản xuất tại các cơ quan, đơn vị, bảo đảm tự cung, tự cấp nguồn thực phẩm, giảm bớt đóng góp của người dân trong khu vực. “Phần lớn các tỉnh miền Đông như Bà Chợ, Thủ Biên, Mỹ Tho, Long Châu Hà tự túc được nhu cầu cơ bản về lương thực” (Phân Liên khu ủy miền Tây, 1952, 10-10-1952).
Để công tác xây dựng kinh tế kháng chiến đạt hiệu quả, Trung ương Cục đã chỉ đạo mỗi phân Liên khu thành lập một Ban sản xuất, chịu trách nhiệm trước Trung ương Cục về phong trào sản xuất tự túc. Thành phần tham gia vào Ban sản xuất gồm những đồng chí lãnh đạo của Bộ tư lệnh, Phân Sở kinh tế, Canh nông, Tài chính, Bí thư Tỉnh ủy, đại diện các ban Căn cứ địa… (Trung ương Cục, 1951, 18-9-1951)
Với quan điểm định hướng của Trung ương Cục, các Phân Liên khu miền Đông, Phân Liên khu miền Tây ở Nam Bộ đã có sự quán triệt sâu sắc về nhận thức, xây dựng các kế hoạch, chỉ đạo, hành động cụ thể nhằm tăng tính hiệu quả, tự lực trong xây dựng kinh tế kháng chiến. Những kết quả đạt được trong công tác này là rất lớn và quan trọng, tuy bước đầu còn có những khó khăn nhưng đã đem lại những kết quả rất tích cực, khẳng định quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng, Trung ương Cục trong lãnh đạo xây dựng nền kinh tế kháng chiến tại Nam Bộ giai đoạn 1951 - 1954.
Hai là, Trung ương Cục lãnh đạo thực hiện chính sách tài chính kháng chiến
Tài chính là lĩnh vực có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế kháng chiến, do đó, địch luôn tìm mọi cách để đánh phá vào các vùng căn cứ, phá hoại nền kinh tế kháng chiến, thực hiện chính sách gây lũng đoạn, phá giá tiền tệ của chính quyền cách mạng. Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng và quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng về công tác tài chính trong kháng chiến đó là phải tiết kiệm trong sự chi tiêu, kiểm soát chi tiêu các địa phương để dự trữ và phân phối tài chính, cổ động cho nhân dân tin dùng tiền Việt Nam, nhất là những tỉnh địch chiếm đóng, để giữ vững giá bạc Việt Nam, trừng trị những kẻ đầu cơ, buôn bán tiền tệ (Đinh Trần Dương, 2009, tr.4).
Để đối phó với những thủ đoạn nham hiểm của địch trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, Trung ương Cục chỉ đạo: “tạm thời không phát hành thêm đồng bạc Việt Nam; thực hiện thu đến đâu chi đến đó, đấu tranh tiền tệ với địch, giữ vững giá đồng bạc Việt Nam; gây phong trào tiết kiệm, chống xa xỉ, gây dựng tác phong lao động trong đội viên, nhân viên, cán bộ; chấn chỉnh tổ chức kinh tế, sửa đổi lối làm việc, bố trí lại cán bộ để đảm bảo thực hiện chính sách kinh tế, nắm vững tình hình sản xuất ở xã” (Trung ương Cục miền Nam, 1952, 26-12-1952).
Đối với các Phân Liên khu, Trung ương Cục cũng có những chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phù hợp với đặc điểm, tình hình từng vùng, địa bàn cụ thể. Cán bộ cấp ủy, chính quyền các địa phương chủ động nắm bắt tình hình, vận dụng linh hoạt quan điểm chỉ đạo của Trung ương Cục, nêu cao tinh thần tự chủ, sáng tạo của cán bộ, nhân dân, bảo đảm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền tài chính kháng chiến ổn định, vững mạnh.
Bên cạnh việc củng cố, phát triển tài chính trong nền kinh tế kháng chiến, Trung ương Cục còn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phá kinh tế của địch. Nhằm chống chính sách khai thác kinh tế thời chiến, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của thực dân Pháp, Trung ương Cục chủ trương quản lý chặt chẽ việc xuất nhập khẩu để bảo vệ, phát triển hoạt động sản xuất hàng hóa vùng giải phóng, tổ chức các đội du kích, lực lượng vũ trang tại chỗ để chống địch phá hoại, cướp bóc tài sản của nhân dân, bảo vệ căn cứ kháng chiến,…
Đối với vùng tạm chiếm, Trung ương Cục chủ trương truyên truyền giáo dục nhân dân đấu tranh chống bắt xâu, bắt lính, đóng thuế nhẹ, tăng lương, bớt giờ làm, bớt dùng các mặt hàng xa xỉ phẩm của địch; giải thích cho nhân dân thấy rõ âm mưu lừa gạt, bóc lột và bần cùng hóa nông dân, chống chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của chính quyền thực dân Pháp. Đối với các vùng tranh chấp giữa ta và địch, tăng cường kiểm soát xuất nhập khẩu và giáo dục nhân dân ý thức đấu tranh kinh tế với địch. Hướng dẫn nhân dân tranh thủ giao dịch buôn bán, trao đổi hàng hóa trên địa bàn, phá chính sách kinh tế của địch, nhất là ở miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, tiến hành bảo vệ tài sản, phát triển du kích chiến tranh, phá tan tiểu quy mô các cơ sở và cất giấu tài sản (Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, 1954, 3-9-1954).
Năm 1952, trong bối cảnh cuộc đối đầu giữa ta và địch ở Nam Bộ đang diễn ra gay gắt, quyết liệt trên khắp các mặt trận, Trung ương Cục chỉ đạo quân dân Nam Bộ phải: Chống kế hoạch cướp của, phá người của địch; đặc biệt chú trọng giành đất, sử dụng người và của trong vùng du kích, vùng địch hậu; quyết tâm tiêu diệt và tiêu hao nhiều nhất sinh lực địch, ra sức xây dựng lực lượng của ta; bảo vệ kinh tế và thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất tự cung tự cấp, phá chính sách của địch hòng bao vây kinh tế của ta, đồng thời tích cực đánh phá kinh tế của địch, chú trọng cướp quân nhu địch làm quân nhu của ta… (Ban Chấp hành Trung Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn phòng, 2018b, tr.916). Cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế kháng chiến gắn với đấu tranh chống kinh tế địch, các địa phương ở Nam Bộ đã linh hoạt triển khai nhiều hình thức đấu tranh, phá hoại trên các lĩnh vực như thuế khóa, mậu dịch, tiền tệ,… một cách sáng tạo, hiệu quả. Từ hoàn cảnh và đặc điểm chiến trường Nam bộ, ta chấp nhận lưu hành cả tiền bạc Cụ Hồ và tiền Đông Dương để bảo đảm lưu thông hàng hóa giữa vùng giải phóng với vùng tạm chiếm, căn cứ của ta, tuy nhiên có sự kiểm soát, quản lý của chính quyền cách mạng để giữ ổn định tỉ giá đồng Việt Nam.
Kết quả đấu tranh kinh tế - tài chính với địch ở Nam Bộ đã làm cho kinh tế kháng chiến ở vùng giải phóng có những bước chuyển biến tích cực. Ngân hàng Nhân dân Nam Bộ không những bảo đảm cung cấp tài chính cho các địa phương ở Nam Bộ trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến mà còn tích lũy được khá nhiều tiền, giảm bớt chi viện từ Trung ương, ổn định tài chính khi ta phải thu hồi đồng tiền của ta sau khi Hiệp định đình chiến được ký kết (Ban kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam, 2007, tr.29).
Trong giai đoạn 1951 - 1954, Trung ương Cục đã lãnh đạo rất hiệu quả, linh hoạt, sáng tạo trong việc xây dựng nền tài chính kháng chiến vững mạnh, ổn định và phát triển nhanh chóng. Trong đó tập trung xây dựng nguồn lực bên trong và đấu tranh chống phá của địch. góp phần quan trọng vào việc xây dựng thành công nền kinh tế kháng chiến vững mạnh ở Nam Bộ nói riêng, vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước trong sự nghiệp kháng chống thực dân Pháp xâm lược.
3. Kết luận
Giai đoạn 1951-1954, quân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam đã tiến hành xây dựng một nền kinh tế kháng chiến phù hợp với tình hình ở Nam Bộ. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ là tính tự lực, tự chủ cùng với việc điều hành nền tài chính kháng chiến ổn định, linh hoạt, phát triển, vừa củng cố thực lực cách mạng vừa đấu tranh tiêu hao tài lực của địch trên mặt trận kinh tế, tài chính. Những kết quả đạt được trong giai đoạn này góp phần khẳng định vững chắc hơn nữa vai trò lãnh đạo tuyệt đối, sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu trong xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng nói chung và việc củng cố, phát triển nền kinh tế kháng chiến nói riêng trong giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975).
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2018a). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 - 1975: Tập 3 (1951). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2018b). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 - 1975: Tập 4 (1952). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Ban Kinh - Tài Trung ương Cục miền Nam. (2007). Lịch sử Ban Kinh tế - Tài chính Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb. Chính trị Quốc gia
Đinh Trần Dương. (2009). Chủ trương của Đảng về xây dựng nền kinh tế kháng chiến (1947-1954). Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 7/2009, tr.3-8
Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến. (2010). Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập 1, 1945-1954. Nxb. Chính trị Quốc gia
Lưu Văn Quyết. (2021). Một số hoạt động kinh tế kháng chiến ở Nam Bộ (1945-1954). Nxb. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 1(50)-2021
Phân Liên khu ủy miền Tây (1952). Nghị quyết về tình hình kinh tế tài chính của Phân liên Khu miền tây, ngày 10-10-1952
Trung ương Cục. (1951). Chỉ thị Số 23/CT-CU ngày 18-9-1951 về việc động viên cơ quan và bộ đội sản xuất tự túc
Trung ương Cục miền Nam. (1952). Báo cáo tình hình Nam Bộ năm 1952 của Trung ương cục miền Nam, ngày 26-12-1952.
Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ. (1954). Mật điện Số 22/KT-Đ ngày 3-9-1954 của Ban Kinh tài Nam bộ gửi Bộ Kinh tế Trung ương báo cáo công tác đấu tranh kinh tế với địch