Tóm tắt: Trong những năm 1969-1975, trên cơ sở quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác dân vận ở cả vùng giải phóng, vùng tranh chấp và đô thị. Trong đó, thông qua công tác dân vận đã vận động được các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng như phong trào “giành dân, giữ dân”, “bám đất, bám dân”, đấu tranh chống bình định, góp phần giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, củng cố hệ thống chính quyền cách mạng, phát triển thế và lực tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giành thắng lợi trọn vẹn. Bài viết tập trung làm rõ chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam về công tác dân vận; phân tích những kết quả nổi bật, đồng thời đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị đối với công tác dân vận hiện nay.
Từ khóa: Trung ương Cục miền Nam; công tác dân vận; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; cách mạng miền Nam; 1969-1975
Ngày nhận: 31-10-2025; Ngày thẩm định, đánh giá: 25-5-2026 ; Ngày duyệt đăng: 12-6-2026

1. Đặt vấn đề
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác dân vận giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng lực lượng chính trị, phát huy sức mạnh quần chúng, tạo nền tảng cho chiến tranh nhân dân ở miền Nam Việt Nam. Sau những thất bại liên tiếp trên các chiến trường, từ năm 1969, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thách thức mới. Mỹ và chính quyền Sài Gòn không chỉ tăng cường hoạt động quân sự mà còn đẩy mạnh chương trình bình định, chiến tranh tâm lý, nhằm tách quần chúng khỏi lực lượng cách mạng, củng cố hệ thống chính quyền, kiểm soát nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với Đảng là phải tăng cường công tác dân vận nhằm giữ dân, giành dân, củng cố niềm tin của quần chúng đối với cách mạng, đồng thời xây dựng thế trận chính trị rộng khắp phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam, công tác dân vận ở miền Nam giai đoạn 1969-1975 đã có bước phát triển quan trọng. Nhiều chủ trương mới được ban hành; tổ chức lực lượng được củng cố và tăng cường; phương thức triển khai sát hợp với tình hình thực tiễn ở miền Nam, góp phần vào việc giữ vững phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống vai trò lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác dân vận trong giai đoạn 1969-1975.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận, chiến tranh nhân dân và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để làm rõ vai trò lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác dân vận giai đoạn 1969-1975. Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được vận dụng nhằm tái hiện bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành chủ trương, sự chỉ đạo và triển khai công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam qua từng giai đoạn cụ thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phương pháp logic được sử dụng để phân tích, khái quát, đánh giá vai trò, đặc điểm và ý nghĩa của công tác dân vận trong việc xây dựng thế trận chính trị và phát huy sức mạnh quần chúng ở miền Nam.
Bên cạnh đó, bài viết còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh nhằm làm rõ sự phát triển trong nhận thức và chủ trương của Đảng đối với công tác dân vận. Nguồn tư liệu chủ yếu được khai thác từ Văn kiện Đảng Toàn tập, Văn kiện Trung ương Cục miền Nam, các công trình lịch sử chính thống của Đảng, quân đội và các địa phương miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu và hệ thống tư liệu chính thống góp phần bảo đảm tính khách quan, khoa học và độ tin cậy của bài viết.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam về công tác dân vận
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân Việt Nam, chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị phá sản. Để tiếp tục duy cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ từng bước chuyển dần sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” từ năm 1969. Nội dung chủ yếu của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” được Tổng thống Mỹ Níchxơn tuyên bố là: Tăng cường khả năng tự vệ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn, bảo đảm an ninh cho Nam Việt Nam; tăng cường quyền lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở khắp các vùng nông thôn Nam Việt Nam bằng việc đẩy mạnh chương trình bình định. Theo Níchxơn, Việt Nam hóa có hai phần chính: Tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hoà về số lượng, trang bị, lãnh đạo, chỉ huy, kỹ năng chiến đấu; Mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiểm soát được toàn bộ nông thôn Nam Việt Nam (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 2013, tr.30).
Biện pháp chủ yếu mà Níxhxơn coi là có ý nghĩa quyết định thành bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là tập trung nỗ lực xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hòa thành một đội quân tay sai hiện đại, làm lực lượng chiến lược chủ yếu ở miền Nam, là đội quân xung kích ở Đông Dương, có thể thay thế được quân Mỹ trong chiến đấu trên bộ. Qua đó, trong gần bốn năm 1969-1972, quân chủ lực và quân địa phương ngụy đã từ tăng từ 700.000 lên 1.100.000 và lực lượng bán vũ trang tăng từ 1.500.000 lên 2.000.000, trở thành đạo quân tay sai đông nhất trong các đạo quân tay sai của Mỹ (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 1995, tr. 428).
Với bộ máy quân sự khổng lồ, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà tổ chức dồn dập các cuộc hành quân càn quét, chà xát các làng quê miền Nam. Từ đầu năm 1969, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà chuyển sang thực hiện chương trình “bình định cấp tốc” đánh vào tất cả các vùng nông thôn Nam Bộ, đặc biệt là các vùng nông thôn quan trọng ở ven đô Sài Gòn, Cần Thơ, Chương Thiện, vùng đông dân, nhiều của ở đồng bằng sông Cửu Long, nhằm đánh bật lực lượng kháng chiến ra khỏi địa bàn này và củng cố hệ thống chính quyền cơ sở, vơ vét nhân tài, vật lực cho cuộc chiến tranh. Càn quét tới đâu, chúng xây dựng hệ thống đồn bốt tới đó, đồng thời tăng cường an ninh, mật vụ, tình báo Phượng hoàng, bọn chiêu hồi, tâm lý chiến, nhân viên bình định và lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự để o ép nhân dân và tìm diệt cơ sở cách mạng.
Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” không chỉ là sự thay đổi về mặt quân sự, mà còn là sự mở rộng của chiến tranh tâm lý và dân vận phản cách mạng. Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết tuyên truyền những luận điệu về “tự do, dân chủ, hòa bình”, lợi dụng yếu tố tôn giáo, dân tộc, văn hóa để phá vỡ khối đoàn kết của nhân dân miền Nam, kích động chia rẽ giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa các dân tộc thiểu số và người Kinh, giữa nông thôn và đô thị; tổ chức nhiều chương trình “phát triển cộng đồng”, “cứu trợ nhân đạo”, “chiêu hồi”, “đổi đời nông thôn” với mục tiêu lôi kéo quần chúng, làm suy yếu khối đoàn kết kháng chiến của nhân dân miền Nam.
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng công tác dân vận, coi đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm tập hợp lực lượng và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. HNTƯ 18 khóa III (1-1970), xác định công tác dân vận ở thành thị phải “chủ động và nhạy bén, có chủ trương và biện pháp đúng đắn, thích hợp nhằm tập hợp được quần chúng cơ bản, lôi kéo được các từng lớp trung gian, khơi sâu được mâu thuẫn của địch, đưa phong trào tiến lên vững chắc từ thấp đến cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004a, tr. 76-77). Đối với vùng nông thôn, nhiệm vụ trọng tâm là “giành lấy và giữ vững thế làm chủ vững chắc ở phần lớn vùng nông thôn, kiên quyết đánh bại âm mưu bình định nông thôn của địch” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004a, tr.81). Hội nghị yêu cầu “Phải đẩy mạnh hơn nữa công tác phát động quần chúng ở nông thôn với khẩu hiệu không có gì quý hơn độc lập, tự do”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004a, tr.81)để đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, các thủ đoạn “chiêu hồi, chiêu hàng”, các âm mưu dồn dân, bắt lính của địch.
Hội nghị Trung ương 20, khóa III (từ ngày 27-1 đến ngày 11-2-1972) nhấn mạnh: “vấn đề quan trọng bậc nhất là tập hợp quần chúng, tổ chức lực lượng của quần chúng, xây dựng đội ngũ đấu tranh chính trị, xây dựng tổ chức nòng cốt, xây dựng Đảng, phấn đấu tích cực để thu hút đông đảo quần chúng cơ bản và các tầng lớp khác vào mặt trận đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004b, tr.45). Ngày 24-1-1973, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 200-CT/TW “Về việc Hiệp định về Việt Nam đã được ký tắt, những việc phải làm ngay”, trong đó xác định công tác dân vận phải “hướng dẫn quần chúng hành động thiết thực cho Tổ quốc, làm cho mọi người suy nghĩ đúng, làm việc tốt, có lợi nhất cho đất nước, cho tập thể, dấy lên một phong trào quần chúng sôi nổi, liên tục, đạt được những mục tiêu rõ ràng ngay từ ba tháng đầu năm 1973” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004b, tr. 6). HNTƯ 21 (10-1973) đề ra chủ trương: Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao một cách hết sức chủ động. Linh hoạt, tuỳ theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp các mặt trận đó cho thích hợp, buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris về Việt Nam, không ngừng giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, thắng địch từng bước và chủ động trong mọi tình huống, đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Lấy khẩu hiệu hoà bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà hợp dân tộc để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và phân hoá hàng ngũ địch, cô lập tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt. Chú trọng củng cố liên minh công nông, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực tranh thủ lực lượng thứ ba (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004c, tr.237).
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ 9 (7-1969) chủ trương đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân; tăng cường công tác dân vận làm cơ sở cho phong trào đấu tranh chính trị và binh vận; xây dựng và mở rộng căn cứ địa. Nghị quyết vạch rõ nhiệm vụ quan trọng nhất của mặt trận nông thôn là phải “giành dân, giành đất, phát triển thế và lực của ta” (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 1995, tr.445). Thực hiện Nghị quyết HNTƯ 18 khóa III, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ 10 (11-1970) khẳng định công tác dân vận “có một ý nghĩa rất cơ bản và cấp bách để đánh bại âm mưu bình định và Việt Nam hóa chiến tranh của địch, làm thay đổi cục diện” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020a, tr.684). Hội nghị chủ trương: “yêu cầu cơ bản và cấp bách của công tác dân vận sắp tới là ra sức nắm quần chúng để đánh bại âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của địch, kiên quyết không để cho địch khống chế, khai thác quần chúng để chống lại ta và thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020a, tr.684).
Từ ngày 10 đến ngày 20-3-1971, Trung ương Cục miền Nam tổ chức Hội nghị bàn về đẩy mạnh công tác dân vận và đề ra phương hướng cho từng mặt: (1) Đào tạo đội ngũ cán bộ dân vận đáp ứng yêu cầu cách mạng mới bằng mọi cách thích hợp, linh hoạt; (2) Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân phải “chỉ cho quần chúng thấy âm mưu địch, căm thù địch, là nói đúng quyền lợi nguyện vọng tâm tư của quần chúng, là hướng dẫn cho quần chúng hành động cách mạng” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2020, T. 15, tr. 178). Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương Cục (11-1971) chủ trương: “Phải tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm dân, tập hợp và phát huy sức mạnh của dân, không làm như vậy thì không thể có phá mảng phá bè, không thể căn bản đánh bại kế hoạch bình định của địch” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020b, tr.680)và để giải quyết vấn đề chính quyền cơ sở ở nông thôn “là phải phát động thành bạo lực cách mạng của quần chúng với hình thức đồng khởi đứng lên đánh đổ chính quyền địch giành lại chính quyền cơ sở cho nhân dân” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020b, tr.680). Tháng 1-1972, Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ban hành Chỉ thị về công tác dân vận, xác định “mục tiêu trước mắt đối với công tác dân vận rất nặng nề và cấp bách. “Phải tập trung mọi nỗ lực ra sức phát động quần chúng quyết tâm vùng lên, ra sức phát huy tới mức tối đa khả năng cách mạng to lớn của quần chúng, làm chuyển thế, chuyển lực của quần chúng tại chỗ, tạo ra tương quan mới, cục diện mới, góp phần đánh bại về cơ bản âm mưu bình định và chánh sách Việt Nam hóa của địch” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020c, tr.78).
Ngày 19-1-1973, Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ban hành Chỉ thị số 02/CT73, trong đó xác định nhiệm vụ của công tác dân vận: “nhanh chóng tập hợp quần chúng thành những lực lượng chính trị mạnh mẽ và dấy lên một cao trào hành động cách mạng rộng khắp các vùng dưới hình thức chính trị bạo lực, có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn, đi đôi với phát huy cơ sở pháp lý của Hiệp định” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020d, tr.65).
Hiệp định Paris 1973 được ký kết (27-1-1973), nhưng cách mạng miền Nam, vẫn phải tiếp tục đấu tranh chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” trong bối cảnh mới.  Trong đó, công tác dân vận có sự điều chỉnh về nội dung, phương thức và tổ chức thực hiện nhằm phát huy sức mạnh quần chúng, tận dụng lợi thế pháp lý của Hiệp định, đồng thời chuẩn bị cho cuộc đấu tranh quyết định giải phóng miền Nam.
Hội nghị cán bộ toàn miền Nam (họp tháng 9 và 10-1973) đã thông qua đề án về công tác dân vận, trong đó yêu cầu: “Tiến hành một cuộc vận động chính trị sâu rộng, giáo dục cho quần chúng thông suốt tình hình nhiệm vụ mới đi liền với giáo dục khẩu hiệu trung tâm và các chánh sách cơ bản của Đảng, gắn chặt với nhiệm vụ yêu cầu của từng xã ấp của từng giới giai cấp, lứa tuổi trong từng thời gian để làm cho mọi người được phát động đều có hành động cách mạng tùy theo hoàn cảnh khả năng của mình từ thấp đến cao” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020d, tr.526).
Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ 12 (12-1973) chủ trương “đẩy mạnh các mặt công tác dân vận, đi sát với cuộc sống thực tế hằng ngày của các tầng lớp, các giới, tìm hiểu đúng nguyện vọng của quần chúng, chăm lo các quyền lợi vật chất và tinh thần của quần chúng và hướng dẫn giúp đỡ quần chúng giải quyết các khó khăn trong sản xuất và đời sống” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020d, tr. 480). Cũng trong tháng 12-1973, Hội nghị cán bộ toàn miền Nam thông qua Đề án “Ra sức xây dựng căn cứ địa và vùng giải phóng lớn mạnh về các mặt, tạo chỗ dựa vững chắc cho tấn công phía trước, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, bảo đảm thắng địch trong mọi tình huống” trong đó nhấn mạnh: “Hết sức quan tâm xây dựng đội ngũ cốt cán và đội quân chánh trị của quần chúng, đẩy mạnh các mặt công tác dân vận. Thông qua các phong trào nhân dân đoàn kết, tương trợ sản xuất, xây dựng, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu mà tập hợp đông đảo quần chúng vào các tổ chức thích hợp” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng, 2020d, tr. 559-560).
3.2. Một số kết quả và kinh nghiệm
Một là, công tác dân vận góp phần củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở
Năm 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập tạo bước phát triển quan trọng về chính trị và pháp lý của cách mạng miền Nam. Chính quyền cách mạng không chỉ đại diện cho ý chí đấu tranh của nhân dân miền Nam mà còn là biểu tượng của một thực thể chính trị hình thành trong vùng giải phóng. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác dân vận: phải mở rộng hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, xây dựng lòng tin của quần chúng vào chính quyền cách mạng, đồng thời tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ trong và ngoài nước.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng từ cơ sở đến cấp tỉnh, khu. Công tác dân vận được triển khai toàn diện theo ba nội dung trọng tâm: (1) Củng cố tổ chức bộ máy chính quyền cách mạng ở vùng giải phóng; (2) Vận động nhân dân phát triển sản xuất, tự túc lương thực, xây dựng tiềm lực hậu cần tại chỗ; (3) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội, tăng cường đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở vùng mới giải phóng hoặc vùng đồng bào tôn giáo và dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 1969, “Ủy ban Nhân dân Cách mạng lần lượt ra đời ở cả 44 tỉnh, 6 thành phố và 182 huyện, hơn 1.500 xã ở miền Nam. Vùng giải phóng được Chính phủ Cách mạng lâm thời tiếp quản ngày càng được mở rộng” (Nguyễn Đình Thống (Chủ biên), 2019, tr. 135). Công tác dân vận không chỉ dừng ở tuyên truyền mà trở thành hoạt động thực tiễn sâu rộng gắn với từng việc cụ thể của nhân dân. Đội ngũ cán bộ ở vùng giải phóng luôn bám sát cơ sở, cùng nhân dân sửa đường, khôi phục sản xuất, chăm lo y tế, giáo dục, tổ chức các phong trào “tăng gia sản xuất”, “xây dựng nếp sống mới”, “giữ gìn an ninh vùng giải phóng”. “Năm 1973, nhân dân Tây Nam Bộ đóng góp 1.700.000 giạ lúa; sáu tháng đầu năm 1974, đóng góp 2.400.000 giạ. Nhân dân Trung Nam Bộ đóng góp cho vùng giải phóng Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian 1973-1974 hơn 40.000 tấn gạo” (Nguyễn Đình Thống (Chủ biên), 2019, tr. 136)Các hoạt động đó vừa giúp ổn định đời sống nhân dân, vừa tăng cường niềm tin vào chính quyền cách mạng, tạo nên thế trận lòng dân vững chắc.
Hai là, công tác dân vận góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai
Dưới sự lãnh đạo sâu sát của Trung ương Cục miền Nam, công tác dân vận đã tập hợp được rộng rãi các giai tầng trong xã hội, đấu tranh làm thất bại những âm mưu thâm độc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam giữ vai trò trung tâm đoàn kết dân tộc và là lực lượng nòng cốt triển khai công tác dân vận trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Mặt trận đã tập hợp được rộng rãi nhất các tầng lớp nhân dân và, chuyển hóa vào trong đó chủ trương đấu tranh cách mạng của Đảng, tạo thành phong trào hành động cụ thể trong đời sống xã hội miền Nam. Qua đó, uy tín của Mặt trận đối với phong trào cách mạng ở miền Nam được nâng lên. Riêng ở Tây Ninh, “chỉ trong vòng 20 ngày từ ngày 4 đến 24-4-1975, trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, 2010, tr. 329), đồng thời tích cực tổ chức tuyên truyền 10 chính sách binh vận mới đến các gia đình có con em trong lực lượng vũ trang của chính quyền Sài Gòn. Ban Binh vận Khu Tây Nam Bộ phát động phong trào “xoá bỏ gia đình đau khổ” ở ấp, xã. Hưởng ứng phong trào này, nhiều gia đình, nhiều chị em tích cực vận động người thân và binh lính của chính quyền Sài Gòn đào rã ngũ trở về. Chỉ trong tháng 5-1973, tại khu vực trọng điểm Chương Thiện có 1.300 binh lính rã ngũ.
Phong trào đấu tranh chính trị đòi hòa bình, hiệp thương, đòi thi hành Hiệp định Paris, đòi quyền dân sinh, dân chủ được đẩy mạnh. Trong các nhóm tôn giáo, đảng phái ở Sài Gòn dấy lên phong trào tố cáo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giam cầm hàng vạn tù chính trị, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Hội Phật giáo yêu nước Trảng Bàng (Tây Ninh) vận động trên 1.000 phật tử xuống đường với khẩu hiệu: “Yêu cầu thực hiện hoà bình, chấp hành Hiệp định Paris”. Qua đó, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, hình thành thế trận chính trị xã hội vững chắc, xuyên suốt từ vùng giải phóng đến vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát bao gồm cả địa bàn nông thôn và đô thị.
Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển. Chỉ tính từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975, tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phong trào đấu tranh đã “thu hút 6.700.000 lượt người tham gia; huy động 24.900 lượt người đi dân công, vận tải, phá giao thông và 71.000 người xây dựng xã, ấp chiến đấu” (Nguyễn Quý (chủ biên), 2015, tr. 479).
Ba là, công tác dân vận góp phần quan trọng phát động và tổ chức các phong trào quần chúng rộng lớn
Trung ương Cục miền Nam tiến hành công tác dân vận theo hướng kết hợp đồng bộ giữa vận động chính trị, binh vận và vũ trang tuyên truyền, triển khai các hình thức hoạt động linh hoạt theo từng địa bàn. Ở vùng giải phóng, chú trọng củng cố chính quyền cách mạng, phát động phong trào sản xuất, xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh. Ở vùng tranh chấp, công tác dân vận được gắn với nhiệm vụ chống bình định, giành dân và giữ dân, làm thất bại nỗ lực kiểm soát nông thôn của chính quyền tay sai. Nhiều phong trào tiêu biểu như “bám dân, bám đất”, “giữ làng giữ nước”, “góp gạo nuôi quân”, “nuôi giấu cán bộ” đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước và đoàn kết của quân dân miền Nam. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, các tổ chức đoàn thể quần chúng được kiện toàn và phát huy vai trò nòng cốt như Hội Phụ nữ Giải phóng, Đoàn Thanh niên Giải phóng, Hội nông dân Giải phóng,… đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia các hoạt động phục vụ chiến đấu, vận chuyển lương thực, tải thương, mở đường, đào hầm… Đồng thời, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng trong tổ chức phong trào đấu tranh chính trị tại các đô thị: Sài Gòn, Huế, Cần Thơ và nhiều đô thị khác. Các cuộc đấu tranh, biểu tình của sinh viên, trí thức, công nhân, tăng ni, tín đồ tôn giáo được định hướng và hỗ trợ của lực lượng cách mạng, tạo sức ép xã hội mạnh mẽ, tố cáo tội ác chiến tranh, đòi dân sinh, dân chủ, góp phần làm suy yếu bộ máy chính quyền Sài Gòn và tác động đến dư luận quốc tế. Tại huyện Long Điền, Kiến Phong “dưới sự hướng dẫn của Ban Trị sự Hòa Hảo, hơn 50 tín đồ tổ chức tuần hành, tố cáo bọn ác ôn” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 2018, tr. 281) “hơn 1.000 nhà sư ở thành phố Cần Thơ xuống đường biểu tình phản đối chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giết hại và làm bị thương hơn 20 nhà sư tại thị trấn Kiến Thành (Rạch Giá)” (Nguyễn Quý (chủ biên), 2015, tr. 468).
Từ thực tiễn quá trình lãnh đạo công tác dân vận trên chiến trường miền Nam trong những năm 1969 -1975, có thể đúc kết một số kinh nghiệm:
Một là, trong quá trình lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, tổ chức đảng (Trung ương Cục miền Nam) phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, coi dân vận là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên của cách mạng; trong mọi hoàn cảnh, phải luôn đặt lợi ích, nguyện vọng và đời sống của nhân dân vào vị trí trung tâm của công tác dân vận. Việc gắn dân vận với những vấn đề thiết thân như an ninh xóm ấp, đời sống, quyền lợi của đồng bào các tôn giáo, dân tộc… đã củng cố niềm tin của quần chúng, làm cho nhân dân tự giác đứng vào hàng ngũ cách mạng, tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần to lớn, góp phần đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền tay sai.
Hai là, trong lãnh đạo, tổ chức đảng phải luôn bám sát thực tiễn chiến trường, nắm chắc dân, chắc địa bàn để xác định nội dung và phương thức tiến hành công tác dân vận phù hợp. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, công tác lãnh đạo phải luôn linh hoạt vận dụng các phương thức dân vận lúc công khai, lúc bí mật, lúc mềm dẻo, khi kiên quyết, khi phát động đấu tranh chính trị rộng rãi… Chính việc “nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, vận động để dân làm theo” đã tạo nên sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, giúp phong trào quần chúng phát triển bền vững.
Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng như Hội Phụ nữ Giải phóng, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân…, đồng thời tranh thủ các lực lượng tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, đồng bào dân tộc thiểu số… đây là những lực lượng có ảnh hưởng xã hội rộng lớn, trở thành cánh tay nối dài của tổ chức đảng trong vận động quần chúng, tổ chức phong trào và hình thành “thế trận lòng dân” vững chắc ở cả nông thôn đô thị, vùng giải phóng.
Bốn là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận vững mạnh cả về bản lĩnh chính trị, năng lực vận động và phẩm chất đạo đức. Cán bộ dân vận phải luôn được rèn luyện trong thực tiễn chiến đấu, bám dân, bám cơ sở, am hiểu phong tục tập quán, tôn giáo, có khả năng thuyết phục, hòa giải và tổ chức quần chúng. Đây là nhân tố mang tính quyết định trực tiếp đến hiệu quả công tác dân vận, duy trì được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố niềm tin và nâng cao uy tín của cách mạng.

4. Kết luận
Trong những năm 1969-1975, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, công tác dân vận đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần giữ vững và phát triển phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với những chương trình bình định mới, Trung ương Cục miền Nam đã kịp thời đề ra những chủ trương đấu tranh đúng đắn, linh hoạt nhằm phát huy sức mạnh quần chúng, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền cách mạng và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác dân vận không chỉ góp phần giữ dân, giành dân, phá thế kìm kẹp của địch ở nông thôn mà còn thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo nên thế trận chính trị rộng khắp trên toàn chiến trường miền Nam.
Thực tiễn công tác dân vận giai đoạn 1969-1975 cho thấy, sức mạnh của cách mạng miền Nam bắt nguồn từ sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân và việc phát huy tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân trong điều kiện chiến tranh. Những kinh nghiệm về “lấy dân làm gốc”, bám sát cơ sở, linh hoạt trong phương thức vận động quần chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo bài học dân vận của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay.
 
Tài liệu tham khảo
 
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh. (2010). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930-2005). Nxb Chính trị quốc gia.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2020a). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975: Tập 14 (1970). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2020b). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975: Tập 15 (1971). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2020c). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975: Tập 16 (1972). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn phòng. (2020d). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975: Tập 17 (1973). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. (2013). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975): Tập VI Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004a). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 31 (1970). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004b). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 33 (1972). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004c). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 34 (1973). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Đình Thống (Chủ biên). (2019). Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976). Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Quý (chủ biên). (2015). Lịch sử Xứ uỷ Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975). Nxb Chính trị quốc gia.
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. (2018). Lịch sử phong trào đấu tranh chống phá bình định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Tập IV (1969-1975). Nxb Quân đội nhân dân.
Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng. (1995). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tập II (1954-1975). Nxb Chính trị quốc gia.