Tóm tắt: Sau gần 40 năm đổi mới, từ năm 1986 đến nay, đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận cấu thành rất quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nhìn lại tiến trình thu hút đầu tư nước ngoài trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, có thể thấy rằng quyết định mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài với việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 là hết sức đúng đắn. Tuy nhiên, cần làm gì để có thể khai thác hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế nói chung, dòng vốn đầu tư toàn cầu nói riêng. Bài viết làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thu hút đầu tư nước ngoài; một số kết quả đạt được và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thu hút nguồn lực từ bên ngoài.
Từ khóa: Đầu tư nước ngoài; Luật Đầu tư nước ngoài; FDI; SCCI
1. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thu hút đầu tư nước ngoài
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 4-1975, Việt Nam bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước. Ngay từ năm 1977, ý tưởng về việc xây dựng khung khổ pháp lý để thu hút đầu tư nước ngoài đã hình thành. Ngày 18-4-1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 115-CP “ban hành Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Theo Điều lệ về đầu tư năm 1977, các công ty dầu khí Cộng hòa liên bang Đức, Italia, Canada… đã được Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí tại một số khu vực ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện quốc tế những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX chưa thuận lợi cho việc mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước ngoài khối XHCN, nên Điều lệ về đầu tư năm 1977 đã không đem lại kết quả mong muốn.
Tháng 12-1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng quyết định tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, xác định Việt Nam sẽ mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Từ điểm tựa quan trọng này, Việt Nam đã tiến hành xây dựng và thông qua nhiều chính sách, pháp luật quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế. Ngày 29-12-1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2 chính thức thông qua, mở đường cho việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Văn bản này sau đó được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu thực tế, tạo ra khung khổ pháp lý đặc biệt quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Để kịp thời tiếp nhận nguồn vốn quốc tế, đầu năm 1988, Chính phủ giao cho Bộ Kinh tế đối ngoại nhiệm vụ thẩm định và cấp phép dự án đầu tư nước ngoài. Tháng 3-1989, Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (SCCI) được thành lập, có chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài do Bộ Kinh tế đối ngoại đã cấp phép và bắt đầu thực hiện các công việc có liên quan đến đầu tư nước ngoài. Trong các năm 1989 và 1990, SCCI tập trung vào ba công việc chính: hình thành bộ máy và cơ chế vận hành; xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy và xúc tiến đầu tư.
Ngay sau khi thành lập, SCCI đã chủ động đẩy mạnh hợp tác với một số tổ chức quốc tế như: Tổ chức phát triển của Liên Hiệp quốc (UNDP), Tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO) trong việc đào tạo cán bộ SCCI và xúc tiến đầu tư; với Công ty Luật Philip Fox của Australia để dịch và in các văn bản pháp luật về FDI sang tiếng Anh, với Công ty VIR Ltd. được thành lập tại Hồng Kông để xuất bản báo Đầu tư nước ngoài (tiếng Việt), Vietnam Investment Review (tiếng Anh). SCCI đã tiếp cận được các phương thức quản lý nhà nước theo thông lệ quốc tế; nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, soạn thảo trình Chính phủ ban hành các văn bản liên quan đến đầu tư nước ngoài, cử các đoàn công tác đi vận động đầu tư.
Năm 1991, Diễn đàn đầu tư Việt Nam được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, lúc này Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành được 3 năm. Đây là cơ sở pháp lý duy nhất cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều luật khác liên quan đến đầu chưa được ban hành, môi trường pháp lý chưa hoàn thiện.
Để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, Đảng và Nhà nước tiếp tục nhất quán chủ trương kêu gọi đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đại hội XII (2016) của Đảng nhấn mạnh vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Đảng xác định cần phải phát huy vai trò quyết định của nội lực, đồng thời thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI và khu vực sản xuất nông nghiệp. Riêng đối với đầu tư nước ngoài, Đại hội nêu rõ phải “nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước”1. Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về lĩnh vực đầu tư, hợp tác nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019 “Về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”.
Nghị quyết số 50-NQ/TW khẳng định, sau hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế. Nhờ đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh và có hiệu quả, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới, như về thể chế, chính sách đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển; chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định; môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng, hiệu quả thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chưa cao…
Mặc dù vậy, Nghị quyết số 50-NQ/TW vẫn xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp. Nhà nước sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao; chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Nghị quyết cũng xác định sẽ ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Nghị quyết số 50-NQ/TW đặt ra 5 mục tiêu cụ thể đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài gồm: (1) vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); (2) vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); (3) tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao tăng 50% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 so với năm 2018; (4) tỷ lệ nội địa hoá tăng từ 20-25%, lên mức 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030 và (5) tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động từ 56% năm 2017 lên 70% vào năm 2025 và 80% vào năm 20302.
Đại hội XIII (2021) của Đảng nhấn mạnh sẽ “ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng lao động có kỹ năng; đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển; có liên kết, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu”3.
Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm về tăng cường nguốn vốn đầu tư nước ngoài của Đảng là nhất quán, xuyên suốt trong gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
2. Một số kết quả và giải pháp
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2023, vốn FDI đăng ký mới, điều chỉnh và vốn góp mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP-VG) của nhà đầu tư nước ngoài trong năm 2023 đạt gần 36,61 tỷ USD, tăng 32,1%; vốn FDI thực hiện đạt khoảng 23,18 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm 20224.
Từ năm 1988 đến năm 2023, cả nước có 39.140 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký gần 468,92 tỷ USD; tổng vốn thực hiện đạt khoảng 297,2 tỷ USD, bằng 63,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân; có 144 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam5.
Đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Năm 2018, 58,2% vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế, như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin…6, và phát triển nhiều ngành dịch vụ chất lượng cao, như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, siêu thị, khách sạn, du lịch...; tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, góp phần kích thích hoạt động thương mại nội địa; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến nay các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân; xét về địa phương, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 48/63 tỉnh thành phố của cả nước; Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án mới, chiếm 29,1%; Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu cả nước về số dự án mới, chiếm 38,8%.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, lĩnh vực đầu tư nước ngoài cũng có những hạn chế, tồn tại. Hiện tượng doanh nghiệp chuyển giá, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường khá phổ biến; tác động lan tỏa và liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực trong nước chưa được như kỳ vọng; định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, đối tác còn hạn chế; tuy đã có thu hút được nhiều công nghệ tốt nhưng chưa đạt được mục tiêu thu hút công nghệ và chuyển giao công nghệ.
Để tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng và hiệu quả, cần một số giải pháp, trong đó có các giải pháp về chiến lược, về thể chế. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo chuẩn mực thị trường hiện đại, hội nhập. Tôn trọng đầy đủ các quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu, quyền tài sản của nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm vận hành có hiệu quả các loại thị trường. Thúc đẩy thị trường hóa nhân tố sản xuất, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm chi phí hoạt động, chi phí đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, quy hoạch, quản lý lao động nước ngoài, du lịch, nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài theo hướng đồng bộ, thống nhất nhằm thực hiện đầy đủ chủ trương thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài có chọn lọc; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp này và nắm bắt các hình thức FDI mới.
Từ trước đến nay, những tập đoàn đa quốc gia đầu tư xuyên biên giới thông qua việc sở hữu trực tiếp cơ sở ở nước ngoài tại nước sở tại hoặc thông qua hoạt động thương mại tự do. Tuy nhiên gần đây, với sự nổi lên của các chuỗi giá trị toàn cầu, xu hướng này đang dần dần thay đổi và các tập đoàn đa quốc gia cũng ngày càng chuyển sang các phương thức đầu tư FDI mới để có được hiệu quả tốt hơn hoặc tiếp cận với thị trường nước ngoài bằng những hình thức đầu tư ít truyền thống hơn như thuê gia công, thuê ngoài dịch vụ, khoán nông nghiệp, nhượng quyền, cấp phép và quản lý theo hợp đồng. Do đó, trong tương lai, thay vì thiết lập sự hiện diện hữu hình tại Việt Nam, sẽ có những hình thức đầu tư nước ngoài mới được triển khai theo hướng tìm kiếm hiệu quả hoặc tìm kiếm thị trường thông qua đầu tư xuyên biên giới không góp vốn hoặc các hình thức đầu tư mới.
Việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài phải đi vào thực chất, cả về số lượng và chất lượng, theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó chú trọng chiều sâu; đảm bảo phát triển bền vững, khuyến khích đổi mới, sáng tạo và liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, nâng cao vị trí của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu và trình độ, năng lực sáng tạo của lực lượng lao động Việt Nam.
Cần xây dựng định hướng chiến lược về thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, giáo dục và đào tạo, du lịch chất lượng cao, dịch vụ tài chính, logistics và các dịch vụ hiện đại khác, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0.
Về mặt chính sách, khu vực đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục là một bộ phận của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài. Do đó, Chính phủ cần thể hiện sự đồng hành cùng các nhà đầu tư, đối xử bình đẳng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư tham gia đầu tư, kinh doanh thành công, đóng góp cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Ngày gửi: 23-8-2024; ngày thẩm định: 24-9-2024; ngày duyệt đăng: 29-9-2024
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 108
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T.1 tr.134