Tóm tắt: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Liên khu IV được thành lập gồm 6 tỉnh Bắc miền Trung từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên. Liên khu IV gồm 2 vùng, trong đó 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là địa bàn chiến sự ác liệt giữa ta và địch, 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc vùng tự do, nơi đông dân, nhiều của, đảm nhiệm chức năng hậu phương trực tiếp của “Bình-Trị-Thiên khói lửa”, và cũng là hậu phương lớn của chiến trường chính do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Liên khu IV còn được Trung ương giao nhiệm vụ tham gia giúp đỡ cách mạng Lào, trực tiếp là địa bàn Trung Lào. Trong Đông - Xuân 1953-1954 và Điện Biên Phủ, quân và dân Liên khu IV đã góp phần quan trọng vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Từ khoá: Liên khu IV; Điện Biên Phủ, Kháng chiến chống thực dân Pháp

1. Chủ trương của Đảng trong Đông-Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau 8 năm kiên cường chiến đấu, đến năm 1953, cuộc kháng chiến kiến quốc của của quân và dân ta tiếp tục giành được nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao... Đặc biệt, sau các thắng lợi của các chiến dịch Hòa Bình (2-1951), Tây Bắc (12-1952), Thượng Lào (4-1953), thế và lực của quân và dân ta trên chiến trường ngày càng được củng cố vững mạnh, đẩy quân Pháp lún sâu vào nhiều khó khăn, ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Tướng Pháp Yves Gras đã thừa nhận rằng “tình hình quân sự vẫn dần dần xấu đi. Sự cân bằng giữa các lực lượng nói chung vẫn được duy trì nhưng dễ trở nên bấp bênh khắp nơi, đạo quân viễn chinh buộc phải lui về phòng ngự. Việt Minh đã giành lại quyền chủ động... Những phương hướng của tương lai thật là u ám, hành động quân sự lâm vào một ngõ cụt”1.

Trước tình hình đó, để cứu vãn tình thế, tháng 7-1953, thực dân Pháp đã thông qua kế hoạch Nava hòng chuyển bại thành thắng trong vòng 18 tháng. Trong đó, Thu-Đông 1953 và Xuân 1954, thực hiện phòng ngự ở Bắc vĩ tuyến 18, tập trung binh lực để mở các chiến dịch quân sự ổn định miền Trung và miền Nam từ vĩ tuyến 18 trở vào. Từ mùa Thu năm 1954, Pháp tập trung quân quyết chiến với quân chủ lực của ta ở miền Bắc, giành thắng lợi quyết định. Để thực hiện kế hoạch này, Nava đã tập trung phát triển thêm nhiều đơn vị lính ngụy, tăng nhanh số quân ngụy lên 310.000 người; lực lượng cơ động có 84 tiểu đoàn, trong đó tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn2. Đây là những cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp dưới sự bảo trợ của Mỹ ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung.

Về phía ta, ngay tháng 1-1953, HNTƯ 4 khóa II trong khi xác định phương hướng chiến lược chính của ta trong năm 1953 là “tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu”3  nhưng vẫn nêu ra quan điểm “quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch”4.

Cùng với việc xác định phương hướng tác chiến, tháng 7-1953, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ủy ban chi viện tiền tuyến nhằm huy động tối đa sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Ủy ban do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Trước đó, ngày 16-6-1953, Ban Bí thư ra Chỉ thị “Về việc lãnh đạo công tác làm cầu đường giao thông vân tải”, nêu rõ: “nhiệm vụ hiện nay là phải làm những đường tốt cần thiết để bảo đảm việc vận chuyển quân sự, để sẽ bớt gánh nặng vận chuyển cho dân và đồng thời cũng để mở rộng việc vận chuyển kinh tế”5. Ban Bí thư yêu cầu Liên khu IV, tỉnh Thanh Hóa cùng một số liên khu khác phải tăng cường công tác cầu đường, cử những cán bộ tích cực, có năng lực phụ trách công việc này.

Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn nhiệm vụ quân sự Đông-Xuân 1953-1954 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị cho rằng kế hoạch Nava có thể gây cho ta một số khó khăn nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn và nhược điểm lớn. Hội nghị xác định: “sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ”6.

Hội nghị quyết định đưa quân lên các áp sát các vị trí chiến lược quan trọng ở vùng rừng núi, nơi địch có nhiều sơ hở nhằm phá tan kế hoạch tập trung quân của Nava, trong đó có Trung Lào, địa bàn do Liên khu IV phụ trách.

Thực hiện chủ trương trên, giữa tháng 11-1953, bộ đội chủ lực ta tiến lên Tây Bắc. Thấy vậy, ngày 20-11-1953, Nava đã điểu 6 tiểu đoàn chiếm giữ Điện Biên Phủ và cho xây dựng phòng tuyến nối Thượng Lào với Điện Biên Phủ, đến ngày 3-12-1953, số quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã tăng lên 9 tiểu đoàn, trong đó có 3 tiểu đoàn pháo. Trước tình hình đó, ngày 6-12-1953, Tổng Quân ủy cho rằng trận Điện Biên Phủ có thể “sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước đến nay, không kém Nà Sản và đường sá còn xa hơn. Vì vậy, sự chuẩn bị có nhiều khó khăn cần ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp, nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn”7.

Tổng Quân ủy dự kiến thời gian diễn ra chiến dịch Biện Biên Phủ khoảng 45 ngày. Số dân công tham gia phục vụ chiến dịch từ trung tuyến trở lên khoảng 14.500 người, gồm cả dân quân theo đơn vị, vận tải xe đạp và khuân vác. Bên cạnh đó, còn có dân công của Hội đồng cung cấp mặt trận với thời gian phục vụ khoảng 3 tháng. Về lương thực, cần huy động 4.200 tấn cùng với số lương thực cho dân công của Hội đồng cung cấp mặt trận. Về thực phẩm cần 100 tấn rau khô, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường8. Tổng Quân ủy xác định “tất cả những thứ này chủ yếu sẽ đưa từ Thanh Hóa lên”9.

Sau khi nghe báo cáo của Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị phân tích và kết luận: 

Về phía địch, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng có cái yếu cơ bản là nó bị cô lập, mọi việc tiếp viện, tiếp tế phải dựa vào đường không.

Về phía ta, quân đội với chất lượng đã được nâng cao thêm một bước trong chỉnh huấn, chỉnh quân, với kinh nghiệm sẵn có và sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật, tới đây đã có thể đánh được tập đoàn cứ điểm.

Vấn đề đường sá tiếp tế cho chiến dịch là một khó khăn rất lớn nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, cả hậu phương đang chuyển động mạnh trong cải cách ruộng đất sẽ tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến và nhất định bảo đảm cung cấp cho chiến dịch.

Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy10.

Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội làm Tư lệnh, đồng thời là Bí thư Đảng ủy mặt trận. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch11.

Như vậy, đến 3-12-1953, Bộ Chính trị đã chính thức quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Để giành thắng lợi, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đã tập trung cao độ về con người và vật chất cho chiến dịch này, với tinh thần “tất cả để chiến thắng”.

 

2. Sự phối hợp của Liên khu IV trên mặt trận quân sự

Từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (cuối năm 1946) đến cuối năm 1953, quân và dân các tỉnh Bình-Trị-Thiên đã không ngừng xây dựng lực lượng, kiên cường chiến đấu, giữ vững thế tiến công, bẻ gãy các cuộc càn quét của địch, giành nhiều thắng lợi quan trọng; các cơ sở đảng, vùng du kích được giữ vững và mở rộng. Vùng căn cứ địa của Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình được chắp nối, tạo nên thế liên hoàn sang Savanakhét và Saravan (Lào). Các cơ quan chỉ đạo kháng chiến được kiện toàn, năng lực tổ chức chỉ huy được nâng lên. Trong khi đó, vùng hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh luôn ổn định và phát triển vững chắc trên tất cả các mặt, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh; có khả năng huy động nguồn lực to lớn về sức người, sức của phục vụ tiền tuyến và sẵn sàng đập tan mọi hành động quân sự của địch nếu chúng liều lĩnh tấn công vào Thanh-Nghệ-Tĩnh.

Lực lượng vũ trang Liên khu IV qua 8 năm xây dựng và chiến đấu đã lớn mạnh không ngừng, đánh thắng các cuộc càn quét, tiến công của quân Pháp. Thực hiện chủ trương của Trung ương về xây dựng các đại đoàn quân chủ lực, những đơn vị quân chủ lực của Liên khu IV hoạt động ở Bình-Trị-Thiên đã chuyển ra vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh để xây dựng thành Đại đoàn 325. Lực lượng tác chiến ở chiến trường ở Bình-Trị-Thiên chỉ còn bộ đội địa phương gồm 3 tiểu đoàn của 3 tỉnh, 17 đại đội huyện, lực lượng dân quân, du kích khoảng 8.000 người. Trong khi đó, tại Thanh-Nghệ-Tĩnh, các đơn vị chủ lực của Liên khu IV và bộ đội địa phương tỉnh và huyện đã trưởng thành, kết hợp xây dựng, huấn luyện với tác chiến bảo vệ hậu phương, đồng thời sẵn sàng cơ động bổ sung cho các hướng của Liên khu. Lực lượng dân quân, du kích ở những nơi xung yếu được củng cố, chấn chỉnh lại, ban chỉ huy các đội du kích như xã đội, xóm đội được kiện toàn.

Tại Trung Lào, bên cạnh hai đại đội chủ lực của Liên khu IV, lực lượng vũ trang địa phương đã phát triển mạnh mẽ với 120 tiểu đội, bốn trung đội, hai đại đội bộ đội địa phương. Sự gia tăng của lực lượng vũ trang ở Trung Lào đã tạo những điều kiện thuận lợi cho liên quân Việt-Lào thực hiện thắng lợi kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-195412.

Trong kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954, Liên khu IV được Trung ương giao nhiệm vụ: Tham gia cùng quân và dân nước bạn mở chiến dịch Trung Lào; Tác chiến bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng và bảo đảm cung cấp mọi nhu cầu phục vụ chiến dịch Trung Lào và Chiến dịch Điện Biên Phủ; Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở chiến trường BìnhTrị-Thiên, tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân địch, phối hợp với chiến trường chính13.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 21-12-1953, Hội nghị Liên khu IV lần 4 xác định: Các tỉnh Bình-Trị-Thiên, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch tạm chiếm, đánh mạnh trên các tuyến giao thông đường số 9, số 1 và đường xe lửa, phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính. Ở Trung Lào, tăng cường xây dựng và phát triển các đơn vị tình nguyện phối hợp giúp đỡ bạn về mọi mặt, xây dựng các đơn vị giải phóng quân và phát triển du kích, xây dựng căn cứ kháng chiến và cơ sở nhân dân, chuẩn bị cùng lực lượng chủ lực của Bộ mở chiến dịch Trung Lào. Ở Thanh-Nghệ-Tĩnh, ra sức phục vụ tiền tuyến, tích cực xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích; có kế hoạch bảo vệ vững chắc hậu phương chiến lược và đưa lực lượng đi phối hợp chiến đấu ở các chiến trường14.

Ngày 15-2-1954, Liên Khu ủy mở Hội nghị cán bộ, nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh đấu tranh vũ trang ở vùng địch hậu Bình-Trị-Thiên và Nga Sơn; ra sức xây dựng, củng cố lực lượng mở rộng căn cứ du kích và khu du kích, chuẩn bị sẵn sàng, thường xuyên không để sơ hở một nơi nào, lúc nào, kiên quyết tiêu diệt địch, phá âm mưu đánh vào Thanh-Nghệ-Tĩnh; tham gia vào việc bảo đảm cuộc phát động quần chúng cải cách ruộng đất thành công, củng cố căn cứ và đẩy mạnh cuộc kháng chiến của quân đội Pathet Lào15. Tiếp đó, Hội nghị cán bộ toàn Liên khu IV (từ ngày 20 đến ngày 27-2-1954) bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 1954. Hội nghị khẳng định, Thanh-Nghệ-Tĩnh là vùng tự do rộng lớn, đông người, nhiều của, là hậu phương trực tiếp của chiến trường chính và của các chiến trường Trung Lào, Thượng Lào, Bình-Trị-Thiên. Do đó, Thanh-Nghệ-Tĩnh phải ra sức phục vụ tiền tuyến, tổ chức xây dựng lực lượng bảo vệ địa phương; đồng thời đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. Đối với Bình-Trị-Thiên, cuộc chiến đấu ở đây sẽ càng gay go và quyết liệt hơn, do đó phải tăng cường đoàn kết toàn dân, tích cực “đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá âm mưu của giặc “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”, tích cực củng cố và giữ vững vùng căn cứ du kích; ra sức củng cố và phát triển khu du kích, củng cố và phát triển công tác vùng tạm bị chiếm; ra sức phục hồi và bảo vệ sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp”16.

Thực hiện những nhiệm vụ đề ra, Liên khu IV tích cực, chủ động tham gia Mặt trận Trung Lào (Mặt trận D)17, tăng cường 200 cán bộ cho Ban cán sự Trung Lào và cử đồng chí Võ Thúc Đồng sang làm Bí thư Ban cán sự Trung Lào, Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào và tham gia Bộ Chỉ huy liên quân Việt- Lào18. Đồng thời, bổ sung đầy đủ quân số cho Trung đoàn 280 Quân tình nguyện Việt Nam (thuộc Liên khu IV) đang hoạt động tại Trung Lào. Ngoài ra, Liên Khu ủy còn huy động Tiểu đoàn 290 của Hà Tĩnh, Tiểu đoàn 198 và Đại đội 124 của Nghệ An cùng tham gia chiến dịch. Trong chiến dịch này, Đại đoàn 325 sau khi được xây dựng vững mạnh ở hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh đã trở thành lực lượng chủ công trong chiến dịch Trung Lào.

Nhằm bảo đảm hậu cần, Liên Khu ủy IV thành lập Hội đồng cung cấp chiến dịch, huy động nguồn lực của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh để phục vụ chiến dịch trên đất bạn.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào tình hình thực tế trên chiến trường, Bộ Chỉ huy chiến dịch Trung Lào đề ra phương châm tác chiến: bí mật, bất ngờ, đánh chắc thắng; chỉ đánh các vị trí trọng yếu, tranh thủ tiêu diệt địch trong vận động, tiến lên giải phóng một phần đất đai; hết sức giữ gìn lực lượng để tiến công liên tục, đánh dài hơi; kết hợp giữa tác chiến với địch vận, tác chiến với vận động quần chúng; đồng thời xây dựng vùng căn cứ kháng chiến của Lào.

Theo kế hoạch, từ cuối tháng 11-1953, các đơn vũ trang của ta từ địa bàn Liên khu IV tiến sang Lào. Lo sợ mất địa bàn chiến lược này, quân Pháp đã tăng cường lực lượng chiếm giữ Trung Lào. Chúng hình thành ba cụm phòng ngự ở khu vực biên giới Việt - Lào nhằm ngăn chặn lực lượng vũ trang của ta từ địa bàn Liên khu IV tiến sang. Cụm thứ nhất ở khu vực Na Pê, Căm Cớt, Lạc Sao; cụm thứ hai ở Banaphào, Nhomarát và cụm thứ ba ở Nậm Then.

Với tinh thần chủ động nắm bắt thời cơ, đêm 21-12-1953, chiến dịch Trung Lào mở màn bằng trận đánh vị trí quân sự quan trọng của địch ở Khăm He, sớm hơn dự kiến hai ngày19. Cùng với việc đánh Khăm He, liên quân Việt - Lào mở rộng chiến dịch, tấn công địch trên nhiều hướng, chiếm giữ nhiều vị trí quan trọng, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn ở khu vực này.

Lo sợ mất Trung Lào, cuối tháng 12-1953, Nava điều 9 tiểu đoàn từ đồng bằng Bắc Bộ sang Xavanakhet, biến Sênô trở thành một nơi tập trung quân mới của Pháp, làm phá sản một phần kế hoạch quân sự của Nava.

Khi quân Pháp tập trung về Sênô, liên quân Việt - Lào bao vây vị trí này và tiếp tục tấn công địch ở một số vị trí khác, mở rộng vùng giải phóng. Ngày 8-1-1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch Trung Lào mở đợt tấn công lần thứ 2, đánh vào các vị trí quan trọng của địch, buộc Nava phải tăng cường lực lượng ở Sênô lên tới 19 tiểu đoàn.

Từ giữa tháng 3-1954, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị đẩy mạnh tác chiến trên các chiến trường phối hợp nhằm tiếp tục phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho mặt trận Điện Biên Phủ giành thắng lợi, liên quân Việt-Lào mở rộng địa bàn tác chiến xuống Hạ Lào.

Ngày 25-4-1954, Hội nghị Thường vụ Liên Khu ủy IV nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng trước mắt của mặt trận Trung Lào là phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ; kiên trì bám sát địch, đánh nhỏ ăn chắc, cố giữ chân địch, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Thực hiện chủ trương này, liên quân Việt-Lào tiếp tục tổ chức đánh tiêu hao, tiêu diệt địch. Tính chung trong chiến dịch Trung Lào, liên quân Việt-Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 6.100 tên (hầu hết là lính Âu - Phi tinh nhuệ), thu 1.200 khẩu súng, hơn 2.000 xe ô tô quân sự, phá tan tuyến phòng ngự đường 8, 12 của quân Pháp20, vùng giải phóng được mở rộng lên hàng chục nghìn km221 từ Trung Lào xuống Hạ Lào, đồng thời giam chân hai binh đoàn cơ động của Pháp ở chiến trường này. Với những thắng lợi đó, chiến dịch Trung Lào đã góp phần làm phá sản kế hoạch quân sự của Nava.

Song song với các hoạt động quân sự trên đất bạn, tại chiến trường Bình-Trị-Thiên, Bộ Tổng Tư lệnh yêu cầu ba tỉnh phải nắm chắc và quán triệt phương châm đẩy mạnh du kích chiến tranh, tích cực chống càn, tiêu diệt sinh lực địch, củng cố căn cứ du kích và khu du kích, củng cố bộ đội địa phương huyện, phát triển du kích xã; kết hợp hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị. Quân và dân ba tỉnh Bình-Trị-Thiên đã đánh sập nhiều cầu cống, đánh phá các các đoàn tàu chở hàng quân sự trên đường số 1, 9 gây cho địch nhiều thiệt hại; tiêu diệt và bức rút 6 căn cứ địch, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa và một phần huyện Cam Lộ (Quảng Trị). Cuối tháng tháng 2-1954, bộ đội và du kích khu vực Nam Quảng Trị, Bắc Thừa Thiên đã anh dũng bẻ gãy cuộc càn quét của 5 tiểu đoàn địch đánh vào vùng căn cứ đồng bằng Triệu-Hải-Phong-Quảng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, giải thoát nhiều thanh niên bị bắt lính22. Những chiến công này của quân và dân ba tỉnh góp phần tạo thế, tạo lực của ta trên chiến trường, buộc quân Pháp không thể rút lực lượng ở Bình-Trị -Thiên để hỗ trợ các chiến trường khác. Điều đó góp phần tạo điều kiện cho lực lượng của ta ở trên các chiến trường đánh địch thuận lợi hơn, trong đó có chiến trường Điện Biên Phủ.

 

3. Sự phối hợp của Liên khu IV trên mặt trận huy động nhân lực, vật lực bảo đảm hậu cần cho các chiến trường

Trong quá trình chuẩn bị mở các chiến dịch trong Đông-Xuân 1953-1954, Trung ương Đảng xác định Liên khu IV, mà trực tiếp là các tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh tiếp tục là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho chiến dịch. Để tập trung hoàn thành nhiệm vụ cung cấp hậu cần phục vụ các chiến trường, tháng 10-1953, Thường vụ Liên khu ủy IV quyết định thành lập Hội đồng cung cấp Liên khu. Thanh Hóa là tỉnh có nguồn nhân lực, vật lực lớn nhất Liên khu IV lại gần các chiến trường Bắc Bộ nên được phép thành lập Hội đồng cung cấp tỉnh. Đến cuối tháng 2-1954, để tăng cường huy động các nguồn lực cho các chiến trường, Liên khu IV tiếp tục chỉ đạo hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành lập Hội đồng cung cấp cấp tỉnh.

Liên khu ủy IV chỉ đạo các địa phương chủ động xây dựng các tuyến đường chiến lược, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hậu cần từ hậu phương ra mặt trận. Năm 1953, Thanh Hóa tập trung sửa chữa hai tuyến đường chiến lược Vạn Mai - Chuối và Trai Ngọc- Vĩnh Lộc, với tổng chiều dài 200km. Nghệ An mở đường 15A từ Đô Lương qua Sen Sẻ - Phủ Quỳ - Lâm La - Bãi Xăng ra tới Thanh Hóa. Hà Tĩnh cũng huy động được hàng vạn dân công ngày đêm làm mới và tu sửa các tuyến đường 8, đường 18, đường 74, đường Truông Mèn, đường Linh Cảm, Tân Ấp. Với sự cố gắng đó, một số tuyến đường giao thông quan trọng được thông suốt như: đường ô tô Vạn Mai-Như Xuân-Đô Lương-Nam Đàn; Kim Tân-Vĩnh Lộc; đường thủy Thanh Hóa-Vinh, Vinh- Chu Lễ, Rác-Kỳ Anh,...

Các phương tiện vận chuyển cũng được huy động tối đa. Cuối năm 1953, Liên khu có 10 ôtô, 488 xe trâu, bò kéo, 320 xe ba gác, hàng ngàn xe đạp thồ, xe cút kít, 1.415 thuyền, 19 ca nô với trọng tải 7.148 tấn23. Đây là những phương tiện quan trọng luôn sẵn sàng phục vụ các chiến trường.

Các tỉnh chủ động, tích cực huy động một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm tập kết về các trạm sẵn sàng phục vụ các chiến trường khi có yêu cầu.

Từ cuối năm 1953, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình được giao nhiệm vụ tập trung cung cấp nhân lực, vật lực cho chiến dịch Trung Lào. Các tỉnh đã huy động được 54.075 người đi dân công, 9 ô tô, 1.429 thuyền, 2.217 xe đạp thồ cùng nhiều loại phương tiện vận tải khác, cùng hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch. Cùng với đó, hệ thống trạm vận tải từ Nghệ An, Hà Tĩnh sang Lào đã được xây dựng24.

Để đưa nguồn tiếp tế ra chiến trường, lực lượng dân công đã tập trung sửa chữa và làm mới tuyến đường dài 500 km từ Vạn Mai đi Banaphào. Đồng thời, vận chuyển 3.409 tấn lương thực, 154 tấn muối, 2.102 trâu bò và 50 tấn vũ khí phục vụ chiến trường25.

Trên hướng phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Văn Tiến Dũng trực tiếp vào Liên khu IV giao nhiệm vụ và chỉ đạo việc huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến trường. Đồng chí Hoàng Anh, Bí thư Liên khu ủy IV cũng trực tiếp ra Thanh Hóa đôn đốc, chỉ đạo công tác huy động nhân lực, vật lực cho chiến trường. Với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đã có những đóng góp vô cùng quan trọng cho kháng chiến.

Để đảm bảo cung cấp cho chiến trường, nhân dân Thanh Hóa đã gồng mình, dốc sức huy động 30% tổng số người trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng dân công, cùng 3.530 xe đạp thồ, 1.126 thuyền, 31 ô tô, 180 xe bò, 42 xe ngựa, 3 voi để vận chuyển lương thực, thực phẩm và vũ khí, quân trang, quân dụng phục vụ chiến trường. Tỉnh Thanh Hóa huy động được 11.000 tấn lương thực, thực phẩm, chiếm hơn 40% tổng mức huy động của toàn hậu phương26. Chỉ tính riêng đợt III phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động được khoảng 96.000 lượt người tham gia dân công, chiếm 80% tổng số dân công trên toàn tuyến, trong đó có 25.000 nữ27.

Tỉnh Nghệ An, phát lệnh tổng động viên nhằm huy động các nguồn lực trong nhân dân phục vụ chiến trường. Chỉ tính riêng ngày mùng một Tết Giáp Ngọ (1954), toàn tỉnh huy động được 32.000 người tham gia lực lượng dân công, cùng hàng ngàn tân binh, thanh niên xung phong, công nhân kỹ thuật quân giới bổ sung cho các đơn vị kháng chiến. Nhiều thiếu niên 15-16 tuổi cũng hăng hái đăng ký tham gia lực lượng thanh niên xung phong. Bên cạnh đó, chỉ trong một thời gian ngắn, Nghệ An đã huy động được 1.496 tấn thóc thuế28.

Bên cạnh việc cung cấp cho các chiến dịch lớn do Trung ương chỉ đạo, nhân dân Thanh-Nghệ-Tĩnh còn bảo đảm việc cung cấp cho chiến trường Bình-Trị-Thiên. Trong đó, tỉnh Hà Tĩnh đã cung cấp cho các tỉnh Bình-Trị-Thiên 2.235 tấn gạo, 29 tấn muối và vận chuyển 30 tấn vũ khí bao gồm mìn, lựu đạn, bộc phá nhằm tăng cường sức chiến đấu của quân và dân Bình-Trị-Thiên.

Sự phối hợp cùng những đóng góp to lớn của quân và dân Liên khu IV trên mặt trận quân sự và mặt trận huy động sức người, sức của, bảo đảm cung cấp hậu cần cho các chiến dịch quân sự từ cuối năm 1953 đến tháng 5-1954, đã góp phần đặc biệt quan trọng vào những chiến thắng chung của dân tộc, nhất là trong chiến thắng ở mặt trận Điện Biên Phủ. Thanh Hóa - địa phương có những đóng góp lớn nhất đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi tại buổi nói chuyện của Người với các đại biểu nhân dân Thanh Hóa ngày 13-6-1957: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó”29 .

 

 Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 5-2023

1. Général Yves Gras: Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Plon, Paris, 1979 (bản dịch tiếng Việt)

2. Xem: Trịnh Nhu: “Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Bác Hồ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ” (in trong sách: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Viện Lịch sử Đảng: 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb CTQG, H, 2014, tr. 8-9)

3,4,5,7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T. 14, tr. 130, 130, 244, 594

6. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb CTQH, H, 2014, tr. 192

8. Thực tế, sau đó Chiến dịch Điện Biên Phủ phải kéo dài thời gian chuẩn bị và số nhân lực, vật lực huy động cao hơn dự kiến ban đầu rất nhiều và thời gian diễn ra chiến dịch kéo dài hơn dự kiến ban đầu 11 ngày (từ ngày 13 -3 đến ngày 7-5-1954)

9, 10, 11, 22. Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQGST, H, 2018, T. 1, Q. 2, tr. 438, 439-440, 439-440, 447

12, 14, 15, 23, 24, 25, 26. Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu IV (1945-1954), Nxb CTQG, H, 2003, tr. 445-447, 451, 452, 514-515, 516, 516-517, 520-521

13. Theo: Quân khu IV: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954, Nxb QĐND, H, 1980, tr. 346-347

16. Nghị quyết số 11/NQLK4 của Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Liên khu IV (từ ngày 20-2-1954 đến ngày 27-2-1954), tài liệu Văn phòng Trung ương Đảng, Phông Liên khu IV

17. Mặt trận Trung Lào do đồng chí Hoàng Sâm, Đại Đoàn trưởng Đại đoàn 304 làm Tư lệnh, đồng chí Trần Quý Hai, Chính ủy, kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 325 làm Chính ủy

18. Tại Trung Lào, đồng chí Võ Thúc Đồng, Bí thư Ban cán sự Trung Lào cùng với đồng chí Trường Sinh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 280 và đồng chí Khăm Tày, Tư lệnh khu Trung Lào đã thống nhất xác định những nội dung cơ bản về những vấn đề phối hợp tác chiến trên chiến trường; đào tạo cán bộ các cấp chuẩn bị cho việc thành lập chính quyền cách mạng ở vùng giải phóng

 19. Theo kế hoạch ban đầu chiến dịch mở màn vào ngày 23-12-1954 với mục tiêu tấn công là cứ điểm Mụ Giạ và Banaphào nhưng do khai thác được những thông tin của địch, ta chuyển thời gian và địa điểm tấn công

20. Nguyễn Khắc Thuần: Khu 4 - Trung Lào chia lửa với Điện Biên;  https://baohatinh.vn/chinh-tri/khu-4-trung-lao-chia-lua-voi-dien-bien/80042.htm, cập nhật ngày 16-4-2014

21. Một số tài liệu cho rằng vùng giải phóng rộng 400.000 km2, điều này không chính xác vì con số này lớn hơn tổng diện tích nước Lào

27. Xem Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa: Lịch sử Đảng bộ Thanh Hóa (sơ thảo), tập I (1930-1954), 1991, tr 205

28. Xem Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An, tập 1, Nxb CTQG, H, 1998, tr 269

29. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 10, tr. 598.