Tóm tắt: Với những thành tựu đạt được của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục đề ra chủ trương “thu hút vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động”. Trong bối cảnh mới và chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cần tiếp tục có những chủ trương, chính sách phù hợp để khai thác tốt nhất khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bài viết phân tích các chủ trương, chính sách và một số kết quả đạt được về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2023.

Từ khoá: Chủ trương của Đảng; chính sách của Nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; 2016-2022

1. Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về đầu tư nước ngoài

Đại hội XII (2016) của Đảng chủ trương: “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước”1. Quán triệt chủ trương của Đại hội XII, ngày 20-8-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW “về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”, xác định mục tiêu tổng quát: Hoàn thiện thể chế, chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài có tính cạnh tranh cao, hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khắc phục căn bản những hạn chế, bất cập đang tồn tại trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách về hợp tác đầu tư nước ngoài2.

Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu”3, tuy nhiên, khi Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sang chiều sâu và bền vững, đối với đầu tư nước ngoài, cần “Chuyển trọng điểm chính sách thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, có giá trị gia tăng cao, lấy hiệu quả và công nghệ sử dụng làm thước đo chủ yếu, quan trọng nhất đi cùng với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc, ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, có tác động lan toả, kết nối chặt chẽ, hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước”4.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong đó là Luật Đầu tư (sửa đổi năm 2020) với nhiều quy định mới về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tận dụng nguồn lực từ trong nước cũng như thúc đẩy việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  vào Việt Nam.

Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm thu hút đầu tư, tạo môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: Quyết định số 1851/QĐ-TTg, ngày 27-12-2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 67/QĐ-TTg, ngày 2-10-2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Ảnh hưởng của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”; Nghị quyết số 58/NQ-CP, ngày 27-4-2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; Nghị định số 132/2020/NĐ-CP, ngày 5-11-2020 của Chính phủ “Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết”; đặc biệt là Quyết định 667/QĐ-TTg ngày 2-6-2022 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 với các nhiệm vụ cụ thể: “(1) Thu hút dự án đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa tích cực, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; (2) Mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, kiến thức quản lý, văn hóa doanh nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm nội địa; thúc đẩy các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước, xác lập và tăng cường vai trò của doanh nghiệp Việt Nam trong cộng đồng quốc tế; (3) Nâng cao hiệu quả, chất lượng toàn diện trong công tác thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tăng tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội, tương xứng với những ưu đãi, hỗ trợ được hưởng; (4) Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính đạt tầm cỡ khu vực và quốc tế tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn tới”5.

2. Một số kết quả

Quá trình chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các địa phương, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có sự phát triển đặc biệt. giai đoạn 2010-2022 trên một số nội dung sau:

Một là, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

Trong giai đoạn 2016-2022, số lượng việc làm cho người lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên. Nếu như năm 2016, số việc làm trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn ít hơn so với khu vực kinh tế nhà nước thì đến năm 2018 đã cao hơn. Trong hai năm 2020-2021, số lượng việc làm của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm so với năm 2019, điều này cho thấy khu vực kinh tế này có bị tác động bởi đại dịch COVID-19. Cụ thể: Năm 2016, số lượng việc làm trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 3.591.000, khu vực kinh tế nhà nước là 4.702.000; năm 2018, số lượng việc làm trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 4.541.000, khu vực kinh tế nhà nước là 4.526.000; năm 2023, số lượng việc làm trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 5.261.000, kinh tế nhà nước là 3.995.0006.

Thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2016-2022 có xu hướng tăng nhanh nhất so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước. Cụ thể: Năm 2016, thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 8.505.000 đồng, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 6.406.000 đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 11.411.000 đồng; năm 2022, thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 12.638.000 đồng, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 10.200.000 đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 16.928.000 đồng7.

Hai là, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) và vào ngân sách Nhà nước

Trong giai đoạn 2016-2022, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng dần. Năm 2016, đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thấp nhất so với khu vực kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước; đến năm 2022, đóng góp của khu vực kinh tế này tăng lên tương đương với khu vực kinh tế nhà nước. Cụ thể: năm 2016, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 1.003.123 tỷ đồng, chiếm 17,8% GDP của cả nước; đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước là 1.284.522 tỷ đồng, chiếm 22,8% GDP và đóng góp của khu vực kinh tế ngoài nhà nước 2.832.253 tỷ đồng, chiếm 50,2% GDP của cả nước; năm 2022, đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên 1.953.549 tỷ đồng, chiếm 20,5% GDP của cả nước, đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước 1.960.926 tỷ đồng, chiếm 20,5% GDP của cả nước và đóng góp của khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 4.818.157 tỷ đồng, chiếm 50,5% GDP của cả nước8.

Về đóng góp vào ngân sách Nhà nước, trong giai đoạn 2016 - 2022, đóng góp vào ngân sách Nhà nước của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần, có những năm đóng góp nhiều nhất, nhưng nhìn chung mức đóng góp của khu vực kinh tế này vẫn thấp hơn khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Ngoài ra, đóng góp cho ngân sách Nhà nước của có vốn đầu tư nước ngoài năm 2020 giảm so với năm 2019, điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Cụ thể: Năm 2016, đóng góp vào ngân sách Nhà nước của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 162.934 tỷ đồng, nhiều nhất so với hai khu vực còn lại là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 157.083 tỷ đồng và khu vực doanh nghiệp nhà nước 152.975 tỷ đồng; năm 2022, đóng góp vào ngân sách Nhà nước của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 243.425 tỷ đồng, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 307.630 tỷ đồng và khu vực doanh nghiệp nhà nước 176.306 tỷ đồng9.

Ba là, không ngừng gia tăng số lượng, vốn sản xuất kinh doanh bình quân, giá trị tài sản cố định và quy mô doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2016 - 2022, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần, từ 14.002 doanh nghiệp năm 2016 tăng lên 22.930 doanh nghiệp năm 202210. Mức tăng trưởng này góp phần hiện thực hoá mục tiêu của Đại hội XIII của Đảng là “phấn đấu đến năm 2025, có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động”11 và “phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp”12.

Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hng năm của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2016 – 2022 cũng có xu hướng tăng, đến năm 2022 tương đương với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể: năm 2016, vốn sản xuất kinh doanh bình quân hng năm của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4.728.000 tỷ đồng, khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 7.609.000 tỷ đồng; đến năm 2022 đã tăng lên tương ứng là 11.330.000 tỷ đồng và 11.467.000 tỷ đồng13. Như vậy, sau 6 năm vốn sản xuất kinh doanh bình quân của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng gần gấp 3 lần.

Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2016 - 2022 cũng có xu hướng tăng nhanh, nếu năm 2016 giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ bng khoảng 1/2 so với khu vực doanh nghiệp nhà nước, thì đến năm 2022 đã có sự đảo ngược. Cụ thể: năm 2016, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ là 2.328 nghìn tỷ đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 4.367 nghìn tỷ đồng; đến năm 2022, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên là 4.334 nghìn tỷ đồng, trong khi khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm còn 2.532 nghìn tỷ đồng14.

Trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có xu hướng tăng và chỉ đứng sau khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể: năm 2016, trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 302,4 triệu đồng, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 175,6 triệu đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 1.053,6 triệu đồng; năm 2022, trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên là 500,5 triệu đồng, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 386,7 triệu đồng, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 1.145,3 triệu đồng15. Số liệu này cho thấy tại sao thu nhập bình quân tháng của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn cao hơn khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Số lượng doanh nghiệp có quy mô vốn trên 200 tỷ đồng và quy mô lao động trên 500 lao động có xu hướng tăng, trong đó, số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô trên 500 lao động luôn đứng thứ nhất. Cụ thể: Về quy mô vốn trên 200 tỷ đồng, năm 2021, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 4.475 doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 15.025 doanh nghiệp; năm 2022 tăng lên tương ứng là 4.736 doanh nghiệp và 15.512 doanh nghiệp16. Về quy mô doanh nghiệp trên 500 lao động, năm 2021, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 1.875 doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 1.526 doanh nghiệp; năm 2022 tăng lên tương ứng là 1.913 doanh nghiệp và 1.533 doanh nghiệp17.

Trong những năm 2016- 2022, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng sôi động, nhiều tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp lớn với công nghệ hiện đại đầu tư vào Việt Nam; quy mô vốn và chất lượng dự án tăng, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người lao động; nâng cao trình độ, năng lực sản xuất; tăng thu ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế... Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng thường đi kèm với những bất cập, rủi ro: các hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui”, đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng tác động tiêu cực đến sức cạnh tranh của các ngành kinh tế trong nước; thông qua đầu tư, nước ngoài có thể can thiệp vào các hoạt động chính trị nội bộ, kiểm soát các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp chiến lược hoặc đưa những công nghệ lạc hậu, không thích hợp, gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tác động có hại đến văn hoá bản địa, sức khoẻ và an toàn của người dân.

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian tới, để tranh thủ được những lợi ích của đầu tư nước ngoài mang lại nhằm phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển đất nước và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sang chiều sâu và bền vững, Đange, Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục có những chủ trương, chính sách phù hợp để không ngừng khuyến khích phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

 

Ngày nhận: 12-8-2024; ngày biên tập: 30-11- 2024; ngày duyệt đăng: 25-1-2025

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr.108

2. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-50-nqtw-ngay-2082019-cua-bo-chinh-tri-ve-dinh-huong-hoan-thien-the-che-chinh-sach-nang-cao-chat-luong-hieu-qua-5629)

3, 4, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. 1, tr. 130, 240-241. 240

5. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Quyet-dinh-667-QD-TTg-2022-Chien-luoc-hop-tac-dau-tu-nuoc-ngoai-2021-2030-515717.aspx, truy cập ngày 5-1-2025

6. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0238&theme=D%C3%A2n%20s%E1%BB%91%20v%C3%A0%20lao%20%C4%91%E1%BB%99ng)

7. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0533&theme=Doanh%20nghi%E1%BB%87p)

8. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0304-05&theme=T%C3%A0i%20kho%E1%BA%A3n%20qu%E1%BB%91c%20gia)

9. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0313&theme=T%C3%A0i%20kho%E1%BA%A3n%20qu%E1%BB%91c%20gia)

10. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0506&theme=Doanh%20nghi%E1%BB%87p)

11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. 2, tr. 126

13, 14, 15, 16, 17. Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0515&theme=Doanh%20nghi%E1%BB%87p).