Tóm tắt: Hội nghị Fontainebleau (từ ngày 6-7 đến ngày 10-9-1946) là nỗ lực ngoại giao quan trọng nhằm tìm kiếm một giải pháp chính trị cho quan hệ Việt Nam - Pháp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất lãnh thổ của Việt Nam. Mặc dù hội nghị không đạt được thỏa thuận cuối cùng do lập trường hiếu chiến và tham vọng tái lập ách thống trị của thực dân Pháp, nhưng quá trình đàm phán đã thể hiện nỗ lực của Đảng, Chính phủ trong việc giữ vững nền độc lập non trẻ, tranh thủ thời gian hòa bình, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài bảo vệ nền độc lập dân tộc. 80 năm qua, Hội nghị Fontainebleau để lại nhiều bài học sâu sắc về kết hợp đấu tranh chính trị, ngoại giao với bảo vệ lợi ích dân tộc, đồng thời phản ánh khát vọng hòa bình và tinh thần độc lập, tự chủ của Việt Nam trong những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng.
Từ khóa: Hội nghị Fontainebleau; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Tạm ước 14-9-1946; quan hệ Việt Nam - Pháp
Ngày nhận bài: 27-5-2026; ngày thẩm định, đánh giá: 13-7-2026; ngày duyệt đăng: 20-7-2026
1. Đặt vấn đề
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ các thế lực đế quốc và phản động trong nước, đặc biệt là âm mưu quay trở lại xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Trước tình thế đó, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn sách lược hòa hoãn, tranh thủ thời gian củng cố chính quyền cách mạng, thể hiện tập trung qua việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Trong tiến trình thực hiện Hiệp định Sơ bộ, Hội nghị Fontainebleau được tổ chức tại Pháp (từ tháng 7 đến tháng 9 -1946) với kỳ vọng giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa Việt Nam và Pháp bằng con đường thương lượng hòa bình. Đây là cuộc đàm phán chính thức đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp, là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, do sự đối lập căn bản về mục tiêu và lợi ích giữa hai bên, đặc biệt là âm mưu duy trì ách thống trị thuộc địa của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị Fontainebleau đã không đạt được kết quả như mong muốn. Mặc dù vậy, hội nghị vẫn có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phản ánh rõ đường lối đối ngoại mềm dẻo nhưng kiên quyết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và tranh thủ sự đồng tình của dư luận tiến bộ thế giới.
Việc nghiên cứu quá trình diễn ra Hội nghị không chỉ góp phần làm sáng tỏ một giai đoạn quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam mà còn giúp nhận diện rõ hơn tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị và nghệ thuật ngoại giao của Đảng trong những năm đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện quá trình chuẩn bị, diễn biến và kết quả của Hội nghị Fontainebleau trong bối cảnh lịch sử Việt Nam và quốc tế năm 1946. Phương pháp logic nhằm làm rõ mối quan hệ giữa chủ trương hòa hoãn của Đảng, hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những diễn biến của Hội nghị, từ đó làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các cuộc đàm phán. Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, hồi ký nhằm đối chiếu, kiểm chứng và làm rõ các sự kiện lịch sử. Trên cơ sở đó, bài viết góp phần làm rõ ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Fontainebleau, đồng thời đúc rút một số kinh nghiệm về đấu tranh ngoại giao, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và phát huy truyền thống đối ngoại hòa bình của cách mạng Việt Nam.
Quang cảnh buổi khai mạc Hội nghị Fontainebleau ngày 6-7-1946
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Hội nghị Fontainebleau trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 3-1946 đến tháng 8-1946)
Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 được ký kết, theo đó, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có Chính phủ, Nghị viện, tài chính, quân đội riêng; Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận việc hợp nhất ba kỳ Bắc - Trung - Nam, nhưng quyết định là do nhân dân Việt Nam trực tiếp phán quyết. Sau khi Hiệp định được ký kết, hai bên chấm dứt xung đột và mở Hội nghị đàm phán tại Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris để bàn về các điều khoản chi tiết. Tuy nhiên, phía Pháp không nghiêm túc thực thi Hiệp định và luôn tìm cách gây khó khăn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 24-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp, đô đốc D’Argenlieu trên tuần dương hạm Emile Bertin ở vịnh Hạ Long bàn về tiến trình thi hành Hiệp định. Hai bên đã thống nhất ba điểm: Tháng 4-1946 sẽ có một phái đoàn Quốc hội Việt Nam thăm hữu nghị Quốc hội Pháp. Cùng thời gian đó sẽ có một cuộc họp trù bị giữa hai đoàn đại biểu Pháp và Việt. Sau phiên họp trù bị, nửa cuối tháng 5-1946 sẽ có một đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Pháp để tiến hành thương thảo tại Paris và nhân dịp này, Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp. D’Argenlieu muốn tổ chức tất cả các cuộc đàm phán ở Đông Dương để dễ bề kiểm soát và khống chế. Ủy viên Cộng hòa Pháp J. Sainteny thì muốn địa điểm họp ở Paris: “Chủ yếu là để Hồ Chí Minh và các đại biểu Việt Nam tách ra khỏi ảnh hưởng và sức ép của những phần tử dân tộc chủ nghĩa ngoan cố, cũng như mưu đồ của những kẻ không thích Pháp và Việt Nam thỏa hiệp với nhau” (Jean Sainteny, 2003, tr. 265). Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà yêu cầu hội nghị chính thức diễn ra ở Paris để tranh thủ hậu thuẫn của dư luận Pháp, nhất là Đảng Cộng sản Pháp, lúc đó khá mạnh, nhưng cũng đồng ý địa điểm họp trù bị ở Đà Lạt để tìm hiểu lập trường của Pháp, hỗ trợ cho đồng bào Nam Bộ.
Hội nghị trù bị bắt đầu từ ngày 19-4-1946.
Ngày 16-4-1946, đoàn đại biểu Quốc hội khóa I Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có 10 đại biểu do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi Paris thăm hữu nghị nước Pháp theo lời mời của Quốc hội Lập hiến quốc gia Pháp.
Trong lúc đó, tại Hội nghị trù bị Đà Lạt, sau hơn 20 ngày thương lượng, do lập trường phía Pháp ngoan cố nên cuộc đàm phán giữa hai đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Pháp đã hoàn toàn bế tắc. Tuy không đạt thỏa thuận gì về mặt chính trị nhưng hai bên vẫn đồng ý tiếp tục nhóm họp ở Pháp. Bởi vậy, kết quả chính của Hội nghị trù bị Đà Lạt chỉ là kế hoạch tổ chức Hội nghị Fontainebleau. Thực hiện thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy D’Argenlieu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiên quyết yêu cầu phía Pháp nhanh chóng tổ chức cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ tại Paris, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sẽ sang thăm chính thức nước Pháp. Nhưng ý đồ của viên Cao ủy lộ rõ qua bức thư gửi về Paris ngày 26-4-1946: “Mục đích chính sách của chúng ta, mục tiêu đầu tiên và xác định sứ mệnh của tôi là lập lại chủ quyền nước Pháp.... Nếu như sau một cuộc trưng cầu dân ý không được chuẩn bị cẩn thận theo một chính sách rõ ràng, quyền lực của nước Pháp bị loại bỏ ra khỏi Nam Kỳ, thì cả Liên bang Đông Dương và nói gọn là Đông Dương đi đời” (Philipe Devillers, 2003, tr. 2019).
Phái đoàn Việt Nam chuẩn bị lên đường sang Pháp thì ngày 29-5-1946, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao- Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam cáo bệnh không đi Pháp được; sau đó, chạy sang Trung Quốc theo quân đội Trung Hoa dân quốc, mang theo toàn bộ kinh phí của Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó. Vì vậy, ngày 30-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử ông Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam. Ngày 31-5-1946, phái đoàn Việt Nam cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp. Đoàn phải ở lại Biarritz 10 ngày để chờ nước Pháp lập Chính phủ mới, cho đến 22-6 mới tới Paris. Ngày 5-7, trước khi khai mạc Hội nghị, các thành viên của phái đoàn Pháp họp riêng để làm quen với nhau và được trưởng đoàn thông báo là nhận những chỉ thị trực tiếp từ Thủ tướng George Bidault. Ngày 6-7-1946, Hội nghị khai mạc tại phòng họp chính lâu đài Fontainebleau, cách Paris 60 km. Lâu đài được trang hoàng theo nghi lễ ngoại giao, treo quốc kỳ Việt Nam và Pháp, trước khi khai mạc có cử quốc thiều hai nước. Phái đoàn Cộng hoà Pháp gồm: Pignon, Torel, Gonon, Messmer, Bourgoin, đô đốc Barjot, tướng Salan, nghị viên Lozeray, nghị viên Juglas, Bayen, Baudet, d’Arcy, Gayet, Bousoquet, trưởng đoàn là Max André. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, Huỳnh Thiện Lộc, Phạm Khắc Hòe, đoàn trưởng là Phạm Văn Đồng. Các chuyên viên là Nguyễn Đệ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh, Nguyễn Đắc Khê (Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên), 2017, tr. 165).
Lúc 10h 40 phút, phiên họp chính thức bắt đầu. Sau lời chào mừng của trưởng phái đoàn Pháp Max Andre, trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng đã phát biểu, lên án hành động của Cao ủy Đông Dương d’Argenlieu vi phạm Hiệp định sơ bộ 6-3 qua hành động chiếm phủ Toàn quyền cũ tại Hà Nội, thành lập Chính phủ Nam Kỳ, chiếm đóng vùng Tây Nguyên và khẳng định: “Chúng tôi quyết chí phản đối đến cùng, với tất cả sức mạnh của một dân tộc 20 triệu người đứng lên trong một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự thành lập một quốc gia tự do Nam Kỳ” (Philipe Devillers, 2003, tr. 229).
Ngày 9-7-1946, chương trình nghị sự của Hội nghị được thông qua gồm 5 điểm: Việc Việt Nam gia nhập Khối Liên hiệp Pháp và những quan hệ ngoại giao với nước ngoài; Dự thảo thành lập Liên bang Đông Dương; Vấn đề thống nhất 3 kỳ và trưng cầu dân ý tại Nam Bộ; Những vấn đề kinh tế; Soạn thảo dự án một hiệp ước. Hội nghị đã lập ra 4 Ủy ban: Chính trị; Kinh tế và Tài chính; Văn hóa; Quân sự. Hai ủy ban Kinh tế và Văn hóa chưa họp lần nào nhưng Hội nghị đã cử ra “Ủy ban Văn hóa mở rộng” để thảo luận riêng với các nhà chuyên môn.
Khi bắt đầu thương thảo, những vấn đề ở Hội nghị Đà Lạt tiếp tục được đưa ra nhưng hai bên vẫn mâu thuẫn nhau. Phía Việt Nam nói rõ quan điểm là mối quan hệ giữa hai nước phải được thiết lập trên nền tảng tự do, bình đẳng, bảo vệ quyền lợi chung và nhấn mạnh Liên bang Đông Dương không bao giờ là một quốc gia nên không thể chấp nhận một luật lệ của Liên bang vượt lên trên luật lệ của mỗi quốc gia, dân tộc. Về quân sự và ngoại giao, phía Việt Nam bác bỏ dứt khoát nguyên tắc một Bộ Chỉ huy duy nhất và tập thể hóa tiềm năng quân sự nếu không xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn mỗi bên với điều kiện quân đội Việt Nam phải đặt dưới sự chỉ huy bởi một Bộ trưởng của Việt Nam. Tuy nhiên phía Pháp không đồng ý. Về ngoại giao, phía Việt Nam yêu cầu có nền ngoại giao riêng, có quyền trao đổi đại diện ngoại giao với nước khác và cử đại diện ở Liên hợp quốc, còn phía Pháp chỉ chấp nhận sự tham gia của người Việt Nam vào các chức vụ ngoại giao của Liên hiệp Pháp. Về kinh tế, phía Việt Nam chấp nhận cho người Pháp được hưởng chế độ ưu tiên và bảo đảm không có luật lệ nào chống lại họ, nhưng phía Pháp yêu cầu Việt Nam cam kết không thay đổi gì về quyền sở hữu tài sản của người Pháp khi chưa được sự đồng ý của Chính phủ Pháp. Cuối cùng, vấn đề Nam Bộ là mấu chốt, không thể thương lượng. Phía Việt Nam tuyên bố công khai rằng: “Chừng nào mà Nam Kỳ, bằng cách này hay cách khác, còn bị tách ra khỏi Việt Nam, thì sẽ không bao giờ có được việc thỏa thuận giữa nước Pháp và nước Việt Nam” (Philipe Devillers, 2003, tr. 235).
Trong thời gian diễn ra Hội nghị, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tham dự cuộc đàm phán nhưng Người luôn quan tâm theo sát quá trình thương lượng, chỉ đạo và giữ vai trò tác động quan trọng trong quá trình thương thảo tìm kiếm giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Với uy tín của mình, Người có nhiều hoạt động rất phong phú, đa dạng, tận dụng mọi cơ hội, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ Pháp và quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam qua 325 cuộc gặp mặt, trao đổi với nhiều nhân vật quan trọng thuộc các đảng phái, khuynh hướng chính trị khác nhau của Pháp. Người đã gặp các tướng lĩnh cao cấp của Pháp và tất cả các Bộ trưởng trong Chính phủ Pháp bằng phương thức “ăn sáng-ăn trưa-ăn tối bàn việc”, đặc biệt là với Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Marius Moutet, đồng thời Người tiếp xúc rộng rãi với các giới văn hoá nghệ thuật và phóng viên báo chí Pháp... để làm cho họ hiểu rõ về Việt Nam cũng như khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam. Ngày 12-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các đại biểu báo chí Pháp và quốc tế, Người lại một lần nữa khẳng định: “Nam Kỳ là đất Việt Nam. Đó là thịt của thịt Việt Nam, máu của máu Việt Nam” và “Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở của việc thống nhất nước Việt Nam?” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr 236).
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn tại buổi họp báo quốc tế tại khách sạn Royal Monceau, Paris, ngày 12-7-1946
Do quan điểm của các bên có sự khác biệt, nên Hội nghị Fontainebleau rơi vào vòng lẩn quẩn, mặc dù thảo luận kéo dài nhưng không đạt được sự đồng thuận đối với các vấn đề trọng yếu. Ngày 22-7-1946 tại Sài Gòn, Cao ủy D’Argenlieu tuyên bố khai mạc “Hội nghị trù bị và nghiên cứu quy chế của Liên bang” vào đầu tháng 8 nên tại phiên họp toàn thể, phái đoàn Việt Nam chính thức phản đối khiến Chính phủ Pháp bối rối, yêu cầu viên Cao ủy giải thích về Hội nghị đó, nhưng Cao ủy giải thích quanh co rằng việc đó đã báo cáo Chính phủ biết rồi? Ngày 26-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm lâu đài Fontainebleu và phái đoàn Việt Nam, sau đó Người mời cơm trưa tất cả đại biểu của hai phái đoàn đàm phán Pháp-Việt tại khách sạn Aigle Noir. Tại buổi họp cùng ngày, Max Andre đã phát biểu rằng: “Tất cả các ủy ban có vẻ đều làm việc nhưng lại chưa làm được việc gì cả. Dù đã nhất trí với nhau là làm việc trên tinh thần xây dựng, nhưng cho đến hiện tại chúng ta chưa xây dựng được gì” (Henri Azeau, 2022, tr. 225).
Ngày 30-7-1946, phái đoàn Pháp tiến hành cuộc họp riêng, có sự tham dự của Louis Caput, chuyên gia Đảng Xã hội Pháp, để bàn về vấn đề 3 Kỳ của Việt Nam. Max Andre kết luận rằng các chỉ thị của Thủ tướng Bidault là thực thi một chính sách “cứng rắn, thành thực và tự do” nên quan điểm cá nhân phải căn cứ vào đó. Ngày 31-7-1946, cuộc họp của Ủy ban Văn hóa mở rộng diễn ra căng thẳng, các đại biểu đôi co, tranh luận căng thẳng về vấn đề 3 Kỳ. Ngày 1-8-1946, trong khi Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra tại Pháp, D'Argenlieu vẫn triệu tập Hội nghị Liên bang tại Đà Lạt bao gồm các đại biểu Nam Kỳ, Lào, Campuchia và các quan sát viên từ miền Nam Việt Nam và Tây Nguyên. Dù Moutet đã khuyên D'Argenlieu cần thận trọng nhưng viên Cao ủy vẫn muốn thi hành Tuyên bố ngày 24-3-1945 của tướng De Gaulle về việc thành lập các nhà nước tự trị của người bản xứ tại Đông Dương.
Tại Hội nghị Fontainebleu, trưởng đoàn Phạm Văn Đồng phát biểu gay gắt: “Chúng ta ở trong thế hai đường chọn một sau đây: Hoặc là các nhà chức trách Pháp tại Nam Bộ quyết định số phận của Nam Bộ, của miền Nam Trung Bộ, của vùng Tây Nguyên và quy chế của Liên bang Đông Dương. Trong trường hợp này thì Hiệp định 6-3 sẽ trở thành không nội dung và Hội nghị Fontainebleau mà chúng ta đang họp cũng không có lý do tồn tại; Hoặc Hiệp định 6-3 phải được thi hành, trong trường hợp này chỉ có Hội nghị Fontainebleau là có thẩm quyền bàn bạc về những vấn đề đó” (Philipe Devillers, 2003, tr. 239).
Thành viên của phái đoàn Pháp là Max Andre đề nghị hoãn họp. Ngày 5-8-1946, một tiểu ban tư vấn của phía Pháp họp kín để nghe bản báo cáo từ cố vấn chính trị của D’Argenlieu về kế hoạch “Cướp chính quyền của Việt Minh ở Đông Dương” và một văn kiện kèm theo là tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do mật thám Pháp cung cấp với nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là người của Quốc tế Cộng sản nên cẩn thận khi đối thoại và không nên có cam kết gì. Ngày 8-8-1946, Max Andre gửi thông báo cho phái đoàn Việt Nam rằng mục đích Hội nghị Liên bang Đà Lạt chỉ để biết dư luận của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương về vấn đề Liên bang Đông Dương nên không tạo ra trở ngại cho Hội nghị Fontainebleau và cả hai bên có thể tiếp tục ngồi vào bàn đàm phán.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự định về nước ngày 14-8-1946, nhưng Người quyết định ở lại nhằm chỉ đạo, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đàm phán của phái đoàn Việt Nam. Cùng ngày, Người đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp Jean Besdel: “Tôi không đặt các điều kiện trở lại đàm phán, nhưng không có lý do gì để soạn thảo cho Đông Dương quy chế về Liên bang Đông Dương, khi mà người ta mời một đoàn đại biểu Việt Nam đến Paris để giải quyết vấn đề này. Chúng tôi không đòi hỏi nước Pháp phải nhượng bộ. Chúng tôi chỉ muốn độc lập thật sự. Độc lập, tất nhiên không có nghĩa là cắt đứt, cách ly” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr. 253).
Ngày 19-8-1946, Chính phủ Pháp đã dự thảo một bản tóm tắt để làm chương trình nghị sự cho Hội nghị Fontainebleau gồm 12 điều khoản, trong đó điều 11 có nói đến việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ. Ngày 20-8, phái đoàn Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho đoàn Pháp đề cập tới sự cần thiết phải quy định thời hạn cho cuộc trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ và một nghị định thư về việc giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp gồm 14 điểm, trong đó nhấn mạnh Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nước tự do mà nền độc lập sẽ được tuyên bố trong vòng 3 năm kể từ ngày ký một hiệp định chính thức. Ngày 22-8-1946, Max Andre nói với đồng chí Phạm Văn Đồng: “Ngài hãy nên biết điều một chút, nếu không thì ngài nên biết rằng chúng tôi có thể quét sạch các ngài đi trong vòng hai ngày” (Philipe Devillers, 2003, tr. 252), đồng thời gửi báo cáo cho Thủ tướng Bidault ủng hộ ý kiến dùng sức mạnh.
Tối 23-8-1946, Bidault cử cố vấn của D’Argenlieu là Pignon đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để trình bày về quan điểm chính thức của Chính phủ Pháp là hạn chế quyền lợi của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và Việt Nam phụ thuộc vào Pháp. Hội nghị tạm nghỉ mấy hôm. Ngày 28-8-1946, cố vấn về các vấn đề Đông Dương của Bidault đề nghị với Chủ tịch Hồ Chí Minh ký “hiệp định hạn chế” để giải quyết một vài vấn đề cấp bách trước mắt. Đề nghị này được cả Bidault và Moutet chấp nhận và đến ngày 31-8-1946, đoàn Việt Nam cũng chấp nhận trên nguyên tắc.
Ngày 2-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hội Liên hiệp Việt kiều và Hội Hữu nghị Pháp - Việt tổ chức. Sau buổi lễ, Người trả lời phỏng vấn của phóng viên hãng AFP và nhiều báo khác về cuộc đàm phán Fontainebleau và nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn rằng ngày giờ và phương thức của cuộc trưng cầu dân ý đó phải được định đoạt một cách nhanh chóng và phải có đủ các đảm bảo để dân chúng Nam Bộ được tự do phát biểu ý kiến của họ. Tôi rất lạc quan và rất hy vọng đi tới kết quả” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr. 266). Ngày 3-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được công hàm do Moutet và Pignon trao với nội dung là phía Pháp sẵn sàng nối lại đàm phán về việc tổ chức trưng cầu dân ý theo Hiệp định 6-3 nhưng không cam kết gì về thời gian tổ chức, trước khi ổn định được trật tự công cộng.
Ngày 4-9-1946, các cuộc đàm phán giữa phái đoàn Việt Nam và tiểu ban Pháp - Việt được nối lại. Thành phần phía Pháp được tăng cường thêm ba cố vấn của Cao ủy D’Argenlieu gồm Pignon, Torel và Gonon. Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng đề nghị thảo luận luôn vấn đề trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ, nhưng nếu phía Pháp vẫn giữ quan điểm như nội dung công hàm hôm trước thì cần phải nghĩ đến việc hoãn Hội nghị thêm vài tháng nữa. Hai đoàn hẹn nhau ngày 10-9-1946 là hạn chót để tìm ra tiếng nói chung. Ngày 9-9-1946, tại phiên họp toàn thể, hai đoàn đàm phán đã làm việc đến rạng sáng ngày hôm sau để chuẩn bị ký văn bản chính thức, nhưng đoàn Việt Nam vẫn dứt khoát yêu cầu phía Pháp cần có một cam kết cụ thể về thời hạn và phương thức trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ nếu không sẽ không ký. Max Andre đề nghị giải tán cuộc họp.
3.2.Tạm ước 14-9-1946 và ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Fontainebleau
Ngày 11-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Moutet trong bữa ăn trưa để nói về những điểm bất đồng để hai bên cùng nghiên cứu, đi đến một bản tạm ước. Đồng thời, Người nói với phóng viên hãng Associated Press rằng mong muốn có một thỏa thuận với nước Pháp và hy vọng nước Pháp cũng có cố gắng như vậy. Ngày 13-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho Moutet bản dự thảo mới, bao gồm nhiều chi tiết sửa đổi liên quan đến các nội dung tiền tệ, thuế quan, vấn đề Nam Kỳ và đặc biệt là việc trao trả cho phía Pháp những người Pháp là kẻ thù của Việt Nam. Dự thảo này sẽ được các lãnh đạo hai Chính phủ thảo luận ngay trong ngày hôm sau. Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp để thông báo tình hình Hội nghị Fontainebleau chưa đạt được kết quả như mong muốn và hy vọng sẽ họp lại trong thời gian tới. Phái đoàn Việt Nam cũng ra tuyên bố về cuộc hội đàm chưa có kết quả và trong lúc chờ đợi Hội nghị họp lại, đoàn quay về Việt Nam. Buối tối, phái đoàn Việt Nam rời Paris đi Marseille để xuống tàu Pasteur về nước. Đêm ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nhà riêng Moutet, thống nhất những thỏa thuận cuối cùng.
Đến 1h sáng ngày 15-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Moutet đã ký bản Tạm ước (modus vivendi) 14-9-1946 gồm 11 điều khoản có tính chất nguyên tắc để sau này sẽ được hai bên tiếp tục đàm phán cụ thể hóa các nội dung, chậm nhất là tháng 1-1947 sẽ cùng ấn định thể thức trưng cầu dân ý ở Nam Bộ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ ở Nam Bộ. Chiều 15-9-1946, sau khi nhận lại văn bản Tạm ước 14-9 do Messer mang đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện thông báo cho Chính phủ Việt Nam biết và tới Đài phát thanh Paris nói lời tạm biệt nhân dân Pháp. Người cảm ơn Chính phủ và nhân dân Pháp và hy vọng một Hội nghị Pháp - Việt sẽ sớm được nối lại. Với thiện chí mong muốn duy trì kênh liên lạc, tiếp xúc trực tiếp với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử một phái đoàn đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở lại Paris do ông Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn cùng các ông Dương Bạch Mai và Trần Ngọc Danh. Đây có thể coi là cơ quan đại diện ngoại giao đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định. Sáng 16-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Paris đi Marseille và tiếp tục đến quân cảng Toulon. Trong bữa ăn chào đón khách do hạm trưởng tổ chức và cũng là bữa chia tay những người đi tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn lo ngại về khả năng có thể bùng nổ xung đột vũ trang, Người nói với Sainteny: “Nếu cần phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. Một người các ông có thể giết chết mười người chúng tôi. Mười người chúng tôi sẽ giết một người của ông. Nhưng cuối cùng, chính các ông sẽ là những người nản lòng bỏ cuộc” (Jean Sainteny, 2003, tr. 287).
Ngày 18-9-1946, chiến hạm Dumont d’Urville rời cảng Toulon, đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng 2 phụ tá giúp việc và 4 Việt kiều theo Người trở về Việt Nam phục vụ Tổ quốc. Tạm ước 14-9-1946 có hiệu lực thi hành từ ngày 30-10-1946, nội dung có những ưu tiên về kinh tế, thương mại mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dành cho Cộng hoà Pháp. Đó là những nhân nhượng cuối cùng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam có thể cam kết để bảo vệ và kéo dài thời gian hòa bình rất quý giá, nhưng mong manh.
Mặc dù Hội nghị Fontainebleau không đi đến việc ký kết một hiệp định chính thức giữa hai Chính phủ, song quá trình đàm phán đã khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời để lại nhiều bài học lịch sử có giá trị về nghệ thuật đấu tranh ngoại giao nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thứ nhất, Hội nghị Fontainebleau khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tận dụng mọi khả năng hòa bình để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong điều kiện đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với nhiều khó khăn cả trong nước và quốc tế, việc lựa chọn con đường đàm phán với Chính phủ Pháp thể hiện tư duy chiến lược đúng đắn, kết hợp chặt chẽ giữa kiên định mục tiêu độc lập dân tộc với sự mềm dẻo về sách lược nhằm kéo dài thời gian hòa bình, tranh thủ điều kiện củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng và chuẩn bị cho mọi tình huống có thể xảy ra.
Thứ hai, quá trình đàm phán tại Fontainebleau đã chứng minh trước dư luận quốc tế thiện chí hòa bình của Việt Nam cũng như lập trường kiên định của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất lãnh thổ quốc gia. Trong suốt quá trình thương lượng, phái đoàn Việt Nam luôn thể hiện tinh thần đối thoại, tôn trọng các cam kết quốc tế, đồng thời kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc không thể nhân nhượng, đặc biệt là vấn đề thống nhất ba Kỳ và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Hội nghị Fontainebleau không đạt được một hiệp định chính thức chủ yếu xuất phát từ lập trường thực dân, thái độ ngoan cố và âm mưu tái lập nền thống trị thuộc địa của giới cầm quyền Pháp, trong khi phía Việt Nam luôn kiên trì theo đuổi giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất quốc gia.
Thứ ba, Hội nghị Fontainebleau góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thông qua các hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam tại Pháp, đặc biệt là việc tranh thủ sự ủng hộ của các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, giới trí thức, báo chí và nhân dân tiến bộ Pháp, hình ảnh một nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc đã được lan tỏa rộng rãi. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam tranh thủ sự đồng tình của dư luận tiến bộ thế giới trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh xâm lược sau này.
Thứ tư, những diễn biến của Hội nghị Fontainebleau và việc ký kết Tạm ước ngày 14-9-1946 tiếp tục thể hiện nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng trong việc xử lý hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Những nhân nhượng về kinh tế, thương mại và một số vấn đề kỹ thuật hoàn toàn không phải là sự từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc, mà là giải pháp chiến lược nhằm duy trì hòa bình trong thời gian dài nhất có thể, đồng thời tạo điều kiện để đất nước chuẩn bị về chính trị, quân sự và kinh tế cho cuộc kháng chiến khi chiến tranh trở nên không thể tránh khỏi.
4. Kết luận
Sau 80 năm nhìn lại, Hội nghị Fontainebleau năm 1946 vẫn giữ nguyên giá trị như một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chính quyền cách mạng đứng trước nhiều thử thách nghiêm trọng, đồng thời phải đối mặt với âm mưu tái lập nền thống trị thuộc địa của thực dân Pháp. Việc Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì lựa chọn con đường thương lượng hòa bình, dù phải đối diện với nhiều khó khăn và bất đồng sâu sắc, đã thể hiện rõ tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị và nghệ thuật xử lý quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam.
Hội nghị Fontainebleau không chỉ là nỗ lực ngoại giao vì hòa bình của Việt Nam mà còn là minh chứng sinh động cho bản lĩnh chính trị, trí tuệ và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xử lý các vấn đề đối nội, đối ngoại ở thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Những bài học về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, kết hợp sức mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao với chuẩn bị thực lực cách mạng, đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo
Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên). (2017). Lịch sử Việt Nam: Tập 10 Từ năm 1945 đến năm 1950. Nxb Khoa học xã hội.
Henri Azeau. (2022). Hồ Chí Minh: Cơ hội cuối cùng. Nxb Đại học sư phạm.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. (2016). Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử Tập 3 (1945-1946). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Jean Sainteny. (2003). Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ. Nxb Công an nhân dân.
Philipe Devillers. (2003). Paris-Sài Gòn-Hà Nội. Nxb Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh.