27/05/2026 - 05:41 PM - 215 lượt xem
Tóm tắt: Trước tác động ngày càng mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), giáo dục đại học trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết đổi mới căn bản về mục tiêu, nội dung, phương thức đào tạo và mô hình quản trị. Bài viết tập trung phân tích những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới và những kết quả đạt được, đặc biệt là bước vào kỷ nguyên mới, bao gồm chuyển đổi số, quốc tế hóa, học tập suốt đời, gắn kết đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ, trách nhiệm giải trình. Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục đại học bền vững, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Giáo dục đại học; thời kỳ đổi mới; kỷ nguyên mới; tự chủ đại học; chuyển đổi số; Đảng Cộng sản Việt Nam.
The party’s guidelines on the development of higher education in the new era
Abstract: Amid the increasingly profound impacts of globalization and the Fourth Industrial Revolution, higher education is facing urgent demands for fundamental transformation in objectives, content, training methods, and governance models worldwide, including in Vietnam. This article analyzes the Party’s and the State’s policies on the development of higher education during the renewal period, particularly in the emerging new era, with emphasis on digital transformation, internationalization, lifelong learning, stronger alignment between training and labor market needs, and the reform of university governance toward autonomy and accountability. Based on this analysis, the paper proposes several orientations and solutions to promote sustainable higher education development, aiming to train high-quality human resources, enhance national competitiveness, and foster international integration in the new era.
Keywords: Higher education; Renovation period; New era; University autonomy; Digital transformation; Communist Party of Vietnam.
Ngày nhận: 11-3-2026; Ngày thẩm định, đánh giá: 10-5-2026 ; Ngày duyệt đăng: 27-5-2026
1. Đặt vấn đề
Giáo dục đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, các cơ sở giáo dục đại học còn là lực lượng nòng cốt thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, ngành giáo dục đại học Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô, loại hình đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bước vào kỷ nguyên mới, xuất phát từ mục tiêu phát triển đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương thức đào tạo, đến mô hình quản trị và cơ chế vận hành. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển giáo dục đại học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Trên cơ sở quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục đào tạo nói chung, bài viết tập trung vào lĩnh vực giáo dục đại học; đề xuất một số giải pháp phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic để phân tích làm rõ các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về giáo dục đại học, thông qua các Văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội thời kỳ đổi mới, làm rõ tính kế thừa, bổ sung và phát triển trong tư duy chỉ đạo; làm rõ những kết quả đạt được và những nội dung cần tiếp tục đổi mới, bổ sung trong chủ trương, chính sách phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới.
Phương pháp lịch đại và so sánh được sử dụng để đối chiếu các chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ; đồng thời, liên hệ với xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới nhằm nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới
Chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục đại học
Đại hội VI (1986) của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Tiếp theo, từ Đại hội VII đến Đại hội XIV, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương quan trọng góp phần đưa giáo dục đại học Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới về quy mô, chất lượng cũng như loại hình đào tạo. Những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học thời kỳ đổi mới tập trung ở những nội dung:
Một là, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, trong đó giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và là động lực phát triển đất nước
Thực hiện đường lối đổi mới, ngành Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng được Đảng ngày càng chú trọng hơn. Tầm quan trọng của giáo dục đại học được nhấn mạnh, Văn kiện Đại hội VI xác định: “Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, T.47, tr. 772). Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt Đại hội VIII (1996) lần đầu tiên Đảng khẳng định “giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, T.55, tr. 324).
Đại hội XI (2011) của Đảng xác định: Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, đào tạo. Thực hiện chủ trương này, ngày 4-11-2013 Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, khẳng định giáo dục đại học giữ vai trò then chốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học - công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong các kỳ Đại hội XII, XIII và XIV, Đảng tiếp tục bổ sung, nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, gắn với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu không chỉ mang ý nghĩa khẳng định vai trò, vị trí của giáo dục, đào tạo mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả và phương thức phát triển giáo dục, đào tạo trong đó có giáo dục đại học. Giáo dục đại học cần chuyển từ mô hình phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo trung tâm, qua đó thực sự trở thành động lực của phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hai là, chủ trương đẩy mạnh tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình như một đột phá chiến lược
Một trong những điểm đổi mới quan trọng trong tư duy của Đảng về giáo dục đại học là việc xác định tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình như một giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Quan điểm này được thể hiện rõ trong nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đề ra: Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng (Ban Chấp hành Trung ương, 4-11-2013) và tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện Đại hội của Đảng: “Khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo, nhất là các trường đại học, trường dạy nghề. Thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư phát triển”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, Phần II, tr. 791-792). Đại hội XIII (2021) của Đảng chỉ rõ “từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục và đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, T.I, tr. 139).
Luật Giáo dục đại học (sửa đổi năm 2018) đã thể chế hóa chủ trương này, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng quyền tự chủ về học thuật, tổ chức bộ máy, tài chính và nhân sự cho các cơ sở giáo dục đại học. Đảng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và minh bạch thông tin như những điều kiện không thể tách rời của tự chủ đại học. Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 12-8-2024 nêu rõ: Tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm giải trình, phát huy dân chủ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo; hoàn thiện chính sách, cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới (Ban Chấp hành Trung ương, 12-8-2024). Các chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay thể hiện rõ định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22-8-2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển giáo dục, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ mô hình phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và năng lực đổi mới sáng tạo làm trung tâm. Nghị quyết xác định tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình là giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học.
Theo đó, Nhà nước cần ban hành chính sách, cơ chế tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quản trị, đào tạo và nghiên cứu khoa học, phù hợp với yêu cầu đa dạng và năng động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh trách nhiệm giải trình cho thấy tự chủ không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý, mà đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải chịu sự giám sát của Nhà nước và xã hội, bảo đảm chất lượng đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và phát triển bền vững hệ thống giáo dục đại học.
Ba là, tập trung đổi mới giáo dục đại học gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã đặt nền tảng cho quá trình đổi mới giáo dục, trong đó giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học - công nghệ.
Tiếp đó, Đại hội XII (2016) của Đảng xác định cần thiết gắn yêu cầu đổi mới giáo dục đại học với nhiệm vụ phát triển khoa học - công nghệ và chủ động hội nhập quốc tế, coi đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo “Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, Phần II, tr. 691).
Trước tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị đã làm rõ chủ trương chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế số: Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số; lấy đánh giá của doanh nghiệp làm thước đo cho chất lượng đào tạo của các trường đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số (Bộ Chính trị, 27-9-2019).
Đại hội XIII (2021) của Đảng coi xác lập chuyển đổi số và hội nhập quốc tế là những chiến lược cốt lõi trong phát triển giáo dục đại học, đặt giáo dục đại học vào vị trí trung tâm của phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam: “Triển khai có hiệu quả hệ thống giáo dục quốc dân mới theo các mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Đa dạng hóa phương thức đào tạo dựa theo mô hình giáo dục mở, khung trình độ quốc gia, gắn với thị trường và đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chuẩn bị nguồn nhân lực cho chuyển đổi số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, T.II, tr. 128).
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Bước vào thời kỳ phát triển mới, hội nhập quốc tế trở thành xu thế mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi Đảng phải có sự điều chỉnh chính sách, chiến lược về phát triển đất nước. Ở lĩnh vực giáo dục đào tạo, Đảng nhấn mạnh “Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, T.I, tr. 231).
Một số thành tựu về phát triển giáo dục đại học Việt Nam
Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, giáo dục đại học đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện từ quy mô, nội dung chương trình, mô hình, chất lượng đào tạo. Số lượng cơ sở đào tạo tăng nhanh và phân bố ngày càng rộng khắp các vùng, miền; đồng thời, từng bước hình thành các trường đại học quốc gia, đại học vùng, đại học chuyên ngành và các trung tâm nghiên cứu lớn. Năm 1987, cả nước chỉ có 101 trường đại học, cao đẳng (63 trường đại học và 38 trường cao đẳng) (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 29-10-2009), đến năm 2000 đã tăng lên 178 trường, trong đó có 148 trường công lập và 30 trường ngoài công lập. Đến năm 2020, hệ thống tiếp tục mở rộng với 172 trường đại học công lập và 65 trường ngoài công lập (Nguyễn Thúy Quỳnh, 2022, tr. 79-89) phản ánh rõ nét hiệu quả của chủ trương xã hội hóa giáo dục và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục đại học.
Song song với sự gia tăng về số lượng cơ sở đào tạo, quy mô đào tạo, đội ngũ giảng viên cũng có bước phát triển đáng kể. Trong giai đoạn 2001-2020, số lượng giảng viên đại học công lập tăng từ 20.325 người lên 56.990 người, trong khi khu vực ngoài công lập tăng từ 4.037 người lên 16.142 người. Đáng chú ý, tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ hiện đạt trên 35% (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 29-12-2025) cho thấy nỗ lực chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Sự phát triển này tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức trong các cơ sở giáo dục đại học.
Sự mở rộng hệ thống và đội ngũ đã kéo theo sự gia tăng nhanh chóng về quy mô người học, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đại học của xã hội. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng số sinh viên năm 2000 là 899.500 người; đến năm 2010, riêng khối công lập hơn 1,65 triệu sinh viên. Đến năm 2020, quy mô đào tạo được điều chỉnh theo hướng chú trọng chất lượng, với khoảng 1,36 triệu sinh viên công lập và hơn 313 nghìn sinh viên ngoài công lập. Năm 2024, số tuyển mới đạt xấp xỉ 700.000 sinh viên, tăng khoảng 14% so với năm 2023 (Thanh Xuân, 30-12-2025). Đặc biệt, khu vực ngoài công lập duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, góp phần giảm áp lực cho khu vực công lập và mở rộng cơ hội học tập cho người dân.
Chất lượng giáo dục đại học từng bước được cải thiện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng được tăng cường; số chương trình và cơ sở đào tạo được kiểm định trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế có bước phát triển rõ rệt, góp phần nâng cao vị thế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế. Minh chứng tiêu biểu là đến năm 2025, Việt Nam đã có 16 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng trong bảng xếp hạng THE Impact Rankings (Bích Ngọc,18-6-2025), thể hiện sự tiến bộ về chất lượng, trách nhiệm xã hội và mức độ hội nhập toàn cầu của hệ thống giáo dục đại học.
Nhìn tổng thể, sự phát triển đồng bộ về mạng lưới cơ sở đào tạo, quy mô đào tạo, số lượng người học và chất lượng đào tạo đã tạo nền tảng quan trọng cho giáo dục đại học Việt Nam trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Điều này xuất phát từ những chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới “Nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đã có những thay đổi lớn về chất lượng, tỉ lệ lao động qua đào tạo ngày một tăng, chỉ số vốn nhân lực Việt Nam không ngừng cải thiện, ở mức khá trên thế giới, mức cao trong các nước có thu nhập trung bình ở khu vực Đông Nam Á” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T. II, tr. 120).
3.2. Một số định hướng và giải pháp phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới
Kỷ nguyên mới phát triển đất nước được xác định từ thời điểm triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong định hướng chiến lược đó, giáo dục đại học được đặt ra yêu cầu hiện đại hóa toàn diện, với mục tiêu: “Hiện đại hóa giáo dục đại học, có chính sách đột phá phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngang tầm các nước tiên tiến” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.I, tr. 101). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22-8-2025 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, phát triển giáo dục đại học được định hướng là một trụ cột chiến lược của phát triển đất nước, giữ vai trò then chốt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cùng với Nghị quyết số 71-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Nền giáo dục Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu Á” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T. II, tr. 245).
Để hiện thực hóa chủ trương mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho giáo dục đại học công lập trên cơ sở phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm giải trình
Thực hiện hiệu quả cơ chế tự chủ đại học, coi đó là xu hướng tất yếu của giáo dục đại học hiện đại, phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị đại học dựa trên trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng hoạt động.
Vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở phạm vi quyền tự chủ, mà ở cách thức thiết kế mối quan hệ giữa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình. Khi khung pháp lý còn chồng chéo giữa các lĩnh vực giáo dục, tài chính công, tài sản công và quản lý cán bộ, quyền tự chủ khó được thực thi một cách thực chất. Do đó, hoàn thiện thể chế tự chủ đại học cần được tiếp cận như một quá trình cải cách quản trị, trong đó Nhà nước chuyển mạnh từ vai trò can thiệp trực tiếp sang kiến tạo, giám sát và bảo đảm chất lượng.
Cùng với mở rộng quyền tự chủ, việc thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình dựa trên kiểm định chất lượng, công khai thông tin và giám sát xã hội có ý nghĩa quyết định. Tự chủ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi các cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm trước Nhà nước và xã hội về chất lượng đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và kết quả đầu ra. Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực quản trị đại học và quản trị dựa trên dữ liệu, trở thành điều kiện then chốt để bảo đảm tự chủ đại học gắn với phát triển bền vững.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội
Chất lượng đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động là thước đo quan trọng của hiệu quả giáo dục đại học. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, giáo dục đại học cần chuyển mạnh và nhanh sang mô hình đào tạo định hướng năng lực và chuẩn đầu ra.
Thực tiễn cho thấy, sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động và khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động vẫn là vấn đề đang tồn tại. Tỷ lệ lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên làm việc không đúng chuyên môn, hoặc thất nghiệp đang cao hơn so với nhóm lao động có trình độ thấp. Điều này cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đào tạo và nhu cầu việc làm thực tế, kéo theo sự lãng phí lớn về chất xám và nguồn lực xã hội (Hải Miên, 26-12-2025). Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, liên ngành và cập nhật thường xuyên, gắn chặt với yêu cầu nghề nghiệp và nhu cầu phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Việc tích hợp các kỹ năng mềm, năng lực số và tư duy đổi mới sáng tạo vào chương trình đào tạo không chỉ giúp nâng cao khả năng thích ứng của người học, mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn.
Bên cạnh đó, việc tăng cường gắn kết giữa đào tạo và thực tiễn nghề nghiệp cần được coi là trụ cột của đổi mới giáo dục đại học. Quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không nên dừng lại ở khâu thực tập, mà cần được thể chế hóa thông qua sự tham gia của doanh nghiệp vào một số khâu trong xây dựng chương trình, đánh giá chuẩn đầu ra và tuyển dụng sinh viên. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao tính phù hợp của đào tạo, mà còn góp phần chia sẻ trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực giữa Nhà nước, nhà trường và xã hội.
Thứ ba, tăng cường nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học.
Trong nền kinh tế tri thức, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo là chức năng cốt lõi tạo nên giá trị gia tăng của giáo dục đại học. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học ở nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện nay vẫn còn phân tán, thiếu trọng tâm và chưa gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, cần chuyển từ cơ chế đầu tư dàn trải sang đầu tư có trọng điểm, ưu tiên phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và lĩnh vực mũi nhọn phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia. Đồng thời, việc gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành năng lực nghiên cứu và tư duy sáng tạo cho người học.
Mặt khác, tăng cường liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là điều kiện cần thiết để thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW: “Phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo” (Ban Chấp hành Trung ương, 2024). Việc phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp trong các trường đại học không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu, mà còn tạo động lực mới cho phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ tư, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu mới
Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý là nhân tố quyết định chất lượng và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ không chỉ dừng ở trình độ chuyên môn, mà còn bao gồm năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
Việc phát triển đội ngũ cán bộ cần được tiếp cận một cách chiến lược, gắn với định hướng phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học và của toàn hệ thống. Đảm bảo tuân thủ Luật Nhà giáo quy định về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo “Có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy trình độ đại học; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy trình độ sau đại học, hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ” (Quốc hội, 2025). Ưu tiên nâng cao tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, kinh nghiệm nghiên cứu và hội nhập quốc tế là yêu cầu quan trọng, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ và kinh tế số. Đồng thời, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ theo chuẩn năng lực và kết quả đầu ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ.
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, việc trang bị kiến thức và kỹ năng quản trị đại học hiện đại, quản trị tài chính, kiểm định chất lượng và quản trị dựa trên dữ liệu là điều kiện tiên quyết để thực hiện hiệu quả tự chủ đại học. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý không chỉ nâng cao hiệu quả điều hành, mà còn tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.
Thứ năm, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và hợp tác quốc tế giáo dục đại học
Chuyển đổi số và hợp tác quốc tế đang trở thành những động lực quan trọng tái cấu trúc giáo dục đại học. Hiện nay ở Việt Nam, quá trình này còn thiếu đồng đều, cả về hạ tầng công nghệ, năng lực số của đội ngũ và chất lượng học liệu.
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học cần được tiếp cận như một quá trình đổi mới toàn diện, từ quản trị đại học đến đào tạo và nghiên cứu khoa học. Việc phát triển các mô hình đào tạo linh hoạt, kết hợp trực tuyến và trực tiếp không chỉ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đồng thời, nâng cao năng lực số cho giảng viên, cán bộ quản lý và người học là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số thực chất.
Song song với đó, quốc tế hóa giáo dục đại học cần được triển khai theo hướng nâng cao chất lượng, tránh hình thức. Mở rộng hợp tác đào tạo, nghiên cứu và trao đổi học thuật với các đối tác quốc tế, kết hợp với chuẩn hóa chương trình đào tạo theo chuẩn khu vực và quốc tế, sẽ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của giáo dục đại học Việt Nam trong không gian tri thức toàn cầu.
Thứ sáu, bảo đảm phát triển giáo dục đại học bền vững, cân đối và công bằng
Phát triển giáo dục đại học bền vững đòi hỏi sự cân đối giữa mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng, giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, sự chênh lệch về điều kiện bảo đảm chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục đại học giữa các vùng miền và nhóm xã hội vẫn là thách thức lớn. Do đó, việc thực hiện hiệu quả quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, có ý nghĩa quan trọng trong sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học thông qua các chính sách học bổng, tín dụng sinh viên và đào tạo linh hoạt sẽ góp phần mở rộng cơ hội học tập cho các nhóm yếu thế.
Bên cạnh đó, việc tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình cơ sở giáo dục đại học, công lập và ngoài công lập, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và quyền lợi người học, là yếu tố quan trọng để xây dựng hệ thống giáo dục đại học phát triển cân đối, hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
4. Kết luận
Việc triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng về giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng trong thời kỳ đổi mới đã đạt nhiều kết quả quan trọng: Các chính sách pháp luật về giáo dục đại học ngày càng được bổ sung và hoàn thiện; quy mô và mạng lưới giáo dục đại học tiếp tục phát triển, củng cố và sắp xếp lại đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của toàn dân và phát triển kinh tế xã hội. Bước vào kỷ nguyên mới, cần đẩy mạnh thể chế hóa chủ trương Đại hội XIV của Đảng về giáo dục đại học: “Tiếp tục đổi mới, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại, công bằng và chất lượng. Thực hiện đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục, đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao... Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường, lớp đạt chuẩn,... Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục, đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.II, tr. 273).
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 -11-2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”
Ban Chấp hành Trung ương. (2024). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12-8-2024 “tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Ban Chấp hành Trung ương. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”
Bích Ngọc. (18-6-2025). “Việt Nam có 16 cơ sở đại học lọt BXH trường có tầm ảnh hưởng thế giới. https://dantri.com.vn/giao-duc/viet-nam-co-16-co-so-dai-hoc-lot-bxh-truong-co-tam-anh-huong-the-gioi-20250618120733274.htm
Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2009). Báo cáo số: 760/BC-BGDĐT ngày 29-10-2009. “Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo”
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (29-12-2025). “10 kết quả nổi bật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo năm 2025”. https://moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop2/10-ket-qua-noi-bat-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao-nam-20254.html
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 47, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 55, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Hải Miên. (26-12-2025) “Hóa giải thách thức cho thị trường lao động”. https://nhandan.vn/hoa-giai-thach-thuc-cho-thi-truong-lao-dong-post932936.html
Nguyễn Thúy Quỳnh (2022). “Vai trò của giáo dục đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam giai đoạn 2000-2020”. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á. Số 5-2022
Quốc hội. (2025). Luật Nhà giáo số: 73/2025/QH15 ngày 16-6-2025
Thanh Xuân. (30-12-2025). “Đổi mới mạnh mẽ, ngành giáo dục và đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng cho những đột phá dài hạn”. https://nhandan.vn/doi-moi-manh-me-nganh-giao-duc-va-dao-tao-dat-nhieu-ket-qua-tich-cuc-tao-nen-tang-cho-nhung-dot-pha-dai-han-post933919.html.