Tóm tắt: Năm 1921, trên hành trình xác lập con đường cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh1, đã đưa ra một luận điểm, một dự báo: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”2. Dự báo đó đã thành hiện thực: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công rực rỡ. Thắng lợi đồng thời là bài học về chuẩn bị thực lực mọi mặt, chủ động thúc đẩy và đón bắt thời cơ của Đảng trong lãnh đạo cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn giá trị đối với công cuộc đổi mới hiện nay.
Từ khóa: Kết hợp; xây dựng thực lực; đón bắt thời cơ; Cách mạng Tháng Tám năm 1945; bài học; đổi mới
1. Kết hợp xây dựng thực lực với thúc đẩy và đón bắt thời cơ - Một thành công lớn của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, tuyệt đối không phải là “sự ăn may” hay “nhặt trái chín rụng” trong “chân không quyền lực”, mà đi vào lịch sử Việt Nam và lịch sử nhân loại gần 80 năm qua như một mẫu mực về sự “quyết chí, bền gan” nỗ lực phấn đấu của cả dân tộc, sự lãnh đạo đúng đắn, kỳ công của Đảng trong chuẩn bị thực lực mọi mặt, đồng thời, chủ động thúc đẩy và đón bắt thời cơ để hiện thực hóa khát vọng độc lập, tự do.
Chủ trương của Đảng kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng thực lực với nhanh nhạy nắm bắt tình hình, chủ động thúc đẩy và đón bắt thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền xuất hiện ngay sau khi cuộc Chiến tranh thế giới II nổ ra (9-1939). Trong “Thông cáo gửi cho các đồng chí các cấp bộ”, ngày 29-9-1939, của Ban Chấp hành Trung ương viết: “tình hình đã thay đổi nhiều. Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phòng”3.
Khi cuộc chiến tranh thế giới lan rộng, đẩy nhân loại vào “lò lửa sát sinh lớn”, HNTƯ (11-1939) đã sắc bén nhận định: cuộc khủng hoảng của thế giới đã trầm trọng, trật tự thế giới cũ bị lay chuyển đến tận gốc, sẽ tạo điều kiện cho các nước bị áp bức thừa cơ nổi dậy giành độc lập, “tiền đồ cách mạng thế giới rất rạng rỡ”. Hội nghị tiên lượng: cuộc cách mạng của các dân tộc Đông Dương “nhất định sẽ bùng nổ”4. Hội nghị chủ trương nhanh chóng tập hợp lực lượng dưới hình thức Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế, hiệu triệu và tổ chức quần chúng đấu tranh, “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc”5. Nhanh nhạy nắm bắt tình hình, dự báo chính xác triển vọng phát triển để xúc tiến chuẩn bị thực lực là một nét nổi bật về tư duy lãnh đạo của Đảng thể hiện tại HNTƯ tháng 11-1939.
Đúng một năm sau, HNTƯ (11-1940) đã đưa ra nhận định: nhân dân Đông Dương đứng trước tình thế phải đấu tranh quyết liệt để sống còn. “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”6. Hội nghị chủ trương khẩn trương tập trung hết thảy mọi lực lượng thành một Mặt trận Dân tộc thống nhất để đánh đổ kẻ thù chính là Pháp - Nhật, làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng. Hội nghị quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa vũ trang do Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương sắp diễn ra, vì điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi, đồng thời, chủ trương duy trì lực lượng vũ trang và phát triển ảnh hưởng của cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn. Hội nghị thể hiện rõ sự kiên quyết, khẩn trương nhưng cẩn trọng và chắc chắn, không thụ động chờ thời, cũng không phiêu lưu mạo hiểm trong tiến hành cách mạng.
Cũng trong thời gian này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đang gấp rút trở về Tổ quốc. Tháng 6-1940, được tin quân Đức tràn vào Paris - Thủ đô Cộng hòa Pháp, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cán bộ hoạt động ở Trung Quốc phải “tìm cách trở về nước ngay để hoạt động”7. Sau đó, nhận được tin về cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, Người nhận định: “Tình hình chung trên thế giới và ở Đông - dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được”8. Trong “Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản” đề nghị giúp đỡ những điều kiện lập căn cứ địa cách mạng, Người nêu rõ trong tình hình mới, nếu mở rộng được mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức và lợi dụng được mâu thuẫn giữa các nước đề quốc trong chiến tranh, tiền đồ tươi sáng của cách mạng Đông Dương là “có thể nhìn thấy được”9. Với tầm nhìn sắc sảo về thời cuộc và tinh thần chủ động thúc đẩy thời cơ, ngay sau khi trở về Tổ quốc, ngày 28-1-1941, Người đã gấp rút chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, thí điểm tổ chức Mặt trận Việt Minh.
Tháng 5-1941, HNTƯ 8 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định: “thay đổi chiến lược cách mạng”10, quyết định xúc tiến công tác chuẩn bị khỏi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm. Đến đây, vấn đề kết hợp giữa xây dựng thực lực với thúc đẩy, đón bắt thời cơ trở thành một vấn đề mang tính chiến lược. Hội nghị dự đoán rằng: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”11. Hội nghị nhận định sớm muộn rồi phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô; cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ. Muốn cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi phải có đủ những điều kiện khách quan và chủ quan, phải có thời cơ cách mạng. Đó là: “1) Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc. 2) Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp - Nhật, mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa. 3) Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự. 4) Những điều kiện khách quan tiện lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương”12.
Đối với điều kiện chủ quan, muốn có một lực lượng toàn quốc đủ sức thực hiện và củng cố thắng lợi của cuộc khởi nghĩa thì Đảng phải: mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng khởi nghĩa; mở rộng tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền; mở rộng tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu và dân tộc thiểu số; đào luyện cho các đảng viên có một tinh thần cương quyết hy sinh; đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế; phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc.
Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, căn cứ vào tình thế biến chuyển nhanh chóng tạo điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, Hội nghị chủ trương phải phát huy tính tích cực, chủ động cách mạng, không “ngồi mà ỷ lại đâu đâu”, phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, để khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”13.
Sau HNTƯ, ngày 6-6-1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ban hành thư “Kính cáo đồng bào”. Người chỉ rõ lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt Nam, cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp hai nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng là vấn đề xây dựng thực lực và vấn đề thời cơ: “Việc lớn chưa thành... một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm. Nay cơ hội giải phóng đến rồi... Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”14. Trong tác phẩm Lịch sử nước ta, do Bộ tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh xuất bản tháng 2-1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo đồng thời là thông điệp về nhận thức thời cơ thuận lợi sẽ xuất hiện 4 năm sau: “1945 Việt Nam độc lập”15.
Thực hiện chủ trương đề ra, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tập trung lãnh đạo xây dựng thực lực, đồng thời, theo dõi nắm bắt tình hình, chớp những cơ hội dù nhỏ nhất, để gia tăng hoạt động xây dựng lực lượng, quyết định áp dụng hình thức và phương pháp đấu tranh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh gồm các đoàn thể cứu quốc từng bước được xây dựng, phát triển từ miền núi Việt Bắc xuống đồng bằng, từ Bắc vào Nam. Đồng thời, Đảng tuyên truyền, vận động, tập hợp nhiều tổ chức xã hội, nghề nghiệp, như Ái hữu, Tương tế, phường, bạn, hội hiếu hỉ... vào con đường tranh đấu chính trị. Trên cơ sở lực lượng chính trị ngày càng hùng hậu, Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ chức lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng. Cùng với xây dựng lực lượng, Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vừa nhằm mục tiêu dân sinh, dân chủ, vừa nhằm rèn luyện quần chúng hướng tới mục tiêu khởi nghĩa.
Đầu năm 1943, khi những chiến thắng của Hồng quân Liên Xô đã tạo nên một cục diện mới của cuộc Chiến tranh thế giới II, phong trào cách mạng ở Đông Dương ngày càng lớn mạnh, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (họp từ ngày 25 đến ngày 28-2-1943) đã phân tích tình hình, đề ra chủ trương khẩn trương hơn nữa trong xây dựng thực lực để đón bắt thời cơ. Hội nghị nhận định rằng: cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra có tính chất phức tạp và quyết liệt, phá hoại và tàn ác, toàn thể và toàn diện, tiêu hao và kéo dài, nhưng triển vọng là mặt trận thứ hai sẽ mở, Liên Xô và Mặt trận dân chủ sẽ thắng, “sẽ phản công Trục bên viễn Đông”16; ở trong nước xu hướng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng mạnh mẽ, “phong trào cách mạng Đông Dương có thể bỗng chốc tiến lên bằng những bước nhảy cao”17. Hội nghị chủ trương, trước tình hình đó, không thể chỉ “bàn suông về khởi nghĩa” mà “phải gấp chuẩn bị khởi nghĩa”18. Hội nghị tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết HNTƯ 8 (5-1941), chủ trương phát triển sức mạnh tự thân trong nước, thông qua mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất chống Nhật - Pháp cho có tính chất toàn dân tộc và rộng khắp hơn; đồng thời, tăng cường mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giành độc lập “gan góc” của nhân dân Việt Nam với các lực lượng chống phát xít trên toàn thế giới; hợp tác có nguyên tắc giữa Mặt trận Việt Minh với các lực lượng chống Nhật ở Đông Dương... Đặc biệt, Hội nghị quan tâm bàn sâu về vấn đề chuẩn bị thực lực với đón bắt thời cơ. Hội nghị xác định rằng, để bảo đảm thắng lợi, phải chuẩn bị đầy đủ thực lực, có một đội quân cách mạng cơ bản, đông đảo quần chúng hưởng ứng, tham gia; phải chọn đúng địa điểm và tập trung đủ lực lượng tại nơi khởi nghĩa, “khi cơ hội đến kịp thời đưa quần chúng nhân dân ra chiến đấu”19. Nghị quyết Hội nghị viết: “Cần tránh manh động... Song, một khi tình thế biến đổi thuận tiện, phải lập tức đưa quần chúng ra tranh đấu theo hình thức cao hơn... tiến tới khởi nghĩa”20.
Sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương (2-1943), nhịp độ chuẩn bị thực lực và phong trào đấu tranh diễn ra ngày càng dồn dập gắn liền với những diễn biến thuận lợi của tình hình kháng chiến chống Nhật trên thế giới và biến động của tình hình trong nước. Phong trào Việt Minh càng lớn mạnh, các hình thức, quy mô và biện pháp đấu tranh càng quyết liệt, càng đẩy chính quyền Pháp - Nhật và tay sai đến chỗ suy yếu, mở ra những cơ hội cho phong trào cứu quốc phát triển.
Từ giữa năm 1944, quân đội Liên Xô và Đồng minh cùng các lực lượng dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội trên thế giới có những thắng lợi liên tiếp trước phát xít Đức và quân phiệt Nhật; ở Đông Dương, Nhật và Pháp tuy vẫn hòa hoãn, song ngày càng xung đột nhau dữ dội. Trên cơ sở theo dõi và nắm bắt sát tình hình, nhận định “Tình thế Đông Dương ngày một có lợi cho cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc của ta”21, “Nhật, Pháp sẽ bắn nhau”22, ngày 7-5-1944, Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh ban hành “Chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa”. Đồng thời với chủ trương khẩn trương tăng cường thực lực, nhất là xây dựng và tập dượt “những đội quân cách mạng cơ bản”, Chỉ thị đặc biệt lưu ý vấn đề nắm tình hình, đón bắt thời cơ khởi nghĩa, phải tranh thủ thời cơ ngay trong quá trình chuẩn bị, tận dụng triệt để thời cơ khi phát động khởi nghĩa. Chỉ thị viết: “Nhận rõ tình hình để biết lúc nào sắp sửa trực tiếp cách mạng mà chuyển qua những hình thức tranh đấu và hình thức tổ chức cao hơn, đặng tiến tới khởi nghĩa, đó là một việc hết sức quan trọng trong thời kỳ sửa soạn khởi nghĩa này”23. Chỉ thị nhấn mạnh: “muốn cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi, không những chỉ tổ chức nghĩa quân, sắm sửa võ khí và học chiến thuật đủ, mà còn phải lựa chọn lúc nào nên nổi dậy cho dễ thắng lợi. Chọn giờ khởi nghĩa là một cái thuật... Nếu ta nhằm đúng thời cơ, phát động khởi nghĩa thì nhất định cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của chúng ta phải thắng... phải luôn luôn tỉnh táo, bắt mạch phong trào, dò xét tình hình quân địch, nhận rõ thời cuộc thế giới và tình hình mọi lúc đặng nắm lấy thời cơ tốt, kịp thời lãnh đạo quần chúng nổi dậy”24. Chỉ thị nêu rõ thời cơ khởi nghĩa thắng lợi, gồm cả nhân tố, điều kiện khách quan và chủ quan: 1) Hàng ngũ quân thù chia rẽ, hoang mang đến cực điểm; 2) Các đoàn thể cứu quốc và các chiến sĩ cách mạng đã quyết tâm nổi dậy giết giặc; 3) Đông đảo quần chúng nhân dân đã nhiệt liệt tán thành khởi nghĩa, đã quyết tâm giúp đội tiền phong.
Tiếp theo Chỉ thị, báo Cờ Giải phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của Trung ương Đảng liên tiếp đăng nhiều bài kêu gọi các chiến sĩ và các giới đồng bào tranh thủ tình hình thuận lợi, đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Báo Cờ Giải phóng, số 6 (ra ngày 28-7-1944), viết: “Thời cuộc trong ngoài hết sức có lợi cho ta. Dịp tốt ngàn năm có một đang lại. Hãy tiến gấp”, “Phải sẵn sàng đón lấy cơ hội và chuẩn bị điều kiện tóm lấy nó”. Báo Cờ Giải phóng, số 7 (ra ngày 28-9-1944), Trung ương Đảng hiệu triệu: “Chúng ta đang tiến tới tình hình khủng hoảng chính trị ở Đông dương. Phải kíp mài gươm, lắp súng để mai đây Nhật, Pháp bắn nhau, kịp nổi dậy tiêu diệt chúng, dành lại giang sơn, Tổ quốc”.
Trên phương diện chỉ đạo thực tiễn, nhận rõ, thời kỳ cách mạng phát triển hòa bình đã qua, nhưng thời kỳ khởi nghĩa toàn dân chưa đến, Trung ương Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh một mặt chỉ đạo hoãn cuộc khởi nghĩa bộ phận sắp nổ ra ở khu vực miền núi phía Bắc25, một mặt quyết định chuyển từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, nhưng chính trị vẫn trọng hơn quân sự. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - “đội chủ lực”26 được thành lập, đánh dấu sự hình thành “đội quân cách mạng cơ bản” gồm 3 loại hình mà Đảng chủ trương.
Đúng như dự đoán của Đảng, ngày 9-3-1945, quân phiệt Nhật đảo chính lật Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình thay đổi đột biến đã được tiên liệu, Trung ương Đảng lập tức đưa ra những quyết định lịch sử thể hiện trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ban hành ngày 12-3-1945. Chỉ thị khẳng định cuộc đảo chính đã tạo ra ở Đông Dương “một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc”, tuy nhiên, “Những điều kiện khởi nghĩa chưa thực chín muồi”27. Trên cơ sở phân tích khoa học tình hình đất nước sau ngày Nhật đảo chính, Chỉ thị chỉ rõ 3 cơ hội tốt giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chóng chín muối là: “a) Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách mạng). b) Nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quân cướp nước). c) Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (Đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật)”28.
Bản Chỉ thị nêu trường hợp thuận lợi cho tổng khởi nghĩa như khi quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật; dự kiến khi quân Đồng minh “bám chắc” và “tiến được” trên đất ta, quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở, lúc đó ta có thể phát động tổng khởi nghĩa, nhưng khẳng định tinh thần chủ động, dựa vào sức mình của chính: “dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”29.
Trên tinh thần đó, Trung ương Đảng quyết định đẩy đến mức cao nhất việc chuẩn bị mọi mặt, bao gồm hai phương diện tăng cường lực và phát triển thế thông qua phát động cao trào “kháng Nhật cứu nước”, “sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”30. Với tình thần khẩn trương, “phải hành động ngay, hành động cương quyết nhanh chóng, sáng tạo chủ động, táo bạo”31, Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đi vào lịch sử như một mẫu mực về bản lĩnh, nghệ thuật lãnh đạo thúc đẩy thời cơ.
Cao trào “kháng Nhật cứu nước” diễn ra sôi động, đã hoàn thành xuất sắc vai trò làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Lực lượng cách mạng lớn mạnh và được tập dượt trên mặt trận tranh đấu; khí thế cách mạng sôi sục trên cả nước, uy tín của Đảng và Mặt trận Việt Minh lên rất cao; việc hợp tác với Hoa Kỳ và các lực lượng Đồng minh chống quân phiệt Nhật đẩy mạnh...; ở chiều ngược lại, một bộ phận chính quyền cơ sở của quân phiệt Nhật và tay sai nông thôn tan rã, chính quyền thân nhật và các tổ chức chính trị phản động bị cô lập, hoang mang, phân hóa...
Giữa lúc phong trào kháng Nhật dâng cao đến đỉnh điểm thì Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh32. Tin Nhật đầu hàng truyền đến Đông Dương đã đẩy quân Nhật đang chiếm đóng ở Đông Dương vào tình thế tuyệt vọng như rắn mất đầu, hoang mang dao động đến cực độ; không còn ý định can thiệp vào Việt Nam; đồng thời, ngọn lửa yêu nước và cách mạng dâng cao trong các tầng lớp nhân dân. Các tầng lớp trung gian ngả hẳn về phía cách mạng. Binh lính, cảnh sát người Việt trong chính quyền thân Nhật và số đông công chức chánh tổng, lý trưởng... trong chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim ủng hộ Việt Minh giành độc lập. “Cả Đông Dương như một cánh đồng cỏ khô, tàn lửa cách mạng động rơi vào đâu cũng có thể bốc cháy”33. Những điều kiện thuận lợi do chủ quan thúc đẩy và do khách quan mang lại đã hội tụ thành thời cơ cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, như tiên đoán của Đảng, thời cơ đã chín muồi.
Tuy nhiên, trước ngưỡng cửa của tổng khởi nghĩa, cách mạng Việt Nam phải đối diện với những khó khăn, thách thức không nhỏ, đứng trước tình thế phải một mình đối phó với nhiều lực lượng quân sự nước ngoài được pháp lý quốc tế thừa nhận, lăm le tràn vào nước ta; đặc biệt là việc thực dân Pháp đang ráo riết thực hiện kế hoạch quay trở lại Đông Dương. Đúng thời khắc lịch sử đó, với tinh thần tích cực, chủ động, khẩn trương, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh chớp thời cơ ngàn năm có một, lập tức phát động Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc vào ngày 13-8-1945 và đề ra ba nguyên tắc bảo đảm thắng lợi: Tập trung - tập trung lực lượng vào những việc chính; Thống nhất - thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy; Kịp thời - kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội.
Với phương châm “phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!”34, cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập tự do diễn ra vừa mang tính chất đồng loạt vừa mang tính chất dây chuyền trong vòng 2 tuần lễ và thắng lợi vẻ vang. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền, thống nhất xuất hiện rạng rỡ trên trường quốc tế.
Hiện thực lịch sử vận động Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, một trong những vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công là nghệ thuật lãnh đạo của Đảng về kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng thực lực với thúc đẩy và đón bắt thời cơ. Trong đó, xây dựng, sử dụng thực lực luôn gắn với thời cơ, là nhân tố thúc đẩy đồng thời là nhân tố quyết định nhất để đón bắt và chuyển hóa những cơ hội thành thắng lợi.
2. Bài học vận dụng trong công cuộc đổi mới
Gần 80 năm sau “cuộc cách mạng trời long đất lở” vào mùa Thu cách mạng năm 1945, dân tộc Việt Nam đang tiến những bước dài trên hành trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, “đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”35; đồng thời, đối diện với không ít khó khăn. Để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện thành công các nhiệm vụ, mục tiêu mà Đại hội XIII (2021) của Đảng đề ra, cần phát huy bài học thành công về kết hợp giữa xây dựng thực lực và thúc đẩy, đón bắt thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thứ nhất, vận dụng và phát triển bài học kết hợp xây dựng thực lực với thúc đẩy và đón bắt thời cơ, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ.
Thực lực cách mạng là sức mạnh vật chất và tinh thần hình thành từ sự vận động tự thân kết hợp với sức mạnh bên ngoài được chuyển hóa tạo nên thế và lực có thể huy động. Thời cơ cách mạng là thời điểm những thuận lợi bên trong và những thuận lợi bên ngoài đồng thời xuất hiện tại một không gian nhất định. Trong lãnh đạo cuộc vận động Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa xây dựng thực lực với thúc đẩy, đón bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ đưa cách mạng đến thắng lợi. Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh xác định rằng: thời cơ đóng vai trò rất quan trọng trong thắng lợi, song, việc xây dựng thực lực cách mạng mới là nhân tố quyết định: “Hoàn cảnh trong ngoài hết sức thuận tiện. Nhưng thắng lợi của cách mạng không phải tự nó đến. Đảng phải lãnh đạo quần chúng nhân dân giành lấy nó”36. Trong bối cảnh nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á bỏ lỡ cơ hội giành độc lập, thì nổi bật lên thành công của Việt Nam trong xây dựng và huy động đến mức cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, đón thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công.
Trong bối cảnh hiện nay, để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển nhanh và bền vững, cần phải tập trung xây dựng và phát huy mọi nguồn lực vật chất, tinh thần, trong nước, quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy và đón bắt thời cơ phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ. Trong xây dựng thực lực, xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đóng vai trò rất quan trọng. Đồng thời, phát huy bài học “chọn đúng khâu chính” trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tập trung xây dựng hệ sinh thái phát triển, tích cực thực hiện 3 đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) là: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; nguồn nhân lực; và kết cấu hạ tầng.
Điều kiện mấu chốt trong xây dựng thực lực, thúc đẩy và đón bắt thời cơ, ngăn chặn nguy cơ, đẩy lùi trở lực là đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng, theo tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Đảng phải được xây dựng vững mạnh, “đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”37.
Thứ hai, luôn theo dõi, bám sát và phân tích chính xác, kịp thời tình hình, xu thế vận động của thế giới, tránh bị động, chờ thời, bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Bài học thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho thấy, trong từng giai đoạn, từng quyết sách, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn xem xét cẩn trọng “phong triều thế giới” để xây dựng và triển khai thực hiện thành công, đưa cách mạng đến thắng lợi.
Tình hình và xu thế vận động của thế giới hiện nay và trong thời gian tới sẽ tiếp tục thay đổi phức tạp, sâu sắc, nhanh chóng và khó lường. Với vị thế quốc tế lên cao, đã hội nhập sâu rộng với thế giới, tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu,... tình hình trên vừa có những cơ hội lớn cho Việt Nam trong đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH, trong thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, phát triển khoa học công nghệ, thực hiện chuyển đổi số,... đồng thời, chứa đựng những khó khăn và nguy cơ không nhỏ đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Bên cạnh đó, các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông vẫn hiện hữu...
Do đó, cần phải thường xuyên và tăng cường năng lực nhận biết, nắm bắt tình hình, năng lực phân tích, dự báo chiến lược một cách toàn diện, nhanh nhạy, kịp thời tình hình và xu thế vận động của thế giới để tránh bị động trong hoạch định đường lối, chính sách và trong chỉ đạo thực tiễn. Thực tế lịch sử cho thấy, sự vận động của thế giới luôn có hai mặt thuận lợi và khó khăn, luôn chứa đựng hai chiều tác động, cả cơ hội và nguy cơ đối cách mạng Việt Nam. Do đó, việc đánh giá, phân tích tình hình, phát hiện cơ hội, nhận thức rõ nguy cơ, phục vụ việc xây dựng chủ trương, chính sách có ý nghĩa rất quan trọng.
Thứ ba, đánh giá đúng các nguồn lực, tiềm năng phát triển và thực tiễn đất nước, của từng địa phương để hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối phát triển phù hợp, tránh nóng vội.
Một trong những thành công về lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Đảng nhận thức rõ phong trào cách mạng trong từng giai đoạn, trên cả nước, trong từng khu vực là không đồng đều, từ đó, luôn nắm sát tình hình phong trào cách mạng trên cả nước, trong từng địa bàn, để có những lãnh đạo, chỉ đạo sát hợp, đưa cách mạng tiến lên.
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực, uy tín quốc tế như hiện nay. Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội để phát triển, triển vọng rất xán lạn. Tuy nhiên, 4 nguy cơ mà Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng đã chỉ ra vẫn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn. Nền kinh tế đất nước vẫn còn những hạn chế, bất cập và tiềm ẩn nhiều rủi ro, sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền, các địa phương chưa đồng đều; các yếu tố nền tảng để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn thấp xa so với yêu cầu, không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tiếp tục chống phá công cuộc đổi mới đất nước, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng bằng nhiều phương thức, thủ đoạn...
Do đó, cần phát hiện chính xác điểm mạnh, điểm bất cập của tình hình kinh tế - xã hội đất nước, cũng như thế mạnh và hạn chế của từng địa phương để từ đó có sự nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo tổng thể và cụ thể, vừa hài hòa và phát huy được vị trí, thế mạnh và vai trò của từng địa bàn. Hiện nay, Việt Nam đang triển khai thực hiện sáu nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành năm 2022 về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 204538. Thực hiện thành công các nghị quyết trên sẽ khai thác và phát huy tốt nhất các lợi thế của mỗi vùng, tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng, liên kết cả nước tạo không gian phát triển mới. Đại hội XIII của Đảng cũng xác định những lộ trình phát triển cụ thể của đất nước trong tầm nhìn đến thời điểm kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây chính là sự tiếp nối và phát triển tư duy nhận thức, lãnh đạo toàn cục, toàn diện, toàn thể của Đảng trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi gần 80 năm về trước.
Thứ tư, kiên định mục tiêu tổng thể, lâu dài, đồng thời linh hoạt các mục tiêu cụ thể, ngắn hạn, lấy đó làm cơ sở nhìn nhận, phân định rõ cơ hội và nguy cơ, để kịp thời nắm bắt hoặc ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ trong từng chính sách, tùng chỉ đạo cụ thể.
Thực tế lịch sử cho thấy, thời cơ và nguy cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mang tính chất tương đối, có sự chuyển hóa, gắn với mục tiêu cách mạng đề ra. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không tách rời và không đi lệch khỏi mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, song tập trung vào mục tiêu cụ thể, trước mắt là độc lập dân tộc. Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh căn cứ vào mục tiêu đó mà nhìn nhận, đánh giá, phân định, đón bắt thời cơ, phòng tránh và đẩy lùi nguy cơ.
Tiếp tục con đường Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra, trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và nhân dân Việt Nam kiên định độc lập dân tộc và CNXH. Trên hành trình hướng tới mục tiêu cao cả đó, Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát trong tầm nhìn dài hạn, theo đó, “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”39; đồng thời, xác định các mục tiêu cụ thể, đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Việc xác định mục tiêu tổng thể, mục tiêu cụ thể như trên cho phép sự linh hoạt, uyển chuyển trong huy động các nguồn lực phát triển, xác định, dự báo đón bắt thời cơ, ngăn chặn nguy cơ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 8/2024
1. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sử dụng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh. Trong bài viết này, tác giả sử dụng là “lãnh tụ Hồ Chí Minh”
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 1, tr. 40
3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 6, tr. 756, 537, 552
6, 10, 11, 12, 13, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 23, 24, 26, 27, 28, 29, 30, 34, 37. Sđd, T. 7, tr. 58, 118, 100, 129-130, 131-132, 279, 290, 297, 298, 299, 299, 498, 498, 356, 365, 366, 373, 367, 422, 136
7, 8. Võ Nguyên Giáp: “Từ Pác Bó đến Tân Trào”, in trong: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H, 1975, tr. 46, 47
9, 14, 15. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 3, tr. 204, 230, 267
22. “Phải tiến gấp”, Cờ giải phóng , số 6, ngày 28-7-1944
25. Tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo hoãn việc phát động chiến tranh du kích quy mô (thực chất là khởi nghĩa bộ phận) do Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chủ trương vào cuối năm 1944, vì chưa hội đủ những điều kiện bảo đảm thắng lợi, chỉ căn cứ vào khu vực, chưa căn cứ vào tình hình toàn quốc.
31. Trường Chinh: “Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2-1992
32. Ngày 14-8-1945, Chính phủ Nhật chấp nhận đầu hàng quân Đồng Minh. Trưa 15-8-1945, Đài phát thanh Tokyo phát Tuyên bố của Nhật hoàng về “chấp nhận yêu cầu của các cường quốc”
33. Báo Cờ Giải phóng, số 6, ngày 28-7-1945
35, 39. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 20, 112
36. Báo Cờ Giải phóng, số 15, ngày 17-7-1945
38. Gồm: vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng.